Thứ Tư, 9 tháng 9, 2009

Quãng Nam hay cãi,


                              Nói thiệt là, METRO của nhà thơ Thanh Thảo là 1 tác phẩm có giá trị. Xét trên nhiều phương diện. Những lời tâm huyết và thẳng thắn của nhà thơ về vấn đề thời sự văn học nghệ thuật, càng có giá trị hơn. Đánh đổ 1 cái tên thì dễ, nhưng đánh đổ 1 nhân cách là không thể. Tôi tin ở tấm lòng Thanh Thảo.
           Sao chưa thấy nhà thơ tuổi 30 nào nhận lời thách đấu của nhà thơ Thanh Thảo nhỉ? Những cây bút trẻ mà ông Inrasara và ông Nguyễn Trọng Tạo suốt ngày khen sùi bọt mép, đâu hết rồi?
            Tôi đã đọc trường ca Metro của ông Thanh Thảo, chẳng ra cái quái gì, nó vẫn như thơ Thanh Thảo xưa nay thôi. Đây là tác giả tên to hơn tài thực. Một loạt trường ca của Thanh Thảo chỉ được lác đác vài câu hay thôi, chứ chẳng có tác phẩm nào toàn bích. Ông Thảo nổi tiếng là nhờ sự đề cao của Chế Lan Viên trong chùm thơ hơn chục bài viết ở đường Chín năm 1974 in trong tạp chí Tác Phẩm Mới. Nhưng nhìn lại đời thơ Thanh Thảo thấy mỏng teo. Bây giờ ông lại thách đấu bằng một trường ca, mà thực sự là một mớ hổ lốn. Cái tác phẩm gọi là Trường ca này không hay, nhưng bảo nó thua Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái thì cũng không ổn. Thơ ông Thảo hay hơn thơ ông Thiều, còn ông Thái thì đã biết làm thơ đâu. Văn đàn mình bây giờ chán thật, thi sĩ ế ẩm đành phải lên đài gạ đấu võ. Bẽ bàng quá xá. Mà có thách đấu thế cũng chẳng ai thèm đếm xỉa. Đấy mới là điều buồn chán nhất của văn chương Việt. Chú Nhơn cố gắng đăng ý kiến tôi nhé. Tôi là bạn Chế Lan Viên, từng có thơ in từ năm 1956 và đã có thời bị nghi là nhân văn giai phẩm. Thời nào cũng có cái buồn. Chán thật.
             Trên đây là một số ý kiến trong blog của tác giả Lê Thiếu Nhơn (http://lethieunhon.com/read.php/3859.htm#entrymore)
           Nhân đọc:  Nhà thơ 63 tuổi thách đấu nhà thơ 36 tuổi viết được như Metro, và những tranh cải xung quanh sự việc nầy, bất giác nhớ lại câu thành ngử dân gian, (câu vè):
                                 Quảng Nam hay cãi,
                                 Quảng Ngãi hay co
                                  Bình Định hay lo
                                 Thừa Thiên ních (lấy) hết!
               Vì có một số thân hửu người Bình Định, nên tôi cố tìm hiểu kỹ hơn và bất ngờ tìm được câu chuyện nầy:
Ngày xuân nghĩ về quê hương

                Cách đây ít lâu, một chị bạn kể chuyện cô con gái của chị về thăm Việt Nam. Cháu qua Mỹ hồi còn bé, lớn lên, học hành, trưởng thành trong khung cảnh mới nơi xứ người, kỷ niệm về quê hương chỉ là những mảng nhớ mơ hồ. Cháu về thăm quê hương một tháng, trở về Mỹ ngẩn ngơ như người mất hồn suốt hai ba tháng. Cháu cứ hỏi tại sao đồng bào mình sống khổ đến như thế, và ngẩn ngơ tuyệt vọng vì biết chắc còn lâu, lâu lắm, những người thân ở Việt Nam mới thoát được căn bệnh khổ nghèo triền miên kéo dài hằng thế kỷ qua.

                 Tuy chưa có nhiều kinh nghiệm đời, cháu cũng nhận ra được thực tế căn bản của đời sống nơi quê nhà: những trù phú sang trọng giả tạo và bấp bênh ở thành thị, những thiếu thốn cơ cực không lối thoát ở nông thôn, sự bất công lộ liễu trong xã hội, chênh lệch khủng khiếp giữa người giàu và người nghèo, ...

              Thu hẹp thực trạng quê hương vào một vùng nhỏ, như Qui Nhơn-Bình Ðịnh, càng có nhiều chuyện đáng buồn hơn. Qui Nhơn như một thành phố chết. Hàng quán ế ẩm. Phố xá buồn hiu. Những người trẻ bỏ thành phố tìm đất sống nơi khác, lên cao nguyên hay là xuôi nam, bỏ thành phố thân yêu lại cho người già và những viên chức chính quyền. Người dân vẫn sống vất vả bằng hoa lợi trên đám ruộng đám vườn của mình như bao nhiêu thế hệ đã qua, ngoài những thiên tai hằng năm còn phải chịu đựng thêm cái nạn "giặc ban ngày".

               Tôi buồn ray rứt khi nghe những chuyện không vui về quê hương mình. Rồi tự hỏi: Vì sao lịch sử thăng trầm biến đổi không biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu chế độ, mà quê hương tôi cứ như một đứa con ngoại hôn của đất nước, hết đời này đến đời khác tiếp tục ở thế yếu về chính trị, đến nỗi câu ca dao "Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Ðịnh hay lo, Thừa Thiên ních hết" trở thành một điều hiển nhiên không có gì phải bàn cãi nữa? Tại sao nhân dáng, phong cách của người Bình Ðịnh luôn luôn có những nét hao hao giống nhau, không giống với người Quảng phía bắc và người Khánh Hòa phía nam?

               Tôi không tin những giải thích theo lối phong thủy, căn cứ vào thế sông thế núi để quyết đoán quê hương mình là nơi đắc địa, rồng ẩn hổ ngồi, không trước thì sau thế nào cũng xuất hiện "nhân kiệt". Những lập luận như vậy thoả mãn tự ái của địa phương, trong những lần họp hành chỉ có đồng hương với nhau thì nói để hả hê lòng dạ nhau, chứ đem ra ngoài ranh giới địa phương, không thuyết phục được ai. Người ở địa phương nào cũng giành phần "địa linh" về quê hương mình. Giành xong "địa linh", người địa phương nào cũng lục lọi hết sử sách để tìm cho ra những tai to mặt lớn từng sinh ra, lớn lên, hoặc do công vụ ghé qua chốn địa linh ấy, hào phóng thu nhận hết vào danh sách "nhân kiệt". Kết quả nơi nào cũng là địa linh. Nơi nào cũng đầy nhân kiệt mà ít ai đặt ngược câu hỏi: "Sao nhân kiệt địa linh nhiều quá mà nước vẫn nghèo, dân vẫn khổ?"

               Tôi không tin một đấng thiêng liêng tối cao nào đó định sẵn chỗ này là đất lành, chỗ kia là đất dữ, người vùng này gặp may, người vùng kia phải gánh hoạn nạn. Trên đất nước Việt Nam chúng ta, tính cách địa phương (như hình dáng, khuôn mặt, tiếng nói, tính tình...) từ vùng này sang vùng khác hiện ra rất rõ. Rõ đến nỗi có thể vạch bản đồ cá tính con người như là vạch bản đồ địa lý. 
              Chẳng hạn cái tính hiếu động, thích tranh luận của người Quảng (Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co) là nguyên nhân phát sinh đa số những nhà hoạt động chính trị văn hóa nổi tiếng gốc Quảng, từ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cho đến Phan Khôi, Nhất Linh, Hoàng Ðạo. Người Quảng ưa lý luận, dùng lý luận tranh cãi để thủ thắng. Người thành công trở thành những danh nhân chính trị. Người thất bại, thì thành nhà thơ. Những nhà thơ gốc Quảng, trong bản chất, là những người toan làm chính trị mà thất bại. Cho nên nhà thơ Quảng nào cũng có dáng dấp của Ðặng Dung. Bài thơ nào cũng phảng phất hình ảnh tráng sĩ mài kiếm chờ thời.

                 Người Quảng Nam, Quảng Ngãi có thể hãnh diện địa phương mình có nhiều nhân kiệt, và có bị người vùng khác ghen tị chất vấn, họ cũng trả lời dễ dàng. Họ không có mặc cảm gì khi bị gán cho những động từ như "cãi", "co", vì cả hai động từ ấy đều là biểu hiện của một sức sống chủ động, tự tín, lướt tới chiếm lĩnh hay ít ra cũng mạnh mẽ phản ứng để giữ đất của mình.

                Người Bình Ðịnh không có cái ưu thế nổi bật như bạn láng giềng xứ Quảng. Ca dao chê "Bình Ðịnh hay lo". Có nhiều cách giải thích về chữ "lo" này. Cách thứ nhất giải nghĩa "lo" là "lo âu", "lo lắng", "lo sợ", nói chung là trạng thái phấp phỏng trước một tương lai bất trắc, lành ít dữ nhiều, trong lúc khả năng tự vệ trước những hiểm nguy tai ương có thể bất ngờ ập đến thì không được bao nhiêu. Cách thứ hai căn cứ vào vế cuối "Thừa Thiên ních hết" của câu ca dao giải thích "lo" là "lo lót", dùng của hối lộ các quan (phần lớn là người kinh đô Huế được bổ nhậm vào) để được sống yên thân. Bằng cách giải thích nào chăng nữa, thân phận, hoàn cảnh của người Bình Ðịnh trong câu ca dao cũng không có gì sáng sủa. Trong khi người Quảng mạnh dạn tranh cãi, đôi co để giành phần thắng, người Bình Ðịnh chỉ biết thụ động ngồi chờ số phận hẩm hiu của mình, hoặc phải bỏ tiền của ra biếu xén hối lộ quan trên để được yên thân. Ðịa phương tính của Bình Ðịnh, nếu có một thứ địa phương tính, là sự nhẫn nhục chịu đựng của kẻ thất thế, là thói quen thu mình co cụm lại để thường xuyên phòng vệ, trước các thế lực lớn mạnh hơn mình.

        Người Bình Ðịnh "hay lo" từ lúc nào vậy?


                Dĩ nhiên không thể từ thời miền đất này còn mang tên phủ Tuy Viễn với dân số không đầy hai trăm ngàn người gồm một phần không nhỏ dân Chàm, người Thượng và người Việt (mà tổ tiên vốn là dân Nghệ An Thanh Hoá bị lưu đày vào miền đất heo hút này). Lúc đó, dân Tuy Viễn ngửng đầu lên mà đi, thách thức với thú dữ, rừng thiêng nước độc, thách thức với cường quyền. Nhờ thế mới có Tây Sơn. Nhờ thế mới có anh hùng Nguyễn Huệ cho cả nước chiêm ngưỡng cho đến ngày nay. Dân Tây Sơn, dân Tuy Viễn không lo lót cho ai để yên thân, và cũng không chịu ngồi bó tay để hồi hộp đón lấy tai họa.

                Phải chờ cho tới lúc Tuy Viễn đổi thành Bình Ðịnh, nghĩa là triều Tây Sơn đã đổ và nhà Nguyễn Gia Miêu lấy lại được giang sơn, bấy giờ dân Bình Ðịnh mới trở thành "ngụy dân", gia đình nào cũng có bà con thân thuộc dính dáng tới "ngụy triều", và bắt đầu hình thành một thứ nhân cách thụ động như ca dao đã nói. Là ngụy dân, tức là không được hưởng cái quyền làm dân bình thường. Muốn sống bình thường, phải che chắn để khỏi có lý lịch xấu theo tiêu chuẩn của tân triều. Phải thu mình lại, không dám khoe tài khoe của, tránh sự chú ý giòm ngó của quan trên, tránh gây óc đố kỵ ganh ghét của hàng xóm láng giềng. 
           Thái độ sống ấy là sự khôn ngoan của người nín thở qua sông. Khổ nỗi triều Nguyễn từ Vua Gia Long trở đi ngày càng trở thành thế lực cai trị chính thống, dân Tuy Viễn không có hy vọng gì lật ngược thế cờ, nên cách ứng xử khôn ngoan tưởng là nhất thời, cuối cùng trở thành một thói quen, rồi thành truyền thống, đời nọ chuyển cho đời kia. Khi những cuốn gia phả còn phải bỏ trống nhiều chi nhánh dính tới "ngụy Tây", hay con cháu nhiều đời sau còn thì thào sợ hãi khi nhắc tới tên một người lớp trước loại "bạn nghịch", thì dân Bình Ðịnh khó lòng dám mạnh miệng "co cãi" như dân Quảng. Họ luôn luôn ở thế thủ. 
             Như ngôn ngữ Bình Ðịnh, họ đều "thàng". "Thàng" không phải là hiền. "Thàng" là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc. Cho nên các quan lại đến cai trị dân Bình Ðịnh, nếu khôn ngoan, cũng phải luôn luôn ở thế phòng thủ. Vì dân Bình Ðịnh "hay lo" nhưng lại không thể quên cái thời bà con mình ngửng cao đầu mà đi, cái thời xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên. 
 Do đó, "lo" xong lại hay kiện tụng, khiến các sử quan nhà Nguyễn khi viết về tính khí dân Bình Ðịnh phải bực bội hạ bút viết những lời ác cảm.

           Mang bản lý lịch "ngụy dân" hàng thế kỷ, người Bình Ðịnh đã mất cơ hội thăng tiến trong chính trường đã đành, mà cả trong giáo dục, kinh tế. Cuộc sống không thể cất đầu lên khỏi cái "thường thường bậc trung", và cách ứng xử không ra ngoài chữ "thàng". Trong cuộc cạnh tranh để sinh tồn, cách ứng xử ấy gây ra nhiều bất lợi, cho nên thời nào, dưới chế độ nào, dân Bình Ðịnh cũng ở thế yếu về chính trị. Thời Pháp thuộc, miền Trung trực thuộc Nam triều, dân "ngụy" yếu đã đành. Chín năm kháng chiến thuộc liên khu V, vẫn yếu trước dân Quảng mạnh dạn không ngán co cãi. Thời Việt Nam Cộng hoà, dân Bình Ðịnh trở lại bị lý lịch xấu do chín năm kháng chiến, phải "lo" trước các cấp điều khiển từ Bắc di cư vào, từ Huế gửi vô.
             Sau 1975, Bình Ðịnh sát nhập với Quảng Ngãi để thành tỉnh Nghĩa Bình, để một lần nữa Bình bị Ngãi ăn hiếp. Bây giờ Nghĩa Bình tách đôi, Ngãi về Ngãi, Bình về Bình, tài nguyên giàu có thì Bình giữ được, nhưng cái thế chính trị thì Ngãi mang đi. Quảng Ngãi mạnh thế đến nỗi buộc các nhà đầu tư ngoại quốc phải bỏ tiền lập nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, một bãi cát trắng trơ trọi dưới nắng lửa, trong khi Qui Nhơn có bến tàu, có đường 19 mang hàng lên cao nguyên, có quốc lộ 1 thông thương nam bắc mà phải trở thành "phố cũ đìu hiu".

           Ðã dến lúc dân Bình Ðịnh cần phải cầm gương nhìn cho rõ mình, rõ cá tính địa phương của mình, xem chỗ nào tốt cần phát huy, chỗ nào xấu cần sửa chữa. Nhắc hoài đến "địa linh, nhân kiệt" không phải là thứ thuốc an thần hữu hiệu. Mà quê hương chúng ta cũng không cần những thuốc an thần, dù hữu hiệu hay giả mạo.



Nguyễn Mộng Giác
Bài sưu tầm.

HỌC BẠ CỦA GIÊSU

Cậu Giêsu, học sinh trường Nazaret, đem học bạ về nhà. Thật tình mà nói, kết quả không mấy tốt. Mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại. Nhưng điều gay do nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho ông Giu-se.
Người gửi: Trường Simêôn tại Nazaret
Ngưòi nhận: Ông Bà Giuse và Maria David
Nội dung: Học bạ của Giêsu
Toán học: Hầu như chẳng làm được bài toán nào, ngoại trừ nhân bánh và cá lên nhiều lần. Không biết làm toán cộng: cậu khẳng định rằng mình cộng với Cha thành một.
Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút viết đến lớp, đành phải viết trên cát.
Địa Lý: Không có khái niệm về phương hướng. Cậu khẳng định rằng chỉ có mỗi một con đường để về nhà Cha thôi.
Hóa Học: Không chịu làm các bài tập thí nghiệm gì cả, nhưng có lần Cậu đã làm cho nước hóa ra rượu nho khiến người ta cự nự nhau trong đám cưới.
Thể Dục: Thay vì học bơi như mọi người, lại ngang nhiên biểu diễn đi trên nước.
Văn Học: Khó có thể nói năng rõ ràng, nói gì cũng bằng dụ ngôn.
Vấn Đáp: Mới 12 tuổi mà Cậu đã đối đáp với các luật sĩ và kinh sư trong đền thờ khiến họ hết sức ngạc nhiên.
Kỷ Luật: Đã đánh mất mọi thứ đồ đạc, rồi tuyên bố xoành xoạch rằng mình chẳng có được một viên đá gối đầu!
Hạnh Kiểm: Có khuynh hướng thích giao du trò chuyện với kẻ lạ, bọn nghèo, hạ cấp và cánh phụ nữ trắc nết.
Vệ Sinh: Nhổ xuống đất hòa thành bùn rồi bôi lên mắt người ta tức thì họ được sáng mắt.
Sinh Vật: Dám quả quyết người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.
Thiên Văn: Là người duy nhất đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống.
Kinh Doanh: Những người được mướn từ sáng sớm cậu trả cho họ một quan tiền, và những người cậu mướn vào xế chiều cậu cũng trả một quan tiền. Chưa hết, bà góa bỏ một xu vào nhà thờ, cậu nói bà ta bỏ nhiều nhất.
Tâm Lý: Cậu nói đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.
Lịch Sử: Cậu sẽ xây Hội Thánh của Cậu, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi vì Cậu đã thắng thế gian.
Đọc xong học bạ, ông Giu-se tự nhủ rằng tình trạng này không được kéo dài thêm, mà cần phải có biện pháp cứng rắn: “Này, Giêsu, đã như vậy thì kỳ Phục Sinh này con đành phải vác thánh giá thôi!”

*************************************
Vậy Ngài đã bảo gì với Cha mình ?
Ối trời, Cha Giuse ơi, ngày xưa, con học hành khá hơn nhiều đó chứ! Thế mà giờ lũ trẻ cứ phiên phiến ra như thế! Con chỉ còn một viên đá gối đầu thật, nhưng đâu phải là con vứt đi các vật dụng, mà là con cho nhà hàng xóm đó chứ.
Khi Mẹ Maria may cho con áo mới mặc vào mùa xuân. Con thích lắm, nhưng sáng nay, con đi dạo chơi quanh làng, thấy cậu bé ở cuối xóm, mặc bộ quần áo rách bươm, con nghĩ đồ đạc của con còn nhiều, tốt hơn của bạn ấy, thế nên, về nhà, con gói ghém và tặng bạn ấy. Lần trước, đôi dép mới Cha cho con cũng thế. Cha thường dạy, chia sẻ như thế là rất tốt phải không Cha?
Con không bao giờ phân biệt kẻ nghèo, người giàu. Con thích giao tiếp với những người bị khinh bỉ, bỏ rơi.
Nhiều người nghĩ con là người điên, nhưng cha biết con rất tỉnh táo, phải không cha? Và cha vui vì điều đó. Cha luôn dạy con phải biết yêu thương mà.
Bây giờ con buồn ngủ rồi, chúc Cha ngủ ngon. Ngày mai, con sẽ nói tiếp cho các bạn ấy hiểu, con đã học hành như thế nào, cha nhỉ!

Mong rằng học bạ của mỗi người chúng ta, có những phần như vậy.

Sưu tầm

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

Những phẩm chất của nhà lãnh đạo



- Khả năng gây ảnh hưởng đến người khác.
- Khả năng khơi dậy sự tự tin.


- Tính kiên định
- Tính đáng tin cậy.
- Lòng chính trực.
- Một quá trình phấn đấu và thành công.
- Công bằng.
- Biết lắng nghe.
- Nhất quán.
- Quan tâm chân thành đến người khác.
- Bộc lộ sự tin tưởng vào tập thể.
- Đánh giá công trạng đúng người.
- Sát cánh bên tập thể.
- Cung cấp thông tin kịp thời cho tập thể.
Hầu hết những phẩm chất trên đều có thể học được hay rèn luyện được, ngoại trừ tính kiên định và quan tâm đến người xung quanh một cách chân thành.
Hai phẩm chất này là điều kiện tiên quyết của một nhà lãnh đạo.
Bạn ắt sẽ ngạc nhiên khi biết rằng một số phẩm chất khác như tính đáng tin cậy và tính chính trực có thể học được. Có lẽ bạn sẽ không tin điều này. Hơn nữa là ít có trường lớp nào dạy chúng ta "tính công bằng" và "tính nhất quán". Những phẩm chất này được xem như là tính cách của mỗi người, chẳng hạn như bạn được xem là người đáng tin cậy hoặc không đáng tin cậy.
Tuy nhiên chúng ta cần xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác. Thông thường, chỉ đến lúc ở vào một tình huống nào đó thì những phẩm chất trên mới bộc lộ ra. Rất nhiều người vẫn tỏ ra không tin rằng những "phẩm chất cá nhân" này có thể học được, hoặc rèn luyện được.
Học như thế nào?
A - Sự tin cậy Người đáng tin cậy là người mà người khác có thể tin tưởng được.
Họ là người mà lời nói và việc làm lúc nào cũng đi đôi với nhau. Một người lãnh đạo đáng tin cậy sẽ giữ đúng lời khi hứa khen thưởng cho tập thể, luôn ở cạnh nhân viên khi nhân viên cần.
Một người trở nên đáng tin cậy khi họ biết người khác kỳ vọng điều đó ở họ.
B - Chính trực: là sự trung thực và ngay thẳng, đó còn là sự tôn trọng những quy tắc đạo đức. Một người lãnh đạo chính trực là người không gian lận và luôn đi theo lý tưởng của họ. Nếu phải chọn ra một phẩm chất của người lãnh đạo mà mọi người quý trọng thì đó chính là tính chính trực.
Để được tập thể quý trọng, bạn cần phải trung thực với họ và cho họ thấy rằng bạn luôn quan tâm đến lý tưởng nào đó.
C - Công bằng: Để cư xử công bằng, bạn cần phải công tâm và không thiên vị trong cách cư xử với người khác.
Sự bất công luôn là nguyên nhân dẫn đến sự bất bình trong nội bộ. Khó mà có thể công vằng trong việc cư xử với tất cả mọi người.
Ít ai trong chúng ta lúc nào cũng công bằng. Điều mà người khác có thể mong đợi là bạn sẽ cố gắng để cư xử một cách công bằng nhất.
D - Tính nhất quán: Ở một khía cạnh nào đó, tính nhất quán rất gần với tính chính trực. Điều này có nghĩa là không dao động, không thay đổi, giữ vững lập trường của bạn trước mọi hoàn cảnh.
Ở góc độ quản lý, tính nhất quán liên quan chặt chẽ với việc ra quyết định. Một người có khuynh hướng hay dao động trước những quan điểm và ý kiến khác nhau thì khó có thể học cách trở nên nhất quán được.
Ra quyết định là quá trình:
1. Xác định vấn đề.
2. Thu thập thông tin.
3. Đưa ra các giải pháp.
4. Chọn giải pháp tối ưu.
5. Thực thi quyết định
6. Đánh giá kết quả.
Những người không nhất quán thường tỏ ra lúng túng ở bước 4 và 5. Thông thường là do họ đã không dành đủ thời gian và nỗ lực cho bước 1 và 2.
Để có thể nhất quán khi ra quyết định, bạn cần phải nắm thật rõ vấn đề, thu thập thông tin và ý kiến trước khi ra quyết định.
Nói tóm lại, chúng ta đã xác định được một số phẩm chất của một người lãnh đạo, và chỉ ra được rằng chúng ta có thể học hoặc rèn luyện được tất cả hay gần như tất cả những phẩm chất này.
(Dựa theo Business Edge)

TÂM HUYẾT VÀ DŨNG KHÍ


Chẳng vui gì khi nói lời tâm huyết mà phải đủ dũng khí – nói điều vì lẽ phải mà phải đắn đo, đó là một thứ tư duy nghèo nàn! Và, nghe lời vì lẽ phải ấy lại nóng đầu, lại nghĩ rằng mình bị xỏ xiên... đó là một thứ thói thường rất... tầm thươ ng! Nói lời tâm huyết không cần bản lĩnh, miễn thấy sao, nghĩ sao nói vậy một cách trung thực, còn nghe lời tâm huyết thì cần bản lĩnh. Và cái bản lĩnh đầu tiên: không độc đoán, không tự cho mình là cách mạng mà chẳng chia sẻ cho người khác lòng yêu chế độ, yêu nước, không đồng hóa chân lý với cương vị mà mình đang giữ.Mong tài nguyên quốc gia không bị phí phạm...
 Trích câu nói của : quên mât rôi

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2009

PHÓ THỦ TƯỚNG LỠ MIỆNG


          Là lỡ miệng nói… dối, chứ không phải lỡ miệng nói thật như ông Trần Đình Đàn  (Bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội).

          Thật tình, tôi không dám tin những lời nói đó là của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Hai ngày qua, tôi đã cố ngóng chờ một lời cải chính từ báo chí rằng đó là do các tòa báo dẫn sai lời ông. Hoặc một câu “nói lại” từ chính Phó Thủ tướng rằng đó chỉ là do cách diễn đạt của ông nó luẩn quẩn, rối rắm khiến người nghe hiểu sai, hay chỉ bởi ông lỡ miệng nói sai mà thôi.
          Và rồi tôi thất vọng. Thất vọng khi hiểu ra báo chí dẫn đúng lời ông, không sai một dấu phẩy.
          Hãy nghe lại lời Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: “Cho đến lúc này, dư luận trong nước cũng như trên thế giới, kể cả những người khó tính, còn ai nói đến vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên nữa. Điều đó cho thấy, khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”. (theo VietNamnet)
          Có thể, Phó Thủ tướng không nghe thấy ai nói thật. Hoặc có nghe nhưng ông lỡ miệng… nói dối!
          Tôi không tin Phó Thủ tướng lại nói dối, nhưng tôi cũng không tin ông lại không biết, không nghe được những ý kiến phản đối chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, sự phản đối đã trở nên như một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử. Sự phản đối đồng loạt, rầm rộ, cuốn hút, quyết liệt, căng thẳng đến mức buộc Quốc hội và Bộ Chính trị phải có ý kiến “lắng nghe, tiếp thu”…
          Chỉ riêng trang mạng Bauxite Việt Nam, đã có 2.751 chữ ký phản đối của trí thức trong và ngoài nước (tính đến 11 giờ trưa ngày 7-9-2009). Chẳng lẽ Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng không biết, không nghe thấy những tiếng nói phản đối của hàng nghìn trí thức kia? Và hàng nghìn ý kiến khác từ các nhà khoa học, văn hóa, các bậc công thần và tướng lĩnh cao cấp. Chẳng lẽ Phó Thủ tướng cũng không biết và không nghe thấy ý kiến phản đối của đại tướng Võ Nguyên Giáp qua 3 bức thư can gián gửi Ban Chấp hành Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ?
          Tôi không ký vào bản kiến nghị của Bauxite Việt Nam, nhưng không phải là tôi đồng tình với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên. Có thể người ta không nói, nhưng không phải không nói tức là họ đồng tình với anh. Có khi là do người ta nản chí, không còn tin vào anh nữa nên mới không thèm nói!
          Vì thế, bảo việc khai thác bauxite Tây Nguyên đến nay không còn ai nói nữa, đang gặp thuận lợi, tức là anh đang nói dối, là phủ nhận, là không thèm lắng nghe và hắt gáo nước lạnh vào 3 bức tâm thư của ông Võ đại tướng cùng hàng nghìn trí thức đang còn nhiệt huyết góp ý cho Chính phủ.
          Tôi rất ngạc nhiên, ngạc nhiên đến sững sờ trước phát biểu của ông Trọng. Chẳng lẽ đó lại là phát biểu của một… Phó Thủ tướng?
          Một chính phủ mà chỉ thấy được thuận lợi, không nhìn ra khó khăn trước những chủ trương, quyết sách của mình, thì đó là một chính phủ… ngủ gật! Và tất nhiên khi đó cái chủ trương, quyết sách kia khó có thể thành công!
http://truongduynhat.wordpress.com

PHẠM LƯU VŨ - Thu Nguyệt và triết lý...



Tập thơ bìa cứng, trang nhã một màu vàng nâu, mới nhìn tưởng như một mảnh... ván ép. Trong ruột tuyền một loại giấy dày, trình bày giản dị, thậm chí cố làm như cẩu thả, sơ sài. Tên tập thơ, hai chữ: “Theo mùa” chân phương, viết tay như thể bằng bút chì, ngay dưới bức tranh thiếu nhi thu nhỏ như cũng được nguệch ngoạc bằng bút chì.

Bức tranh của một cô bé tám tuổi cực kì ấn tượng. Tất nhiên không thể thiếu mấy chữ: “thơ thu nguyệt”(không viết hoa) nhỏ li ti nhìn tinh mới thấy, lại chia thành từng chữ cái mà trình bày theo hàng dọc, nom như bóng của một... cây tăm.


Thế mà bên trong lại chẳng “tăm” tí nào. Tôi phải lấy ngay câu hay nhất, trong một bài thơ vào loại tuyệt bút của tập thơ làm “tít” cho bài viết này. Câu: “Cả đời làm một cuộc rơi không thành”. Bài thơ có tên: lá giả. Nguyên văn như sau:


Sống dai hơn lá ngoài trời
Cả đời làm một cuộc rơi không thành


Gió đùa không biết rung rinh
Nắng mưa không thấm, trơ mình mà xanh
Giọt sương cũng giả long lanh
Hình như chỉ bụi đeo quanh thiệt lòng!!!


Bạn đã thấy hồn vía của lục bát chưa? Nhuyễn đến mức làm người ta quên rằng mình đang đọc một bài... lục bát. Nhưng trên hết là cái tư tưởng xuất thần của tứ thơ. Té ra con người làm ra những chiếc lá giả (bằng ni lon, bằng vải...) chẳng qua là một cách mô phỏng chính... cái kiếp người. Phật dạy kiếp trần tục chỉ là tạm bợ, là giả. Thì có khác gì chiếc lá bằng nilon, bằng vải... ấy. Tất cả đều là giả hết. Giả từ màu xanh cho đến sự long lanh... Nhưng mà cái thứ bám vào là bụi, bụi đời kia thì... có thật. Bài thơ ngắn, nhẹ nhàng mà thấm thía. Câu: “Cả đời làm một cuộc rơi không thành” có thể ám ảnh bất cứ người nào (chẳng may) đọc phải.


Cần phải nói rằng trong “phong trào” mới mẻ, cách tân, phá phách... thi ca, chữ nghĩa, văn chương sôi sục, lục bục như một nồi cháo khê vĩ đại hiện nay, Thu Nguyệtlà một nhà thơ trẻ vẫn bình tĩnh giữ cho mình một giọng điệu truyền thống. Có vẻ như nữ sĩ này cho rằng hình thức, giọng điệu không quan trọng. Quan trọng là có cái gì ở trong “thơ” hay không. Không chọn trước giọng điệu, tôi biết có nhiều người làm thơ như thế. Cứ mặc cho cảm xúc nó “hạ” ta xuống “con đường” nào, ừ thì đi theo “con đường” đó. Mọi “con đường” đều dẫn tới... thi ca! Một tập thơ gồm bốn mươi tám bài, có đến ba phần tư (ba mươi sáu bài) viết dưới thể lục bát. Vậy mà đọc vẫn không nhàm. Bài theo mùa mở đầu tập thơ, chính là nói đến cái “tâm” ấy của nhà thơ. Một thứ “tuyên ngôn” giản dị của một tâm hồn nữ sĩ:


Lòng người chẳng hạ chẳng đông
Lòng ta hạt nhớ đem trồng đất quên


Cây đời ta mọc mình ên
Ngả nghiêng rồi cũng làm nên bóng tròn
Lẽ thường nắng tắt mưa tuôn
Ta không có bóng vẫn còn có ta
Không cần trái, chẳng cần hoa
Xanh xanh vài chiếc lá là có cây


Lộc non chăm chút tháng ngày
Vậy rồi...
ta thả lá bay theo mùa.


Bạn cứ đọc tiếp tập thơ đi, rồi bạn sẽ tin rằng Thu Nguyệt đạt tới cái “nhẽ” của một nỗi lòng tâm thế. Những bài thơ, những câu thơ không còn mang “giới tính” của người đã sáng tạo ra nó. Đây là điều khác biệt hẳn đối với đa số các nữ thi sĩ ở xứ ta hiện nay. Thơ của các “nàng” đọc một bài, thậm chí một câu cũng biết ngay đó là của một nhà thơ nữ. Nếu không xưng “em”, thì cũng có gì đó điệu đàng như được phớt qua son phấn, thậm chí có “nàng” còn không ngần ngại lôi cả “của quý” của mình vào thơ. Thơ Thu Nguyệt hoàn toàn không giống như thế. Cả tập thơ chỉ hai ba bài có chữ “em” thì hình như lại để ở ngôi... thứ hai. Ngôi thứ nhất trong mấy bài ấy vẫn là chữ: “Ta”. Cứ như thơ của một chàng trai tặng cho người tình của mình vậy. Ví dụ bài gió tan:


Luôn vòng tránh nẻo bình yên
Tình yêu, ngọn gió luôn quên bầu trời
Biết lòng gió chỉ vậy thôi
Mênh mông em vẫn bầu trời đa đoan


Vẫn thừa một ánh trăng sang
Vẫn dư một mặt trời khan ngắm mình
Rối ren ngàn ánh sao xinh
Lung tung hàng triệu thứ tình không đâu


Ta tìm hoài gió trong nhau
Gió tan lại miệt mài đau suốt đời
Ta quên có một bầu trời
Bên ngoài ngọn gió có rồi lại tan...


Kể ra bài này vẫn có chút gì lý sự, làm dáng chữ nghĩa, phảng phất một giọng thơ học trò. Cái gì mà “ánh trăng sang”? rồi lại “ánh sao xinh”?... Nhưng đến mấy câu trong bài ngoái sau đây thì các bậc mày râu thi tửu xưa nay chắc cũng viết đến thế là cùng:
...


Kẻ ngông bày ra rượu
Người trí bày ra trà
Ta không ngông không trí
Trà rượu đều chán ta.
...


Đã tâm thế thì không thể không triết lý. Con người trôi theo dòng chảy cuồn cuộn của cuộc đời thật khó mà nhận ra một cái gì đó của riêng mình. Thu Nguyệt viết về cái triết lý ấy rất giản dị mà rõ ràng. Bài thơ có tên: miền không bay:


Ta là cái kiếp thiên di
Nương theo lực hút mà đi theo đàn
Thuận theo thời tiết mùa màng
Một chiều trở chứng rẽ ngang thình lình


Xứ xa đứng hót một mình
Thấy hoàng hôn giống bình minh lạ lùng


Quay về lực hút đàn chung
Phận non thì phải bay cùng thế thôi
Lâu lâu làm chuyện ngược đời
Tách đàn ra đứng khơi khơi...
lại vào!


Lạc đàn ta chẳng muốn đâu
Mà sao thỉnh thoảng cứ nhào ra riêng


Gió lùa theo hướng chữ DUYÊN
Ta bay chung để đến miền không bay.


Tôi có thói quen đọc thơ khác với đọc tiểu thuyết. Tiểu thuyết thì phải đọc lần lượt từ trang đầu đến trang cuối, hết tập nọ rồi mới đến tập kia. Thơ thì không cần phải như thế, thậm chí không nên như thế. Một tập thơ có thể đọc bắt đầu bằng bất cứ trang nào, bất cứ bài nào, thậm chí câu nào. Mở ra rồi gấp lại. Gấp lại lại mở ra... Cái kiểu đọc ấy rất thú, nó không làm ta nhàm chán đã đành, lại rất dễ “tóm” được những câu thơ hay. Chẳng hạn:


Biển ngàn năm vẫn mênh mông
Ta vài năm đã nghe lòng cạn khô. - Bài cạn trang 18


Hoặc:

Núi rừng cứ đẹp trơ trơ
Làm cho ta bỗng nghi ngờ chính ta... - Bài mỏi mòn trang 27


Hay là:


Gió nương mái cũ đi nhờ
Hiên nhà dấu nước vẫn chờ giọt mưa. - Bài vẫn y trang 25


Đến những câu như thế này thì thật thích:


Hình như núi sững sựng buồn
Mây bay trần tục như luồng khói xe. - Bài mốt trang 13
...


Tập thơ còn có hai bài lục bát, hiện đại bởi dùng ngay những thuật ngữ vi tính, biến ngôn ngữ trên bàn phím, trên màn hình máy vi tính thành ngôn ngữ thơ rất khéo, rất tài hoa. Bài keyboard thơ:


Ta cầm tinh tuổi con mèo
Vừa đì lít (delete) đã vội seo (save) nỗi buồn


Việc đời nửa nắm nửa buông
En tơ (enter) vừa mất, cuống cuồng ân đu (undo)
Cắt dán (cut paste) dữ liệu lu bu
Phai (file) tình, phai nghĩa... không lưu cũng đầy!
Muốn được an (alt) cũng bó tay
Đời như kiếp chuột (mouse) cứ xoay vòng vòng...”


Bài không cần password:

“Ta mong mở cổng niềm vui
Mà không biết password đời đặt ra...”
Tôi cũng đã từng đọc tạp văn của nữ thi sĩ này. Một giọng Nam Bộ rất chi là tự nhiên, máu thịt. Thơ của chị cũng thế. Có những câu thơ tỏ ra hơi dễ dãi, nhưng vì âm hưởng vùng quê của nó mà vẫn không nỡ trách:


Cái trò tát nước đầu đình
Bỏ quên áo xống linh tinh mắc cười... - Bài chỉ một chữ HƯ


Đến cái tên bài thơ đôi khi cũng giản dị như một câu nói miệt vườn. Bài vậy cũng ngon rồi:


Cám ơn chiếc dép người kê
Cho ta ngồi giữa bốn bề cỏ hoa
Bàn chân nhấm dấu đường xa
Dép mòn sát đất có mà như không!

Dẫu sao còn một chút lòng
Cho nhau tựa giữa mênh mông cuộc đời.
Đâu cần dép phải đủ đôi
Chỉ cần một chiếc kê ngồi cũng ngon!
Chỗ ngồi này hẳn là ngồi thiền, không thì cũng ngồi bên cạnh chùa. Thiền thì không thể có đôi. Ngồi bên chùa thì chớ ngại lẻ loi. Tập thơ còn có mấy bài viết về thiền, về chùa song chưa có ấn tượng mấy. Chắc tại hồn vía thơ của những vị đại sư kiêm thi sĩ như Mãn Giác thiền sư, Trần Nhân Tông... vẫn còn văng vẳng đâu đây chăng? PHẠM LƯU VŨ


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Photobucket


THÊM THÔNG TIN MƠI VỀ VỤ TÀU "LẠ" VÀO BẾN QUEN
                                                                                             Thanh Thảo                    
     Tàu "lạ" vào vịnh Việt Thanh cách nhà máy lọc dầu Dung Quất 02km, chạy lòng vòng quanh phao rót dầu không bến SPM mấy vòng rồi...đi, không biết đi về phương mô (!)...
     Anh em kỹ sư NMLDDQ trong khi làm việc ở phao rót dầu đã chụp được ảnh này. Ảnh khá rõ, dù có sương mù và cả những đôi mắt...mù sương khi nhìn ảnh. Theo anh em kỹ sư, thì tàu chỉ "lạ" với ai đó, chứ không hề lạ với những người tận mắt nhìn thấy nó. Đó là tàu của bác "Hồ" (Cẩm Đào) vào thăm NMLD Dung Quất. Chỉ thiếu băng-rôn và cờ phướn (có lô-gô quảng cáo các doanh nghiệp) do Sở văn hóa Quảng Ngãi treo lên trên phao rót dầu nữa là đủ bộ lễ chào mừng( !?) Mấy hôm nay, cứ nghe ồn lên về chuyện NMLD Dung Quất phải tạm dừng hoạt động do bị hỏng một chiếc van nào đó. Chiếc van hỏng có thể thay van khác, lại do nhà thầu Technip chịu trách nhiệm hoàn toàn bởi nhà máy đang trong giai đoạn chạy thử, càng phát hiện được nhiều lỗi càng tốt, vì mọi chi phí sửa lỗi do nhà thầu lo.
Vậy mà cứ ồn ào lên vì một chiếc "van" bé tí, trong khi lại "lờ" đi như "không biết không nghe không thấy" một cái tàu "lạ" lù lù to hơn 100 đống rơm chạy la đà sát cạnh nhà máy lọc dầu "tỉ đô" của mình. Đó chẳng phải điều "lạ" nhất, lạ hơn cả chiếc tàu "lạ" kia nữa sao ?


thanh thảo
                                
                          CHÀO TÀU LẠ
 


em “hảo lớ” còn anh hở (ra là) láo
em thụt thò ra cáo vào cua
mặc anh đánh võng như đùa
thuyền em anh húc biển khuya mịt mờ
lọc dầu Dung Quất dung quơ
em chưa kịp cúng anh trờ vào ngay
băng rôn cờ phướn giăng đầy
em chào anh suốt nửa ngày chưa xong
chào anh tám chữ vàng ròng
chào anh mười sáu cái còng số 3
còng số 3 mở ra quá dễ
còng số 8 anh để dân (nhà em) xơi
anh bung “hảo lớ” zàng trời
em dâng bô-xít kính mời anh “xư”(*) !
------------------
(*) xư: ăn 
                                                                                                           
CA NÔ CẮM CỜ ĐỎ SAO VÀNG XÔNG PHA ĐUỔI TÀU LẠ




Thêm tin mới về chuyến "viếng thăm" vịnh Việt Thanh sát cạnh nhà máy lọc dầu Dung Quất của tàu "lạ":
Sau khi chờ mãi không thấy bộ đội biên phòng hay công an xông ra truy bắt tàu "lạ", đội kỹ sư của nhà máy lọc dầu Dung Quất, trong tay không tấc sắt, gồm 8 người bèn nhảy lên ca-nô 20 mã lực (he he) cắm cờ đỏ sao vàng chạy thẳng ra tàu lạ đồng thanh hát bài nhạc đỏ từ thời chống Mỹ, có chỉnh lời cho lịch sự hơn, để xua đuổi: "Vùng biển của ta đâu có phải ao nhà của...bác, tè te tè te...không cho bác kéo đến hành hung tì ti tì ti..." . Nghe nói, tàu "lạ" rất dửng dưng khi nghe bài hát đầy hùng khí này, nhưng nó có lẽ thấy...ngượng, vì để cho một chiếc ca-nô bé con cắm cờ đỏ sao vàng xua đuổi, nên loanh quanh một lúc "cho đời mỏi mệt" rồi...chạy. Vậy thì, ít ra, với tay không, chỉ có lá cờ đỏ sao vàng oai dũng, những kỹ sư trẻ của chúng ta đã làm thay công việc của những tàu chiến hay bét ra cũng là tàu phóng lôi hoành tráng. Hoan hô các kỹ sư nhà máy lọc dầu Dung Quất!


                                                                                                                 thanh thảo
Nguồn: bichkhue.org

Tùy bút Của Khánh Ly





Tôi không bao giờ nghĩ rằng có một lúc nào đó như lúc này, cuộc sống của ca sĩ Hải Ngoại và Việt Nam lại được mang ra mổ xẻ rạch ròi, tới tấp như thế. Có lẽ, trong đầu óc đơn giản của tôi, ca sĩ ở đâu cũng là ca sĩ…. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ đặc biệt chung cho mọi người, ở mọi nơi, mọi phía. Không có biên giới…. Nhạc đã được khẳng định như vậy, lẽ nào người hát lại bị loại ra ngoài.


Tôi không hề phân biệt ca sĩ trong hay ngoài nước. Có chăng, điều bị chỉ trích là cách sống của những người cùng chung một nghiệp dĩ ở hai bờ đại dương. Những ca sĩ lớn lên hay thành danh ở trong nước dường như không có một khái niệm nào về nghệ thuật và quá trình của lớp người đi trước họ cả một phần tư thế kỷ. Và cũng không ai nói cho họ nghe về một thời bình an, đẹp đẽ của sân khấu Miền Nam, trước mùa Xuân 75.


Chúng tôi, lớp người đã được quần chúng chấp nhận trước 75, thật sự đã trải qua bao nhiêu khó khăn, bằng chính năng khiếu của mình. Chỉ có một ít may mắn đủ trình độ văn hoá Đại học và tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Đức Huy, Quỳnh Giao, Mai Hương…. Còn lại, đa số chỉ đến Trung học, chưa bao giờ bước chân vào Quốc Gia Âm Nhạc. Lên sân khấu, với năng khiếu Trời cho và may mắn được chấp nhận.


Thời đó, ca sĩ rất ít và không phải bất cứ ai bước lên sân khấu, là đều được coi là ca sĩ…. Quần chúng phải chấp nhận. Các ca sĩ phải chấp nhận. Các trung tâm thâu băng, đĩa phải chấp nhận. Các đài phát thanh phải chấp nhận, chúng tôi mới có được… tạm coi như là ca sĩ và vẫn nằm trong sự kiểm soát, nghe ngóng, chăm sóc của các Trung Tâm mà trung gian là nhạc sĩ.


Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Gảy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”. Chị Lệ Thu với Ngậm Ngùi và cô Thái Thanh gần như “độc quyền” nhạc Phạm Duy.


Không ai có thể thay thế ai. Vì sao thế, vì thời đó, các nhạc sĩ… đo ni may áo cho ca sĩ. Không thể trật đi đâu được và vì thế, bài hát làm nên ca sĩ. Trúng một cái, cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ đều như sóng dội. Thời đó nhạc sĩ nhiều hơn ca sĩ. Ngoài công việc chính, họ chỉ chú tâm sáng tác và chọn những giọng hát hợp với bài hát. Phần chúng tôi, mỗi người có một chất giọng riêng. Nghe là biết ai ngay. Chúng tôi đủ thông minh để không giẫm chân người khác.


Năm 69, ông Thiêng, ông Quân có 2 bài… hai bài này chỉ có Khánh Ly, đó là “Kinh Khổ” và “Trên Hoang Tàn Đổ Nát”…. Ông Minh Bằng giao cho tôi… “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ”. Kim Loan với “Căn Nhà Ngoại Ô”. Giao Linh với “Những Đóm Mắt Hoả Châu”. Phương Hồng Quế có bài “Giờ Này Anh Ở Đâu”. Mai Lệ Huyền và Hùng Cường có một loại nhạc riêng, quen gọi là nhạc kích động.


Chỉ hát một nơi với bài “Mùa Thu Cho Em”, Xuân Sơn đã làm bao người điêu đứng, chưa kể đến bài “Trăng Sáng Vườn Chè”- dẫu sau này Ái Vân dựng lại bằng nhạc cảnh – cũng không làm người nghe quên nổi Xuân Sơn. Carol Kim hát “Hãy Khóc Đi Em”. Ông Sơn bảo… chỉ có Carol Kim hát bài đó trội nhất… Duy Quang trình làng “Thà Như Giọt Mưa”. Elvis Phương bài “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang”… Còn ông Chế Linh thì bài nào vào tay ông là lập tức trở thành của ông.


10 năm đầu, tôi chỉ nhận được 2 bài hát của ông Sơn “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Một Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Cả hai đều bị giam, cấm phổ biến. Dĩ nhiên tác giả cũng không thể ngồi yên. Lý do đơn giản thôi… viết cho KL. Mấy năm sau đó, một bài hát nữa cũng của T.C.S bị dập, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội”… cũng lại vì KL. Tôi nhận được bài hát từ những người vượt biển. Cũng khoảng thời gian đó, từ Pháp gởi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số đó có bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thuỷ là “Nước Mắt Cho Sài Gòn”. Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời hai, Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Đình Toàn, và trong bài viết có câu “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.


Nhưng phải nói rõ, ngay từ những ngày mới tới Mỹ, khi mà mọi người còn bị chia ra, sống riêng lẻ mỗi người một nơi, khó có thể tìm ra nhau từ những trang trại rộng lớn, nằm khuất sau những dãy núi cao mà ngay khi chạy qua trên các xa lộ, chúng ta không thể nhìn thấy được, “Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt” của Nam Lộc đã được viết trong thời gian đó. Một ca khúc đơn giản xuất phát từ nỗi lòng của một người vừa rời xa quê hương. Không cầu kỳ văn hoa chải chuốt nhưng rất thật thà nói lên sự tiếc thương, nỗi đau xót và mơ ước ngày trở về, cho dẫu đã nói lên lời vĩnh biệt.


Đức Huy trình làng “Đường Xa Ướt Mưa” năm 1979 cùng lúc với Tùng Giang “Tôi Với Trời Bơ Vơ” và Nam Lộc “Người Di Tản Buồn”. Linh Giang “Tôi Muốn”. Phạm Duy “Nguyên Vẹn Hình Hài”, Hoàng Quốc Bảo “Mưa Trên Thành Phố Cũ”, Nguyễn Đức Nam với “Buồn Tháng Mưa”… trong khi đó nhạc Vàng ở VN bị xoá sổ. “Rơi Lệ Ru Người” viết từ năm 75 (khi nghe tin tôi chết trên biển) phải chờ đến năm 1992 khi gặp ở Canada, ông Sơn mới chép in cho tôi bài đó.


Giữa thập niên 80, một số ca sĩ ở VN mới được phép hát lại, nhưng vẫn chỉ loanh quanh ở những tỉnh nhỏ. Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân từ Nhật Ngân lập đoàn gồm Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Lan… bữa đói, bữa no, ngủ đình, ngủ chợ, mong được hát cho nhiều hơn là kiếm miếng ăn dẫu rằng ai cũng đói. Nhã Phương và Bảo Yến nổi lên, rồi Ngọc Bích, Thanh Lan ở tù liên miên vì tội vượt biên. Nhưng một số ca sĩ may mắn hơn Thanh Lan là Lệ Thu, Ngọc Minh, Hoàng Thi Thao, Lê Uyên và Phương đã đi được. Thanh Tuyền, Giao Linh, Chế Linh cũng thoát. Vài năm sau đó có Thái Thanh đến Mỹ. Như thế, lớp ca sĩ cũ của chúng tôi còn ở VN là Hồng Vân, Lan Ngọc, Nhật Thiên Lan, Mộng Xuân Lan, Ngân Hà, Giang Tử, Anh Khoa… và rất nhiều nhạc sĩ.


Sau thời VN tưng bừng “mở cửa” rồi tưng bừng “khép lại”. Bài tình ca đầu tiên được viết ở trong nước, ra Hải Ngoại và lọt vào lỗ tai tôi là bài “Giọt Nắng Bên Thềm” rồi bài “Em Ơi Hà Nội Phố”, bài này, trong nước coi như… rửa mặt cho Hà Nội sau mấy chục năm. Và từ đó trở đi, nhạc tình được viết với tốc độ khá nhanh bởi những tác giả trẻ và xa lạ - ngoại trừ Quốc Dũng, Bảo Chấn và Bảo Phúc tung ra Hải Ngoại những khuôn mặt lạ, trẻ và một kiểu hát như nhau, chất giọng như nhau, đến nỗi có đôi khi chợt nghe, tôi không thể phân biệt ai là ai.


Tôi không nghĩ những bài hát được sáng tác ở trong nước là dở - có lẽ tại tôi bảo thủ quá chăng – nhưng với một thành phần nhạc sĩ đông đảo, sáng tác liên tục không ngưng nghỉ trong một môi trường thuận tiện, rộng lớn – 70 triệu người nghe. Nói thật lòng, tôi chỉ nghe được “Giọt Nắng Bên Thềm”, “Em Ơi Hà Nội Phố”, “Thuyền Và Biển”, “Phượng Hồng”, “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa”, “Tháng Tám Mùa Thu”, “Quê Hương”. Và chỉ có như thế (tôi không nói về nhạc T.C.S). Những bài hát khác không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.


Khoảng trong 2 năm đầu khi những bài hát ở VN tràn ra Hải Ngoại, nhiều người điên cuồng tìm mua nghe, tưởng như nhạc trong nước đã đè bẹp, giết chết nhạc Hải Ngoại phá nát thị trường băng nhạc ở đây. Bạn bè xôn xao hỏi. Tôi nói không bi quan cũng không chủ quan… rồi cũng qua nhanh như lửa rơm… Chỉ đơn thuần là ý nghĩ của tôi với những bài hát viết từ trong nước tôi đã nghe không phải một lần. Vả lại trong số những tác giả trẻ, có người tôi biết trước năm 75.


Các trung tâm cũng xôn xao. Tại sao thế nhỉ… Có nhiều TT ở đây phát hành băng đĩa VN cơ mà. Họ bán 10 đồng 3 cuốn CD rồi 10 đồng 4 cuốn. Nếu CD của chúng tôi bị in giả tại VN lan tràn từ Nam ra Bắc, từ hàng thịt chó tới hàng bún chả, đến phòng tắm hơi, đến những quán karaoke. Từ taxi đến xe đò thì tại sao ở đây không? Một cuốn master thực hiện ở VN giá thành không bao nhiêu và khi được tung ra thị trường thì lại không chỉ dành cho một TT nào mà là cho cả chục người, rồi ai muốn bán kiểu nào, giá nào thì bán.


Bà con mình vốn tính luôn thích của lạ. Lạ mà rẻ, ai lại bỏ qua nhất là nó lại mới lại lạ (như mấy ông chồng bị ăn mãi cơm nhà, quà vợ, nay bỗng thấy người lạ, dẫu không đẹp, cũng vẫn thèm). Bèn mua về nhà ngay - giống phong trào phim bộ năm nào – và mê ngay. Có lạ gì đâu, 27 năm nằm gai nếm mật xứ người, nghe chừng đó ca sĩ, thuộc mặt từng người, coi bộ cũng… mệt mỏi rồi. Thích là phải. Đương nhiên thôi. Bao lâu thì chưa biết nhưng cứ thích, cứ mua cái đã. Thị hiếu của quần chúng đối với một thị trường lạ, tưởng không cần phải bàn ra tán vào, dài dòng, mất thì giờ.


Hai năm trôi qua – như tình yêu vậy, không còn gì mới lạ nữa. Những bài hát theo gió cuốn đi.


Sau mùa Xuân năm 75, đồn rằng tất cả nhạc vàng đều bị thiêu huỷ, ai giữ trong nhà như giữ đồ quốc cấm. Sách, truyện cũng cùng chung số phận. Phim ảnh dù bị hủy hoại cũng còn những bản phụ ở nước ngoài. Mọi người bị lùa đi học tập cải tạo không hứa hẹn ngày trở về. Ca nhạc sĩ bắt buộc phải trình diện gọi là bồi dưỡng chính trị. Những tà áo xanh, đỏ rực rỡ bỗng nhiên biến mất, chỉ còn quần đen áo cánh trắng hoặc nâu cho đúng với tôn chỉ cách mạng. Bao nhiêu khuôn mặt xinh đẹp, nổi tiếng của Sài Gòn nay e dè nhìn nhau như thăm hỏi… Họ nói cái gì thế nhỉ… Người nói cứ nói, người ngồi nghe như vịt nghe sấm, lòng thì cứ như đi đẩu, đi đâu. Nghĩ đến bạn bè ai đi thoát, ai kẹt lại… cái gì đã xảy ra cho SàiGòn… cái người đang giảng giải cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội kia là ai, ở đâu ra thế… tất cả bàng hoàng hoặc lo âu. Lo cho mình thì ít, cho gia đình thì nhiều bởi đa số ca nhạc sĩ đều có con em cha chồng là quân nhân, là có… nợ máu với nhân dân. Đã gọi là nợ thì phải trả nhưng trả thế nào đây?


Thật ra thì các ca nhạc sĩ không bị đày ải quá lâu với những chương trình bồi dưỡng chính trị. Họ khổ vì bị cấm hát. Suốt mấy năm trời cả miền Nam đều phải nghe một loại nhạc, một kiểu hát cùng một giọng giống nhau.


Những bài hát của miền Bắc mà dân Sàigòn phải nghe đã được sáng tác lâu rồi, giờ mới có dịp tung ra. Chỉ một loạt bài đó thôi sau năm 75, hầu như nhạc sĩ miền Bắc không viết loại nhạc ấy nữa vì người Sàigòn không muốn nghe. Nghe không vô cũng như họ phải chịu đựng những bảng hiệu tên đường ngô nghê, buồn cười, chẳng ra làm sao…đường Nguyễn Văn Bánh, đường Võ Thị Sáu… những người là ai… Khai quốc công thần của nhà Nguyễn chăng… Những bài hát cứ ồm ồm tra tấn lỗ tai người Sàigòn. Những con đường cũ làm cho người ta… khi hẹn nhau, ta lạc lối tìm… chắc cũng họp hành dữ lắm. Nghị quyết này, nghị quyết kia… tôi thấy thế này, tôi thấy thế nọ vân vân. Thanh Lan thành tích vượt biên nhiều quá. Cấm. Hồng Vân, Lan Ngọc tàn tích cũ. Cấm. Thế nhưng các tiếng hát miền Bắc lại không được Sàigòn chấp nhận. Bảo Yến và Nhã Phương lên tiếng đánh bạt các giọng ca… có dấm càng thêm chanh… Ngọc Bích cũng lên tiếng mạnh mẽ lẫy lừng một thời, cô là con gái của nghệ sĩ Ngọc Hùng, Ngọc Nuôi. Cô đã từng là giọng ca chính của ban nhạc The Crazy Dogs thì đương nhiên cô phải nổi bật.


Nhà nước cũng cho mời các nghệ sĩ nổi danh cũ, cho phép thành lập đoàn hát. Cho tập dượt tại nhà hàng Queen Bee. Có ban nhạc Shortguns, ông Lê Uyên Phương có Thái Thanh… Tập cho đã đến chừng phúc khảo ra mắt các quan to sừng dài thì… không đủ tiêu chuẩn (ông Lê Uyên Phương kể lại) thật cay đắng cho những tên mối lớn ở Saigòn. Ông Trịnh Công Sơn đi thực tập, học trồng sắn, trồng lúa, nuôi heo, ông đi theo con trâu ông chủ nhà tốt bụng cho mượn… tôi thấy chú tội nghiệp tôi thương, nơi đó là cả một bãi mìn, ngày mô cũng có người chết, chừ tôi cho chú mượn con trâu, chú cưỡi theo chân nó mà đi… Thời gian này, ông sáng tác bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”… Mình cứ vừa cày ruộng, trồng khoai vừa hát cho mình nghe – có thế mới sống nổi chứ. Ấy thế mà bài hát bị cấm… Đất nước thống nhất rồi, anh không đủ vui hay sau mà phải tự chọn cho mình một niềm vui?


Sau khi đã giữ chân mấy trăm ngàn người trong trại cải tạo. Làm bà con ta điêu đứng sau mấy đợt đổi tiền. Nhạc tình bắt đầu ngoi ngóp bằng những bài hát. Nửa mùa, quốc không quốc, cộng không ra cộng. Loại nhạc thăm dò dư luận cấp lãnh đạo. Cửa đã hé mở đón Việt kiều hồi hộp về thăm dân cho biết sự tình. Thanh Lan vượt biển hoài mà đường đi không đến bèn leo lên sân khấu hát lại. Cẩm Vân hừng sáng với giọng trầm, ấm áp, rõ ràng. Hồng Hạnh giọng mỏng hơn nhưng xinh đẹp, song nghiệp hát không lâu dài. Các ca sĩ được chú ý vẫn là Nhã Phương, Bảo Yến, Cẩm Vân, thỉnh thoảng mới có đề cập đến Lan Ngọc, Hồng Vân, Anh Khoa. Nhạc sĩ Duy Hải qua đời, nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang qua đời trong tù. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 gần như đóng cửa ở ẩn, không cộng tác với đoàn hát nào. Cô Thái Thanh, nhạc sĩ Hoài Trung bị cấm hát vĩnh viễn sau cái buổi phúc khảo tại nhà hàng Queen Bee. Một thời gian ngắn sau đó, nhạc sĩ Hoài Bắc vượt biên, nhạc sĩ Văn Phụng, cô Châu Hà cũng đi thoát….


Bài “Quê Hương” là bài tôi thích, bài “Thuyền Và Biển” do Cao Minh hát. Đùng một cái tôi thấy bà con trong và ngoài nước đua nhau hát… bằng lòng đi em… về với quê anh… nghe cũng có vẻ mời gọi lắm nhưng với tôi, nó có vẻ quê quê thế nào ấy. Bài “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” ấy thế mà tôi lại nghe được. Thì ra “Thuyền Và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu. “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bài “Dư Âm” ngày xưa…. Rồi sau đó là bông điên điển, là rau đắng, rau ngọt, rau mồng tơi. Lá sầu riêng, chôm chôm… thì thề… đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Tôi nghe mà còn khóc thì bảo sao bà con không đổ xô đi mua, không đè xấp, đè ngữa nhau giành chỗ trên những chuyến bay đi tìm những chùm khế ngọt. Đi để… thành người.


Sau đợt Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Ngọc Bích, Nhã Phương, Bảo Yến là những Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Phương Thanh, Thu Hà, Trần Thu Hà là những ca sĩ, nghe nói có được đào tạo trường lớp hẳn hòi và những ca sĩ này sáng tạo ra một lối hát giống nhau nhưng không giống ai. Không giống ai là điều tốt bởi mỗi người phải có cái riêng của mình như các lớp ca sĩ trước. Thanh Tuyền cất tiếng hát là biết ngay Thanh Tuyền. Lệ Thu vừa… nắng chia nửa bãi…. thì đó là Lệ Thu… Em tan trường về, anh theo Ngọ về…. là cô Thái Thanh. Bang bang, em bắn ngay anh… là Thanh Lan. Những ca sĩ không qua một trường đào tạo nào, họ qua… trường đời và họ có cá tính, có cái chất giọng riêng để phù hợp với các bài hát các nhạc sĩ viết riêng cho họ.


Tôi thường hay bị… đố nhạc… Đố chị biết ai hát đấy… và bao giờ tôi cũng thua vì cùng trường, cùng thầy, cùng một cách đào luyện ca sĩ trẻ ở VN hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn. Chẳng còn biết ai là ai mặc dù họ hát vững, kỹ thuật cao, chất giọng tốt và khoẻ nhưng mà ai mới được chứ. Cái… là ai… mới quan trọng. Theo trường lớp để biết kỹ thuật trình diễn, học hát để biết cách hát, biết cách ngân, biết cách lấy hơi chỗ nào, biết cách nhưng sao cho đúng đó là chưa nói đến vấn đề thầm âm. Người ca sĩ phải có cái lỗ tai tốt, nghe nhạc mới chính xác, bát cũng bị chênh. Một người ca sĩ, ngoài tiếng hát nếu biết rõ về nhạc lý thì càng tốt, tốt lắm lắm (nếu không, trường nhạc mở ra để làm gì) như các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và bác sĩ Bích Liên.


Âm nhạc và nhất là các ca sĩ trình diễn không thể bị đóng khung bởi những điều trường lớp dạy. Khi đã có căn bản, phải tự mình tìm cho mình lối trình diễn riêng và sử dụng tiếng hát của mình theo lối riêng lợi điểm của các anh chị không giỏi nhạc… như tôi chẳng hạn. Ngoài các thầy cô ở trường, khi ra tranh đua với đời, ta cũng nên tìm một người thầy hướng dẫn cho mình con đường nào tốt nhất. Đôi khi người thầy đó không giỏi nhạc nhưng họ có cái lỗ tai của người nghe, cái nhìn xa trông rộng giúp cho ca sĩ chọn đúng bài, cách trình diễn và cách hát. Người thông minh có thể không cần ai giúp vẫn tìm được cho mình một đường riêng, tuy nhiên điều này hơi hiếm. Phần lớn, các ca sĩ sau khi tốt nghiệp thường tự cho mình là giỏi, không cần ai nữa. Điều này thì nhiều.


Tôi viết những cảm nghĩ của một người nghe nhạc chứ không phải của một ca sĩ có 40 năm trên sân khấu. Tôi cảm thấy một nỗi thất vọng mênh mang khi cứ tình cờ phải nghe… nghèo 1 rồi nghèo 2 (đến nghèo 3 là sạt nghiệp)… Chim sáo ngày xưa 1, rồi chắc chim còn bay nên lại… chim sáo ngày xưa 2, (nếu không có chim 3 thì có nghĩa con chim này đã nằm trên đĩa). Chim này bắt chước chim đa đa, chim đa đa... đi mất thì đừng trách chim. Tôi nghe ông Song Ngọc hát… ngày chị sinh ứ…ư trời cho tôi làm thơ…ứ ư nhưng chữ ứ… ư này tôi không dám viết ra sợ bà con mắng. Tôi nghe bạn bè bảo bài… Nếu anh nói yêu em là thật ra anh đang dối lòng… là lời của một bản nhạc Mỹ nhưng tôi chưa nghe, không dám bàn tới, tuy nhiên, đó là một bài hát thành công của Bảo Chấn. Trần Tiến tướng tá bậm trợn, to như một đô vật nhưng lại thương cho một lá Diêu Bông, lại thương cho tóc gió thôi bay, lại làm riêng một bài hát về ông TCS. Nhìn ông TCS ngồi cạnh Trần Tiến, tôi nghĩ, đúng là…ở hai đầu nỗi nhớ….


Thì cứ cho là vì sống xa quê hương vì sự sống, các nhạc sĩ ở Hải Ngoại cạn hứng không có sáng tác nào đáng kể. Điều đó lầm. Ông Lê Minh Hằng đó chi. Ông Tuấn Khanh đó chi. Nghe “Nỗi Niềm”, “Nhạt Nhoà” mà không ngây ngất sao, nghe “Dĩ Vãng” của TNS mà không ngẩn ngơ sao. Nghe “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc mà không chảy nước mắt sao. Nghe “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương mà không ngậm ngùi sao. Nghe “Tôi Muốn Hỏi Vì Sao” của Diệu Hương mà không thương cảm sao. Nghe “Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương” của Trần Duy Đức mà không thấy lòng ??? ??? sao. Nghe “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”, “Một Ngày Việt Nam - Những Bước Chân Việt Nam”, “Cám Ơn Anh”, “Cờ Bay Trên Phố Bolsa” của TrầmTử Thiêng mà không thấy xót xa sao. Nghe đi. Nghe “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông” của Trúc Hồ - Trầm Tử Thiêng để thấy tấm lòng VN ở Hải Ngoại lớn lao, bao dung và nhân hậu biết bao nhiêu. Nhạc hay là nhạc đến rồi ở lại trong lòng chúng ta. Ở đây, mọi người cần phẩm, không cần lượng. Đối với người nghe nhạc như tôi, nhạc thế mới xứng đáng gọi là nhạc phẩm.


Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75 sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ VN bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?


Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ VN ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở VN đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Vì các anh chê chúng tôi nên nói…chơi cho vui. Nhạc các anh làm ra, bên này bán tự do 10 đô 4 cuốn, đổ đống ra, tha hồ mà lựa. Rồi 10 đồng 5 cuốn, mua về nghe không hay, không thích. Dụt. Coi như mất 2 tô phở.


Nhạc của chúng tôi lọt được về VN thật là thiên nan vạn nan, bài nào không có lợi, chủ tiệm băng bèn cắt, bỏ vào đó một bài khác. Bìa băng và tựa băng đổi luôn và như thế, làm sao người nghe có thể nghe được bài hát có giá trị. Các anh chơi như thế là không công bằng, không fair, hoặc là các anh… rét, không muốn phổ biến những bài hát đó. Ở Hải Ngoại chúng tôi có một dúm người, các anh có hơn 70 triệu dân. Chúng tôi không sợ nhạc của các anh làm ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, sao các anh sợ.


Các bạn của tôi giờ không ngại gì nữa. Nhạc Việt bây giờ là nhạc… lai căng (chính báo của Đảng đã than vãn việc này).


Tôi mơ ước được nghe lại những sáng tác đầy sáng tạo và đẹp đẽ của các nhạc sĩ ở trong nước cũng như chúng tôi ưu ái tiếng hát của các ca sĩ ở Việt Nam.
Khánh Ly