Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Những scandal ở Tổng cục 2 đã được giải quyết thế nào?



2010-04-06
Tổng cục 2 của Bộ Quốc phòng Việt Nam là một cơ quan nổi tiếng không phải do năng lực hoặc thành tích trong lĩnh vực tình báo quân sự mà chỉ thuần túy là vì nhiều tai tiếng.
Suốt thập niên vừa qua, tuy đã có khá nhiều cán bộ lão thành, sĩ quan cao cấp cũng như trung cấp đã nghỉ hưu, hoặc đang tại ngũ cùng lên tiếng, yêu cầu giải quyết dứt điểm những vụ tai tiếng ấy, song cả Đảng CSVN lẫn chính quyền và giới lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn bất động. Mãi đến gần đây, giới hữu trách mới thực hiện hành động có thể xem là đầu tiên trước một chuỗi phản ứng đáng chú ý, về những vụ tai tiếng kéo dài liên quan đến Tổng cục 2. Hành động đầu tiên đó là gì? Mời qúy vị nghe Trân Văn tổng hợp và tường thuật...  
 

“Siêu quyền lực” nên sai phạm “siêu nghiêm trọng”

Cơ quan tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam vốn là một bộ phận trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam và thường được gọi là Cục 2. Năm 1995, Cục 2 đột nhiên được nâng lên thành Tổng cục 2 và trở thành ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu.
Năm 1996, với tư cách Chủ tịch Quốc hội, ông Nông Đức Mạnh, ban hành Pháp lệnh Tình báo và theo đó, vai trò của Tổng cục 2 đã vượt khỏi tầm quản lý của Bộ Quốc phòng. Tổng cục 2 được xác định là  “lực lượng trọng yếu, tin cậy, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng CSVN, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ”.

Vậy Tổng cục 2 đã làm được những gì? Thành tích lớn nhất của Tổng cục 2, được nhiều công thần của Đảng, nhà nước và quân đội Việt Nam nhắc đi, nhắc lại, suốt từ cuối thập niên 1990 đến nay là hai vụ Sáu Sứ và T4.
Ông Bùi Tín - cựu Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, người theo dõi rất sát các diễn biến liên quan đến Tổng cục 2, tóm tắt về vụ Sáu Sứ:  Vụ Sáu Sứ còn gọi là vụ Năm Châu, xảy ra từ Đại hội 7, năm 1991. Vụ đó do bàn tay của Tổng cục 2, bố trí cho một số Đảng viên lâu năm ở miền Nam là Năm Châu và Sáu Sứ ra Hà Nội, mục đích để giăng bẫy ông Võ Nguyên Giáp, rồi từ đó, kết luận là ông Võ Nguyên Giáp bè phái, tham quyền, có ý đồ tập trung một số tay chân của mình để lật đổ Bộ Chính trị và chính quyền hồi đó. Thế nhưng tất cả những chuyện này là chuyện dựng đứng. Do đó mà ông Giáp yêu cầu phải làm rõ vụ Năm Châu và Sáu Sứ. Lúc ấy, họ cho rằng ông Giáp có ý định giành quyền Tổng bí thư và được ông Trần Văn Trà tiếp sức. Ông Trần Văn Trà định là giành chức Bộ trưởng Quốc phòng. Thế nhưng tất cả những cái đó đều là sự bịa đặt của Lê Đức Anh, của Nguyễn Chí Vịnh, của Đỗ Mười, để làm hại ông Võ Nguyên Giáp. Đấy là tóm tắt vụ Sáu Sứ với Năm Châu. Cả ông Năm Châu, bà Sáu Sứ đều đã chết rồi.
Còn vụ T4? Ông Bùi Tín kể tiếp: Vụ T4 là vụ Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng cục 2 bịa đặt rằng họ đã đặt được một gián điệp của Việt Nam vào cơ quan CIA và điệp viên đó có bí danh là T4. T4 thông báo danh sách những người đã cộng tác với CIA, đã tiếp xúc với CIA, đã làm tay sai cho CIA. Danh sách đó dài lắm. Nó lên tới hơn 20 người. Trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà rồi những người lúc bấy giờ đang còn tại chức như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,.. Mục đích của họ là gì? Mục đích của họ là bôi nhọ những người đó, rồi Tổng cục 2 cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười được nước láng giềng lớn giúp đỡ làm một cuộc đảo chính, lật đổ hết và dựng lên một chính quyền mới, một Bộ Chính trị mới, một Ban Chấp hành Trung ương hoàn toàn mới và hoàn toàn là tay sai của Bắc Kinh. Đó là mưu đồ của T4 và cũng đã bị ông Giáp tố cáo, yêu cầu phải giải quyết một cách triệt để.
 

Bất khả xâm phạm

Trong nhiều thư ngỏ gửi lãnh đạo Đảng CSVN, tướng Võ Nguyên Giáp gọi Tổng cục 2 là một tổ chức “siêu đảng, siêu chính phủ, phá hoại Đảng một cách có hệ thống” và yêu cầu xử lý nghiêm minh. Ngoài tướng Giáp, còn có hàng loạt công thần của đảng, nhà nước và quân đội Việt Nam như các ông: Phạm Văn Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Thượng tướng Phùng Thế Tài, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Trung tướng Lê Tự Đồng, Trung tướng Phạm Hồng Sơn, Trung tướng Nguyễn Hoà, Thiếu tướng Nguyễn Tài, ông Nguyễn Văn Thi... nêu quan điểm và yêu cầu tương tự  
Tuy nhiên các sai phạm đã xảy ra tại Tổng cục 2, như tướng Nguyễn Nam Khánh - một trong những người được Bộ Chính trị Đảng CSVN phân công theo dõi công việc bảo vệ chính trị nội bộ, nhận định:  Tổ chức thu thập tài liệu và theo dõi cán bộ cao cấp, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, vu cáo nhiều đồng chí là đã làm tay sai cho địch. Người của Tổng cục 2 đã bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài. Người của Tổng cục 2 làm parabol để thu tiền bất hợp pháp, gian lận thuế giá trị gia tăng. Người của Tổng cục 2 còn đưa tài liệu lên mạng Internet nói xấu cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Đảng, Nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Đảng… Cán bộ tình báo quân sự còn cấp giấy chứng minh quân báo cho tay chân Năm Cam hoạt động và liên hệ chặt chẽ với tay chân Năm Cam... vẫn không được xử lý.
Hai nhân vật chính trong những vụ tai tiếng này là tướng Đặng Vũ Chính – Tổng cục trưởng Tổng cục 2 được cho về hưu, con rể tướng Chính là tướng Nguyễn Chí Vịnh được chọn để thay cha vợ đảm nhiệm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục 2.
Cuộc đối đầu giữa các cán bộ lão thành cách mạng, các tướng lĩnh cao cấp, với giới lãnh đạo đương nhiệm trong việc xử lý những sai phạm của Tổng cục 2 đã lan sang giới sĩ quan trung cấp đang tại ngũ, kể cả những sĩ quan đang làm việc tại Tổng cục 2.
Cuối năm 2008, ông Vũ Minh Trí, một trung tá làm việc tại Cục Kỹ thuật của Tổng cục 2, lên tiếng tố cáo thêm hàng loạt sai phạm ở cơ quan tình báo quốc phòng.
Đơn tố cáo của trung tá Vũ Minh Trí là lý do khiến sáu tháng sau, tướng Giáp viết hai lá thư, một gửi cho hai cựu Tổng bí thư Đảng CSVN là ông Đỗ Mười và ông Lê Khả Phiêu, một gửi các thành viên của Bộ Chính trị, để cùng cảnh báo: Tình hình đang cực kỳ nguy hiểm đối với Quân đội, đối với Đảng!
Sau ba lá thư vừa kể, giới lãnh đạo đương nhiệm của đảng, của chính quyền và của quân đội bắt đầu hành động. Trong bài tới chúng tôi sẽ tường thuật thêm về những hành động này.
●●●
Những vụ tai tiếng liên quan đến Tổng cục 2, thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam được nhiều cán bộ lão thành cách mạng, tướng lĩnh cao cấp xem là “siêu nghiêm trọng”.
Và họ đã đồng thanh lên tiếng suốt hàng chục năm, yêu cầu giới lãnh đạo đương nhiệm phải giải quyết triệt để, và gần đây, có những dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo đương nhiệm đã bắt đầu hành động.

 Lũng đoạn toàn bộ hệ thống?

 Một số người theo dõi sát tình hình chính trị tại Việt Nam cho biết, từ cuối thập niên 1990 đến giữa thập niên 2000, hàng loạt cán bộ lão thành cách mạng, cũng như tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi hàng trăm lá thư, yêu cầu giới lãnh đạo đương nhiệm xử lý dứt điểm các sai phạm ở Tổng cục 2, song giới này không hề hồi âm hoặc đáp ứng.
Hầu hết những người từng lên tiếng yêu cầu xem xét, xử lý các sai phạm xảy ra ở Tổng cục 2, trong giai đoạn từ cuối thập niên 1990, đến giữa thập niên 2000 như: ông Phạm Văn Xô, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Trung tướng Nguyễn Hoà,... đều đã qua đời, phần lớn những người còn lại thì già yếu, bệnh tật.
Những sai phạm liên quan đến Tổng cục 2, cũng như các yêu cầu chấn chỉnh tổ chức này, tưởng chừng sẽ chìm sâu như nhiều vụ việc động trời khác thì lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, của Trung tá Vũ Minh Trí, làm việc tại Cục Kỹ thuật của Tổng cục 2, lại khiến dư luận bùng lên.
Trong thư, Trung tá Trí tố cáo, thay vì thực hiện công tác tình báo quân sự thì Tổng cục 2 tiếp tục tổ chức nghe lén, theo dõi, thu thập thông tin về nhiều cán bộ cao cấp của cả đảng, chính phủ lẫn quân đội, tung tin giả để lũng đoạn nội bộ. Chưa kể, Tổng cục 2 đang dùng các kế hoạch, hoạt động điệp báo để bòn rút công quỹ, nếu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán một cách chặt chẽ, chắc chắn sẽ phát hiện ra nhiều vụ tham nhũng lớn, nhiều tên tham nhũng lớn.    
 Điểm đáng chú ý nhất là theo Trung tá Trí, Tổng cục 2 đã thành lập ba đoàn “Tình báo hành động” ở quy mô lữ đoàn, được trang bị vũ khí, thiết bị đặc chủng, kèm thiết giáp. Thay mặt nhiều đồng đội, Trung tá Trí nêu ra một số thắc mắc. Chẳng hạn: Thực chất của các đoàn “Tình báo hành động” là gì? Chúng nhắm vào đối tượng tác chiến nào? 
Trong giai đoạn từ cuối thập niên 1990 đến giữa thập niên 2000, khi lên tiếng yêu cầu xem xét, xử lý dứt điểm các sai phạm xảy ra ở Tổng cục 2, nhiều cán bộ lão thành cách mạng, cũng như tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam đã nhắc đến vai trò và trách nhiệm của ông Lê Đức Anh, cựu Đại tướng, cựu Tổng Tham mưu trưởng, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, cựu Chủ tịch Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Tên của ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong những tài liệu liên quan đến Tổng cục 2. Một số người cho rằng, cần đối chiếu các tài liệu liên quan đến Tổng cục 2 với một số tài liệu khác và điều đó có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên, gây bất bình sâu rộng nơi cán bộ, đảng viên cả trong, lẫn ngoài quân đội nhưng vẫn không thể xử lý đến nơi, đến chốn.
Trong những tài liệu được đề cập, chẳng hạn như “Hồi ức và suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, ông Lê Đức Anh chính là người chỉ đạo toàn bộ quá trình “bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc”. Quá trình “bình thường hoá” này bất thường tới mức, trong “Hồi ức và suy nghĩ”, ông Trần Quang Cơ phải than: Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại!...

Lờ tướng, xử tá       

Lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Trung tá Vũ Minh Trí không chỉ khiến dư luận xôn xao. Lá thư này còn là nguyên nhân khiến tháng 6 năm ngoái, tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục viết cùng lúc hai lá thư, gửi hai cựu Tổng bí thư Đảng CSVN là các ông: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và các thành viên đương nhiệm trong Bộ Chính trị, bày tỏ sự bất bình về việc bổ nhiệm ông Nguyễn Chí Vịnh làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tướng Giáp yêu cầu giải quyết những sai trái một cách kiên quyết, triệt để, đúng nguyên tắc, nhằm bảo vệ quân đội, bảo vệ đảng, bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước. Đồng thời nhắc nhở “cần chú ý bảo vệ người tố cáo”.
Giới lãnh đạo đương nhiệm của cả đảng, chính quyền lẫn quân đội Việt Nam tiếp tục giữ sự im lặng và bất động cho đến tám tháng sau.
Theo báo chí Việt Nam, hồi đầu tháng 2 vừa qua, ông Phùng Quang Thanh, đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng đã đến Quân Y viện 108, thăm tướng Võ  Nguyên Giáp. Báo chí Việt Nam tường thuật rằng: Bộ trưởng Phùng Quang Thanh bày tỏ mong muốn Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn luôn mạnh khoẻ, trường thọ, tiếp tục có nhiều đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và sự trưởng thành phát triển của QĐND Việt Nam. 
Sáu ngày sau, hôm 10 tháng 2 năm 2009, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy Tổng cục 2 ban hành cùng lúc hai quyết định, tước quân hàm sĩ quan và khai trừ Trung tá Vũ Minh Trí ra khỏi Đảng CSVN, vì: Đã tố cáo sai đối với Đảng ủy Tổng cục 2 và đồng chí Nguyễn Chí Vịnh, gửi đơn tố cáo đến một số nơi không có chức năng xem xét giải quyết và nội dung tố cáo đã đưa lên Internet làm lộ bí mật một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của Tình báo Quốc phòng Việt Nam... Vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Quân đội.
Sau hàng trăm lá thư của hàng loạt cán bộ lão thành cách mạng, cũng như tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu giới lãnh đạo đương nhiệm xử lý dứt điểm các sai phạm ở Tổng cục 2, đây là lần đầu tiên giới lãnh đạo đương nhiệm của đảng, chính quyền và quân đội Việt nam có hành động đáp ứng. Cho dù hành động đó đi ngược lại mong muốn của những người gửi đơn.
Chúng tôi đã phỏng vấn Trung tá Vũ Minh Trí, người từng lên tiếng tố cáo và mới bị xử lý:        
Trân Văn: Thưa ông chúng tôi được biết là Bộ Quốc phòng và Đảng ủy Tổng cục 2 vừa có hai quyết định kỷ luật ông, ông có thể cho biết hai quyết định này có những nội dung gì không ạ?
Trung tá Vũ Minh Trí: Ông vừa nói rằng là các ông đã có văn bản ấy rồi cho nên tôi nghĩ cũng không cần phải nhắc lại.
Trân Văn: Và ý kiến của ông về các quyết định kỷ luật này như thế nào ạ?
Trung tá Vũ Minh Trí: Ông cũng vừa nói là ông đã có ý kiến của tôi, không biết là ý kiến ở chỗ nào, đúng không ạ (?). Thực ra thì nếu mà ý kiến đấy có chữ ký của tôi thì chắc là ý kiến chính thức vì cũng có người đã hỏi tôi và tôi đã trả lời. Thế cho nên nếu mà ông có văn bản thì tôi nghĩ cũng không cần phải trả lời. Ông có thể trích nguyên văn bản mà ông đã có trong tay.
Trân Văn: Thưa ông, trong văn bản ghi ý kiến của ông, ông có cho biết rằng còn rất nhiều tồn tại chưa được giải quyết và ông sẽ tiếp tục đấu tranh để làm rõ những sai phạm đã xảy ra ở Tổng cục 2. Với cách tiếp nhận và giải quyết những khiếu nại, tố cáo của ông và với những gì xảy ra với ông trong thời gian vừa qua, vì sao mà ông quyết định vẫn phải tiếp tục đấu tranh?
Trung tá Vũ Minh Trí: Khi định làm việc gì thì người ta đều đặt ra mục đích cuối cùng. Tôi thì chưa đạt được mục đích cuối cùng của tôi nên rõ ràng là tôi phải tiếp tục công việc.
Trân Văn: Thưa ông, mục đích cuối cùng của ông là gì?
Trung tá Vũ Minh Trí: Như tôi đã phản ánh trong rất nhiều văn bản, mục đích cuối cùng của tôi là giúp cho quân đội, cho Đảng, cho Nhà nước, tránh khỏi hiểm họa tự diễn biến ông ạ!
Còn nếu mà nói đơn giản thì tôi cũng như rất nhiều người nữa muốn đấu tranh chống lại tham nhũng, tiêu cực. Đơn giản thế thôi ông ạ!
Trân Văn: Cám ơn ông.
Trung tá Vũ Minh Trí: Tôi nghĩ thế này ông ạ, tôi chỉ lưu ý ông một điều rằng, tất cả các văn bản của tôi thì các ông nên xác định rõ là có đúng của tôi không thì hẳn trích. Chứ sợ rằng trích một văn bản mà giả mạo hay không chính xác thì ảnh hưởng đến uy tín của chính người trích. Bởi vì thực ra tôi cũng có trả lời một vài vị có tính chất là rất gia đình. Nếu mà nó bị lạc ra ngoài thì cũng hơi khó đấy!
Thế nên tôi nghĩ rằng là ông nên xác minh lại cho nó chính xác. Thế thôi ông ạ!
Trân Văn: Dạ vâng. Cám ơn ông đã lưu ý. 
Trung tá Vũ Minh Trí: Chào ông. Cám ơn ông.
Trên Internet hiện đang có một văn bản ghi bốn ý kiến mà Trung tá Vũ Minh Trí phát biểu sau khi nhận các quyết định kỷ luật. Trong đó, có ý kiến cho rằng, đến nay, các lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước chưa có kết luận về thư Trung tá Trí đã gửi, nên ông  xem mọi kết luận, quyết định đối với ông của Thưởng vụ Đảng ủy quân sự Trung ương và Bộ quốc phòng, Thường vụ Đảng ủy Tổng cục 2, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 đều là vô giá trị và bất hợp pháp. Trung tá Vũ Minh Trí hy vọng những quyết định vô giá trị và bất hợp pháp ấy sẽ sớm bị bác bỏ.
Liệu những sai phạm đã và đang xảy ra tại Tổng cục 2 sẽ được Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN xem xét trong kỳ đại hội sắp tới, như mong ước của nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có không ít người đã qua đời? Chưa ai có thể trả lời câu hỏi này song với lối xử lý như vừa qua, câu chuyện về Tổng cục 2 chắc chắn chưa thể kết thúc. 

Đọc xong bài nầy thấy có vẻ như tài liệu rất chính xác, nhưng vào thời điểm nhạy cảm nầy, đây có thể là hỏa mù được tung ra vì những mục đích chính trị.

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

Đốt hầm Thủ Thiêm số 2 về đích an toàn



Đốt hầm số 2 đến vị trí lắp ráp - Ảnh: Nghĩa Phạm
(TNO) Lúc 12 giờ trưa nay (5.4), đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã về đến vị trí lắp ráp tại khu vực Mỹ Cảnh, Thủ Thiêm an toàn. Như vậy, hành trình lai dắt của đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã hoàn thành sớm hơn dự kiến đến 1 tiếng đồng hồ.
* Sáng nay (5.4), thêm một đốt hầm Thủ Thiêm nữa tiếp tục rời bể đúc Nhơn Trạch (Đồng Nai).
Nhóm phóng viên Thanh Niên Online đang theo sát hành trình lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 để đưa thông tin nhanh nhất đến bạn đọc.
5 giờ 30: Kỹ sư, công nhân... có mặt đầy đủ
Tại bể đúc Nhơn Trạch (Đồng Nai), từ 5 giờ 30 sáng, tất cả các kỹ sư, chuyên viên, công nhân tham gia vào việc lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã có mặt đầy đủ. Đốt hầm Thủ Thiêm đã được kéo lên khỏi bể đúc, neo đậu và mọi công tác kiểm tra kỹ thuật cho chuyến hành trình dài đều hoàn tất.
Ông Nguyễn Trung Tín, Phó chủ tịch UBND TP.HCM đã có mặt để kiểm tra, chỉ đạo và tham dự lễ xuất phát. Tất cả các sở, ban ngành có tham gia trong quá trình lai dắt và bảo đảm an toàn cho quá trình lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đều có mặt tại bể đúc đúng 6 giờ sáng.

  6 giờ sáng nay, đốt hầm nằm trên sông Nhà Bè, trong lúc thủy triều đang lên - Ảnh: Mai Vọng

7 giờ, đoàn tàu lai dắt bắt đầu đến vị trí neo đậu đốt hầm để làm nhiệm vụ - Ảnh: Mai Vọng

7 giờ 30, các lực lượng chức năng và phóng viên báo chí tập trung lại tại khu vực làm lễ xuất phát - Ảnh: Mai Vọng

7 giờ 32, ông Trần Quang Phượng, Giám đốc Sở GTVT TP.HCM bắn một phát pháo màu xanh, chính thức phát lệnh xuất phát lai dắt đốt hầm số 2 - Ảnh: Mai Vọng

Đoàn lai dắt bắt đầu xuất phát - Ảnh: Mai Vọng

Các lực lượng chức năng cũng bắt đầu lên canô làm nhiệm vụ - Ảnh: Mai Vọng

Đoàn lai dắt đi qua khu vực bến phà Bình Khánh; bến phà này cũng tạm ngưng hoạt động, chờ đoàn lai dắt đi qua - Ảnh: Mai Vọng

Đoàn lai dắt đang chậm chậm tiến về phía mũi Đèn Đỏ, H.Nhà Bè - Ảnh: Mai Vọng
Trao đổi với phóng viên Thanh Niên Online, ông Nguyễn Minh Giám, Phó giám đốc Trung tâm Khí tượng thủy văn Nam Bộ đánh giá: Con nước hôm nay tốt, không lên cao quá hay xuống thấp quá. Mặc dù thủy triều đang lên nhưng dòng chảy nhẹ. Đây là điều kiện thuận lợi cho công tác lai dắt đốt hầm số 2 của công trình hầm dìm vượt sông Sài Gòn.
7 giờ 32: Phát pháo lệnh
7 giờ 32 phút, một phát pháo lệnh màu xanh được ông Trần Quang Phượng, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải (GTVT) TP.HCM bắn bay lên cao về hướng đoàn lai dắt đã chờ sẵn trên sông. Đó là dấu hiệu để đốt hầm số 2 của công trình hầm dìm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn bắt đầu chuyến hành trình về vị trí lắp ráp của mình.

Đốt hầm Thủ Thiêm di chuyển trên sông tiến về cầu Phú Mỹ - Ảnh: Nghĩa Phạm
Người dân chờ đón đoàn lai dắt - Ảnh: Mai Vọng
Thời tiết TP.HCM sáng nay nắng đẹp, gió nhẹ. Đã biết trước lộ trình của đốt hầm cùng kinh nghiệm xem lai dắt từ đốt hầm Thủ Thiêm đầu tiên, nhiều người dân TP sống dọc bên bờ sông Sài Gòn, khu vực đốt hầm đi qua cũng chuẩn bị tập trung ra những điểm mốc đốt hầm đi qua, chọn cho mình vị trí đẹp nhất để cổ vũ đoàn lai dắt.
Trong khi đó, trên tuyến giao thông đường thủy trên sông Sài Gòn (đoạn luồng Sài Gòn - Vũng Tàu đến ngã ba Bình Khánh), từ 6 đến 12 giờ ngày 5.4, hoạt động lưu thông của các phương tiện thủy nội địa và tàu biển được tạm ngưng.
Việc tạm ngưng lưu thông được Cảng vụ hàng hải TP.HCM điều phối tiến hành cuốn chiếu tùy thuộc vào vị trí của đoàn lai dắt, bắt đầu từ ngã ba Bình Khánh.
Tất cả các phương tiện giao thông thủy đều đã được phổ biến vị trí neo đậu tạm thời khi đốt hầm đi qua. Trong quá trình lai dắt, Ban quản lý dự án sẽ bố trí 3 chốt cảnh giới cơ động đi kèm theo đốt hầm trong suốt hành trình 22 cây số, đó là chưa kể 11 chốt cố định được trang bị ca-nô tuần tiễu và cả tàu lai kéo để can thiệp khi cần thiết (gồm 4 chốt có sẵn lâu nay).
9 giờ 50: Đốt hầm qua cầu Phú Mỹ
Khoảng 9 giờ, tại khu vực cầu Phú Mỹ, toàn bộ cầu đã được phong tỏa. Nhằm đảm bảo an toàn cho đốt hầm đi qua, người dân được phép lưu thông nhưng không được đứng trên cầu Phú Mỹ trong thời gian này.


 9 giờ 35, đốt hầm qua cầu Phú Mỹ - Ảnh: Diệp Đức Minh

9 giờ 37, đốt hầm vào cảng - Ảnh: Diệp Đức Minh
Dưới sông, lực lượng Cảnh sát Giao thông đường thủy và Cảng vụ hàng hải TP.HCM cũng hướng dẫn các phương tiện lưu thông neo đậu cập bờ, không lưu thông khi đoàn lai dắt đi qua.
Đứng từ chân cầu Phú Mỹ, phóng viên Thanh Niên Online bắt đầu thấy những chiếc ca-nô cảnh giới xuất hiện trước tiên từ phía xa. Sau đó là tàu kéo và người quan sát bắt đầu thấy hình ảnh hai cột định vị phía trên đốt hầm số 2 dần chui qua cầu Phú Mỹ.
Cầu Phú Mỹ là một vị trí quan trọng và khó vượt qua trên chặng đường lai dắt đốt hầm.
Lúc 9 giờ 30, đoàn lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã vượt qua vị trí ngã ba sông Sài Gòn (Ngã ba Đèn đỏ) và đang tiến gần tới cầu Phú Mỹ.
Lúc 9 giờ 50, đoàn lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã vượt qua cầu Phú Mỹ trong cái thở phào của mọi người tham gia và đứng xem.
Đốt hầm đang dần tiến về cảng VICT.
10 giờ 40: qua cảng VICT
Trên khúc sông hẹp để qua cảng VICT, đoàn lai dắt di chuyển với tốc độ chậm. Đoàn đến cảng VICT vào khoảng 10 giờ 40. Sau đó, đốt hầm tiếp tục hướng về cầu Tân Thuận (Q.7) và đến đây lúc 11 giờ 20.
Như vậy, so với khi lai dắt đốt hầm đầu tiên, do cùng di chuyển trên lộ trình cũ nên đoàn lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 có tốc độ đi nhanh hơn. Đoàn chỉ mất khoảng 1 giờ 30 phút để đi quãng đường từ cầu Phú Mỹ đến cầu Tân Thuận (Q.7).
Hiện phóng viên Thanh Niên Online đang chờ đoàn lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 tiến vào khu vực Bến Nhà Rồng để đi qua khúc sông Sài Gòn ở trung tâm TP.
12 giờ: đến vị trí lắp ráp
Vào lúc 12 giờ trưa nay (5.4), đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã về đến vị trí lắp ráp tại khu vực Mỹ Cảnh, Thủ Thiêm.
Như vậy, chuyến hành trình của đốt hầm Thủ Thiêm số 2 đã hoàn thành sớm hơn dự kiến đến 1 tiếng đồng hồ. Đốt hầm đã di chuyển trên chặng đường suôn sẻ.
Tại vị trí lắp ráp hầm dìm Thủ Thiêm, lực lượng hoa tiêu, tàu cảnh giới, người nhái và các chuyên gia,... đang đưa đốt hầm vào vị trí của mình.
Chiều nay, đốt hầm sẽ được được xoay chuyển từ phương dọc (theo dòng sông) sang phương ngang (vào vị trí kết nối) và neo lại trên sông.
Quá trình dìm đốt hầm số 2 dự kiến diễn ra trong 15 giờ, bắt đầu khoảng 7 - 9 giờ ngày 6.4 và hoàn tất lúc 23 giờ cùng ngày.
* Mọi hoạt động lưu thông tàu biển và các phương tiện thủy nội địa khác quanh khu vực dìm hầm sẽ tạm ngưng trong 36 giờ (tức dự kiến vào khoảng 12 giờ ngày 5.4 đến 0 giờ ngày 7.4).


Đoàn lai dắt đang từ từ chui dưới cầu Phú Mỹ - Ảnh: Nghĩa Phạm

Lực lượng CSGT đường thủy phong tỏa khoảng sông Sài Gòn cho đoàn lai dắt đi qua - Ảnh: Nghĩa Phạm

Đoàn lai dắt đốt hầm số 2 chui qua cầu Phú Mỹ trước con mắt trầm trồ của người dân đứng xem - Ảnh: Nghĩa Phạm

Người dân ngồi uống nước bên bờ sông Sài Gòn (Q.2) chờ đoàn lai dắt- Ảnh: Nghĩa Phạm
Hai cột định vị phía trên đốt hầm số 2 sừng sững trước cầu Phú Mỹ - Ảnh: Nghĩa Phạm

Đoàn lai dắt đốt hầm chui qua cầu Phú Mỹ an toàn - Ảnh: Nghĩa Phạm
Chờ đoàn lai dắt hầm qua khu vực Bến Nhà Rồng - Ảnh: Nghĩa Phạm

Đốt hầm về đến trung tâm TP.HCM - Ảnh: Nghĩa Phạm
Các công nhân chờ đốt hầm tại vị trí lắp ráp - Ảnh: Nghĩa Phạm

Đốt hầm vào khu vực Mỹ Cảnh, Thủ Thiêm... - Ảnh: Nghĩa Phạm
Dần tiến vào vị trí lắp ráp... - Ảnh: Nghĩa Phạm
Về đến vị trí lắp ráp an toàn - Ảnh: Nghĩa Phạm
12 giờ 40, đốt hầm được xoay từ phương dọc sang phương ngang, nằm ngang giữa dòng sông Sài Gòn - Ảnh: Mai Vọng
* Được biết, đốt hầm Thủ Thiêm số 2 được lai dắt trên 22km đường sông, qua 5 quận, huyện của TP.HCM (huyện Nhà Bè, Q.1, Q.2, Q.4 và Q.7) để đến vị trí lắp ráp tại khu vực Mỹ Cảnh, Thủ Thiêm.

Theo đánh giá của Ban QLDA Đại lộ Đông Tây và Môi trường nước TP.HCM, quá trình lai dắt đốt hầm số 2 sẽ khó khăn, phức tạp hơn đốt hầm số 1 vì đốt hầm được neo đậu ở giữa sông. Đây là khu vực nước sâu nhất và dòng chảy rất xiết.
Vị trí đốt hầm số 2 nằm ở giữa sông nên việc xoay chuyển và bảo đảm an toàn trong quá trình lắp đặt đốt hầm vào đúng vị trí kết nối cũng sẽ khó khăn hơn so với đốt hầm số 1. Do vậy, tàu dự phòng và lực lượng hoa tiêu, CSGT đường thủy... vẫn sẽ làm nhiệm vụ cảnh giới trong suốt quá trình dìm hầm cho tới khi đốt hầm được dìm vào vị trí an toàn và hai cột định vị được tháo gỡ.
Đoàn lai dắt đốt hầm số 2 có 4 tàu kéo chính, 1 tàu kéo dự bị, 2 tàu đẩy cảnh giới và 5 ca-nô cao tốc làm nhiệm vụ dẫn đường và cảnh giới từ vị trí bể đúc hầm đến vị trí dìm hầm.

Các đốt hầm khi còn nằm tại bể đúc - Ảnh: Diệp Đức Minh
Hai mươi bốn cơ quan và đơn vị chức năng đã được UBND TP.HCM huy động tham gia công tác lai dắt nhằm đưa đốt hầm số 2 đến vị trí lắp đặt an toàn.
Trong đợt lai dắt đốt hầm số 2 này có thêm sự tham gia của Đài Khí tượng Thủy văn Nam Bộ để cập nhật các số liệu quan trắc về mưa, gió, dòng chảy và trường ĐH Giao thông Vận tải, ĐH Bách khoa TP.HCM, Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật TP.HCM đi theo để nghiên cứu quá trình thực hiện công trình.


Hầm Thủ Thiêm còn có những điểm thú vị so một số hầm dìm vượt biển tại Hồng Kông và Sydney (Úc). Cụ thể:
- Mỗi đốt hầm Thủ Thiêm nặng hơn 27.000 tấn, trong khi mỗi đốt hầm tại Hồng Kông (xây xong năm 1982) nặng chỉ 20.000 tấn.
- Chiều rộng của đường hầm Thủ Thiêm là 33m (6 làn xe), đường hầm tại Sydney (xây dựng xong 1992) chỉ rộng 4 làn xe.
- Quá trình lai dắt các đốt hầm Thủ Thiêm từ bể đúc đến vị trí dìm xuống sông được xem là xa nhất với 22 km.
Mai Vọng

Đốt hầm số 2 dài 92,4m; rộng 33,3m và cao 9,1m.
Đường đi của đốt hầm được chia làm hai đoạn. Đoạn 1 từ vị trí bể đúc đến ngã ba sông Sài Gòn (còn gọi là Ngã ba Đèn đỏ). Đây là tuyến giao thông khá rộng nên sẽ tổ chức lưu thông theo từng khu vực, vận tốc di chuyển dự kiến của đoàn lai dắt là 5,5 km/giờ.
Đoạn 2 từ ngã ba sông Sài Gòn đến vị trí lắp đặt, luồng hẹp và có nhiều đoạn bờ sông uốn cong nên sẽ cấm mọi phương tiện lưu thông khi đoàn lai dắt đốt hầm đi qua, vận tốc di chuyển của đoàn lai dắt là 3,7 km/giờ.

- Chiều 29.3, đốt hầm Thủ Thiêm số hai đã được kéo lên khỏi bể đúc để kiểm tra kỹ thuật, chuẩn bị cho việc lai dắt, lắp đặt.
- Ngày 4.4, Ban chỉ đạo thực hiện lai dắt, thi công lắp đặt các đốt hầm dìm đã tổng kiểm tra toàn bộ tuyến luồng, lộ trình lai dắt.
Dự kiến hành trình lai dắt (ngày 5.4)
7 - 8 giờ: Lễ xuất phát quá trình lai dắt đốt hầm Thủ Thiêm số 2 tại bể đúc Nhơn Trạch (Đồng Nai)
8 - 9 giờ: Đoàn lai dắt đến khu vực cảng đóng tàu An Phú
8 giờ 40 - 9 giờ 40: đến Ngã ba Đèn Đỏ
9 giờ 40 - 10 giờ 40: đến cầu Phú Mỹ
11 giờ 30 - 12 giờ 30: đến cảng VICT
13 - 15 giờ: đến vị trí lắp đặt tại khu vực Mỹ Cảnh, Thủ Thiêm
Đưa đốt hầm vào vị trí lắp ráp (ngày 5.4)
15 - 18 giờ: đốt hầm được xoay chuyển từ phương dọc (theo dòng sông) sang phương ngang (vào vị trí kết nối) và neo lại trên sông
Dìm hầm (ngày 6.4)
7 - 9 giờ: bắt đầu quá trình đánh dìm đốt hầm Thủ Thiêm số 2
23 giờ: hoàn thành việc dìm hầm
* Mọi hoạt động lưu thông tàu biển và các phương tiện thủy nội địa khác quanh khu vực dìm hầm sẽ tạm ngưng trong 36 giờ (tức dự kiến vào khoảng 12 giờ ngày 5.4 đến 0 giờ ngày 7.4).

Hầm Thủ Thiêm là hạng mục chính của gói thầu số 4 (xây dựng hầm vượt sông Sài Gòn và đường mới Thủ Thiêm). Gói thầu có tổng trị giá 2.083 tỉ đồng, do nhà thầu Obayashi (Nhật Bản) thực hiện.

Phối cảnh hầm dìm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn sau khi hoàn thành - Ảnh: Mai Vọng
Hầm có tổng chiều dài 1.490m, bao gồm 2 đoạn hầm dẫn phía Q.1 (dài 585m), phía Thủ Thiêm (535m) và đoạn hầm dìm (370m) chia làm 4 đốt hầm. Công trình còn có 2 tháp thông gió và nhiều hệ thống kỹ thuật khác. Ngoài ra, trong đường hầm còn có đường kiểm tra và khoang thoát hiểm.

Đốt hầm dìm là kết cấu bê tông cốt thép, có nhiều ngăn rỗng. Đường hầm dạng hộp đôi rộng 33,3m, bố trí 3 làn xe mỗi hướng.


Hầm được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cấp I, vận tốc lưu thông 60 km/giờ.


Là công trình hầm vượt sông đầu tiên của Việt Nam và lớn nhất Đông Nam Á, để thành hình, hầm Thủ Thiêm phải trải qua cả một chặng đường dài.

Thanh Niên Online xin điểm qua những cột mốc quan trọng trong quá trình thực hiện công trình này:

- Ngày 13.9.2007, tại xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, nhà thầu Obayashi (Nhật Bản) đã đổ mẻ bê tông đầu tiên của đốt hầm dìm Thủ Thiêm.


Đổ bê tông đúc đốt hầm đầu tiên của công trình hầm Thủ Thiêm qua sông Sài Gòn - Ảnh: Mai Vọng
- Ngày 7.3.2010, đốt hầm Thủ Thiêm đầu tiên được lai dắt từ bể đúc Nhơn Trạch (Đồng Nai) về khu vực xây dựng hầm vượt sông Sài Gòn (bờ phía Thủ Thiêm, Q.2). Việc đánh dìm đốt hầm số 1 kéo dài từ 9 giờ sáng đến 23 giờ đêm 8.3 và được kết nối thông với hầm dẫn phía Thủ Thiêm vào ngày 10.3.

Trong lòng đốt hầm Thủ Thiêm số 1 sau khi được dìm và nối thông với hầm dẫn phía Thủ Thiêm - Ảnh: Diệp Đức Minh

- Đốt hầm số 2 được lai dắt vào ngày 5.4, dìm hầm vào ngày 6.4.

- Dự kiến, đốt hầm số 3 được kết nối vào ngày 4.5, dìm hầm vào ngày 5.5; đốt hầm cuối cùng được lai dắt về vào ngày 4.6, dìm hầm vào ngày 5.6.


- Hầm chui vượt sông Thủ Thiêm dự kiến hợp long vào tháng 8.2010 và thông xe kỹ thuật vào tháng 2.2011.


- Đến khoảng tháng 4.2011, toàn bộ dự án Đại lộ Đông Tây sẽ hoàn thành, dài 21,9 km, từ nút giao với Quốc lộ 1A (huyện Bình Chánh), xuyên vào trung tâm TP, vượt sông Sài Gòn và nối vào xa lộ Hà Nội tại nút giao Cát Lái (Q.2).
Viên An - Mai Vọng - Diệp Đức Minh - Nghĩa Phạm

Thứ Hai, 29 tháng 3, 2010

Tự sự nhức lòng của tiến sĩ ‘ngoại’ trở về ĐH lớn

2010 là năm đầu tiên trong “cuộc cải tổ 3 năm ở bậc đại học” được Chính phủ ra chỉ thị, ban cán sự Đảng Bộ GD-ĐT thảo nghị quyết. Tại hội nghị triển khai chỉ đạo của Thủ tướng đầu tháng 3, Bộ trưởng đã “rủ” hiệu trưởng đổi cách quản nhau. Trên diễn đàn chính thống, lãnh đạo các trường ĐH sôi nổi nói chuyện “đổi mới”. Với giáo giới ở giảng đường, dưới đây, VietNamNet giới thiệu một tâm tư.

Tôi đã trải qua một năm tập sự vô vàn khó khăn để trở thành giảng viên chính thức của một trường ĐH lớn ở Việt Nam. Mặc dù, sau sáu năm mài dùi tiến sĩ ở nước ngoài, từng đứng bục giảng tại một trường ĐH lớn của châu Âu, cho đến giờ, tôi cảm thấy quyết định trở về nước làm việc của mình đang nhuốm màu sai lầm, vì những điều ở bên ngoài mình.

Mô tả ảnh.

Tọa đàm “Phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên trẻ trong công cuộc xây dựng và phát triển thành phố” do Thành đoàn TP.HCM tổ chức ngày 19/11. Ảnh: MQ

Những người làm khoa học đích thực đều mong muốn có một công việc đúng với ngành nghề, khả năng chuyên môn mà họ đã học. Thứ hai là có đủ mức thu nhập tương xứng ổn định mà không phải mất thời gian ra ngoài để kiếm tiền và tất nhiên việc này sẽ ảnh hưởng tới thời gian nghiên cứu.

Tôi chỉ xin làm một bản so sánh như thế này:

Một giảng viên ĐH tại Singapore

Một giảng viên ĐH Việt Nam

Làm việc 40h/tuần trong đó tối đa 8h đứng lớp giảng bài

Làm việc tối thiểu 900h/1 năm

Tối đa “phải” hướng dẫn 2 sinh viên làm tốt nghiệp đại học và 1 sinh viên Master

Trung bình 20 đến 25 SV/2 giảng viên; hướng dẫn 5 master/ 1năm

Lương khởi điểm trung bình 1500 USD đến 3000 USD/ 1 tháng, tăng theo từng năm

2,34 x650 nghìn, trợ cấp 30% lương giảng dạy

Chi phí nghiên cứu một năm ít nhất $10,000. Được toàn quyền sử dụng số tiền vào các vấn đề liên quan đến nghiên cứu, ví dụ: đi hội nghị, thuê mướn sinh viên, mua sắm máy móc,..

Dự án nghiên cứu 30 đến 300 triệu, tùy vào năng lực cá nhân và khả năng “mối quan hệ” đến đâu

Có 1 office riêng, 1 desktop, 1 laptop, 1 đường truyền high-speed Internet. 3 năm đổi máy tính 1 lần; . Gia đình (vợ & con) được sử dụng miễn phí các cơ sở vật chất trong trường

Văn phòng chung rộng 20 đến 30 m2, không trợ lý, không lab…

Được toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan đến chuyên môn

Bị chi phối bởi các quy định, thủ tục hành chính và những  mối quan hệ cá nhân “nhạy cảm”  trong cơ quan

Nhà trường trả 100% chi phí bảo hiểm y tế (loại tốt) cho cả gia đình (vợ và con).

Bảo hiểm trừ vào lương hàng tháng

Cam kết làm việc trong 5 năm, mỗi năm có ít nhất 1 bài báo tại hội nghị quốc tế hàng đầu

Không có cam kết

Nếu kiếm được hợp đồng nghiên cứu từ bên ngoài thì trả 30% giá trị cho trường & được toàn quyền sử dụng các cơ sở vật chất liên quan

Còn phải tùy vào mối quan hệ với nhà trường đến đâu

Lương không đủ sống

Chỉ cần nhìn vào bảng so sánh này, tôi cho rằng, mức lương cho một tiến sĩ Việt Nam đã từng nghiên cứu và giảng dạy ở nước ngoài (tức là đã có một chuyên môn và năng lực được khẳng định) hiện đang được Nhà nước trả với tính chất cào bằng ở mức độ thấp nhất thế giới.

Với mức lương này, tôi không đủ sống và không thể nuôi nổi vợ con mình trong điều kiện giá cả đắt đỏ như hiện nay. Đó là chưa kể nếu giảng viên nào còn chưa có nhà hoặc phải cáng đáng toàn bộ chuyện nuôi vợ con, cha mẹ.

Và để tồn tại được, tôi đã mải miết lao vào kiếm tiền đủ mọi cách, từ việc dạy thêm, làm thêm cho các công ty nước ngoài, mặc dù tôi biết cái giá phải trả là rất đắt. Con người nghiên cứu của một tiến sĩ khoa học đúng nghĩa trong tôi cứ mòn mỏi đi hàng ngày bởi những mưu sinh cơm, áo, gạo, tiền.

Ở đâu cũng vậy, tôi nghĩ thế, tốt nhất là được làm gần với chuyên ngành của mình. Thế nhưng ở Việt Nam, cái áp lực về giảng dạy và nghiên cứu trong một trường đại học quá lớn, tôi nhận thấy như vậy, nó không hợp lý.

Một giảng viên tính tỷ lệ phải giảng dạy và hướng dẫn sinh viên là quá nhiều, nhất là giáo viên mới về. Nếu là hệ chính quy, cao học còn đỡ nhưng ở đây là rất nhiều hệ nữa, cao đẳng, văn bằng 2, tại chức… cứ liên miên hết lớp này sang lớp khác. (Phải chăng vì đang là giảng viên tập sự nên tôi cũng được giao nhiều giờ dạy hơn những giảng viên chính thức khác?)

Đáng nhẽ, thời gian người giảng viên có thể dành để nghiên cứu thì lại phải đi hướng dẫn những sinh viên mà trong đó có nhiều người tôi cảm thấy mục đích học tập của họ không phải là lấy kiến thức mà lấy tấm bằng là chính.

Một vấn đề nữa là số lượng người phải hướng dẫn ở vào một thời điểm quá lớn. Ví dụ một tiến sĩ tại một khoa công nghệ thông tin ở đại học một lúc có thể phải hướng dẫn 15 – 20 sinh viên một lúc, thực tập, tốt nghiệp…

Thủ tục “hành là chính”

Một vấn đề nữa khiến một giảng viên trẻ như tôi hết sức bức xúc là thủ tục hành chính trong trường ĐH hiện nay quá nhiều rắc rối về thủ tục. Một người đã làm tiến sỹ ở nước ngoài, thậm chí đã làm trợ lý giáo sư, đã giảng dạy bằng tiếng Anh cho các SV quốc tế, nhưng khi trở về nước người ta lại bắt làm lại từ đầu, giống như một người mới tốt nghiệp đại học ở lại trường, cũng một năm tập sự, cũng kiểm tra thử, nộp báo cáo, thủ tục giấy tờ… Tất cả các việc đó đều chiếm rất nhiều thời gian và gây ức chế cho những người có tài thực sự. Tại sao chúng ta lại phải kiểm tra lại, làm ngược lại, trong khi quốc tế đã công nhận trình độ của anh tiến sĩ đó?

Một năm tập sự của tôi không biết có bao nhiêu lượt người xuống dự giờ, mỗi giờ một ông, từ phòng đào tạo, đến khoa bộ môn, đến viện nghiên cứu.

Trong khi, người ta có thể tổ chức một lần cho bốn bộ phận chức năng này cùng dự một giờ, vừa tiết kiệm thời gian, vừa mang lại hiệu quả.

Thêm nữa, tôi thấy nhiều người có thẩm quyền ngồi dưới không hiểu giảng viên đang giảng về cái gì nhưng người ta vẫn được góp ý về phương pháp giảng dạy, soi ở khía cạnh này, khía cạnh khác…

Cái ưu điểm của tôi ở châu Âu là tinh thần tự do, dám nói thẳng, nói thật thì về VN lại trở thành yếu điểm liên tục bị tấn công và công kích. Trong một năm làm tập sự, tôi đã góp ý nhiều cho khoa và trường, đâm ra, tôi lại trở thành phần tử bị ghét. Họ “soi” tôi từng tý một, từ việc có đi dạy đúng giờ không, ăn mặc đúng quy cách không, dạy có đủ số giờ, số tiết không và “nhăm nhăm” tìm ra những “khuyết điểm tủn mủn” của tôi để gây khó dễ…

“Quota” nghiên cứu theo ekip

Một vấn đề nữa khiến tôi rất thất vọng là thực tế nghiên cứu khoa học ở VN hiện nay. Thứ nhất là tìm được người đồng nghiệp cùng sở thích cùng đam mê là rất khó. Nhiều khi ở VN là chỉ định, là ép anh B, anh C hoàn toàn không cùng sở thích, cùng lĩnh vực…nghiên cứu một đề tài với nhau. Như thế rất khó mà làm cùng nhau được và  rất khó có kết quả tốt.

Thứ hai là viết đề cương, nhiều khi ở cấp trường, cấp cơ sở coi thành tựu nghiên cứu khoa học như quota, ví dụ năm nay anh viết đề tài rồi thì sang năm phải để cho người khác, dù là họ viết rất dở nhưng đến lượt thì họ vẫn được làm, nó là như vậy. Thế còn ở cấp cao hơn thì lại gặp phải vấn đề khác, nhiều khi tế nhị, nhạy cảm hơn, nhiều khi có những cây đa, cây đề lớn quá, có khi họ cũng là thầy của những người trẻ đi sau, nên người sau muốn làm thì cũng không được, lại sợ bị mang tiếng là không tôn trọng người đi trước…

Tôi chưa dám nói đến những vấn đề thuộc định hướng của Chính phủ, như hỗ trợ, tài trợ. Nhưng khi có lượng tiền tài trợ cho một giai đoạn thì cái nguy hiểm nhất hiện nay là cách suy nghĩ cách phân bổ đề tài, chia bổ đầu người, bất kể người ta có làm được hay không.

Cái quyền đó lại phụ thuộc vào một số ít người, những người đó lại dựa vào vị trí chứ bản thân họ lại rời xa cái lĩnh vực nghiên cứu từ lâu rồi.

Bỏ ra gần 10 năm để học tập và miệt mài đi theo con đường nghiên cứu, tôi chỉ muốn trở về xây dựng và đóng góp cho quê hương theo những lý tưởng sáng trong nhất của tuổi trẻ. Nhưng với những cản trở “phi học thuật” còn tồn tại nhức nhối trong môi trường giảng dạy và nghiên cứu ở VN như hiện tại, thì những người có tâm và có tài thực sự sẽ lần lượt khăn gói ra đi mà không phải ân hận về bất cứ một điều gì với lương tâm mình.

Anh có cảm thấy mình đã phải thay đổi để thích ứng với môi trường làm việc như vậy?

Bản thân tôi vẫn sống và làm việc theo cách của tôi, nghĩa là mình vào làm việc trong một môi trường nào đó thì không thể bắt nó thay đổi vì mình, mà mình phải tìm cách để thích ứng.

Nhưng thích ứng của tôi là có nguyên tắc, đó là tuyệt đối không bao giờ thỏa hiệp với những cái thuộc về tư cách, bản chất, ví dụ như công việc giảng dạy, nghiên cứu, tôi vẫn làm với đúng tư cách của một nhà khoa học, một giảng viên.

Còn trong trường hợp buộc phải thỏa hiệp để tồn tại thì tôi sẽ nhất định không thỏa hiệp, tôi sẽ ra đi.

  • Sơn Khê (Ghi)

    http://vedinh.wordpress.com

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Sóng về đâu??? Hay những vùng quê không yên tỉnh!

Những ngày qua bạn hữu từ khắp bốn phương trời đã báo về những tin tức mà tôi không muốn nghe chút nào: 

bọn buôn bán ma túy đã chuyển địa bàn hoạt động về những miền quê, nhất là những thị trấn nhỏ lẻ và cả trong miệt vườn, ngày xưa yên bình thanh thản vô nhiễm với bụi thành phố. Thủ đoạn của bọn chúng là cái quy trình khép kín: 

Ghiền --> trở thành kẻ bán lẻ để có tiền hút chích-->dụ người khác ghiền để bán được hàng. Và cứ như thế mạng lưới của chúng đang lan tõa khắp nơi. Một biểu hiện dễ nhận thấy nhất ở những địa phương nầy là nạn trộm cắp gia tăng với cấp số nhân.

Chính quyền đang mất kiểm soát? Hay đang bỏ lơ vấn đề nầy vì mắc kẹt trong những việc quan trọng hơn? Không biết! Chỉ biết là ngày qua ngày MA TÚY đang hủy hoại nhiều thế hệ trẻ của Việt Nam.
• Cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của ký ức chống lại sự lãng quên.

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

THƯƠNG TIẾC



Cách 1.- Đọc Xuôi :
Vương tình lệ thảm, khóc hồn oan.
Nát rữa đời xuân, mộng dở dang !
Sương khói lạnh mờ, mây khuất nguyệt,
Gió mưa sầu rũ, phiếm rơi đàn !
Gương hờn tủi phận, vùi son phấn,
Luợc trách buồn duyên, lỡ đá vàng !
Hương sắc đắm chìm, thân mệnh bạc,
Thương lòng xót liễu, rụng đài trang !
Cách 2.- Đọc Ngược :
Trang đài rụng liễu xót lòng thương.
Bạc mệnh thân chìm, đắm sắc hương !
Vàng đá lỡ duyên buồn trách lược,
Phấn son vùi phận, tủi hờn gương !
Đàn rơi phiếm rũ, sầu mưa gió,
Nguyệt khuất mây mờ, lạnh khói sương !
Dang dở mộng xuân, đời rữa nát.
Oan hồn khóc thảm, lệ tình vương !

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2010

NHẬT KÍ TIỀN XU......

14/3
Tại sao lại là 14/3? Đơn giản vì ngày đó tôi tìm ra nó, cuốn nhật kí bé xíu, dơ bẩn và lem luốt.

 15/3
Đi khám về, chả tìm thấy bệnh gì, chắc mình là người bệnh tưởng.

16/3
Bắt đầu tập chơi ô chử. Nhưng chỉ được vài phút là phải nghĩ vì nhức đầu quá.

17/3
Tập đọc chử ngược bằng cách lật ngược tờ báo. Cách nầy thì vừa sức nên đọc hết được một trang báo. tuy nhiên buồn ngũ quá, ríu mắt cả lại.

20/3
Lạ thật càng ngày mình càng hay quên, cả những việc vừa mới xãy ra cách đây có vài tiếng đồng hồ.

21/3
Bắt đầu chơi blog. từ sau khi 360 chết tới giờ mới chơi lại. Kể cũng ngộ bạn bè rủ cũng có mà người lạ rủ cũng có. Điểm mặt các anh hào thấy Multi khá nhất thế là chơi. Và mò......

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2010

Cho Trung Quốc thuê rừng biên giới


Thông tin về việc hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh đã cùng với nhiều tỉnh khác âm thầm cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) để trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 305 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha, ở các tỉnh miền biên giới.
RFA photo from gis.chinhphu.vn
Bản đồ vùng biên giới Lạng Sơn, Quảng Ninh và Trung Quốc
Mặc Lâm theo dõi câu chuyện qua bài phỏng vấn Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người cùng với Trung Tướng Đồng Sĩ Nguyên vừa gửi kiến nghị lên Ban Bí Thư yêu cầu làm rõ việc này.
Hơn 300 nghìn ha rừng đầu nguồn
Mặc Lâm: Thưa Thiếu Tướng, cám ơn ông đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Thưa ông, mới đây có thông tin cho biết mười tỉnh dọc biên giới và có tỉnh ở đầu nguồn đã âm thầm cho Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê rừng trong thời hạn 50 năm. Thiếu tướng cùng với Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã gửi thư kiến nghị lên thủ tướng chính phủ, xin ông cho biết thêm một ít chi tiết về việc này.
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Cái này là do các tỉnh họ làm. Tất nhiên trách nhiệm thuộc về Thủ tướng vì thủ tướng không quản lý được nên các tỉnh cứ bán đi.
Mặc Lâm: Vâng thưa Thiếu tướng, theo văn bản mà chúng tôi được biết thì số lượng rừng đầu nguồn cho các nước thuê lên tới 264 ngàn héc ta rừng đầu nguồn. Động thái này quá nguy hiểm và ai cũng thấy rằng khi cho thuê rừng đầu nguồn như vậy thì hạ nguồn sẽ gặp khó khăn nhất là vấn đề chặt cây, phá rừng ô nhiễm môi trường và an ninh quốc phòng. Thông tin mà Thiều tương nhận được thì độ khả tín có cao hay không thưa ông?
Sông Kỳ Cùng chảy qua bản Phạc Giàng, Tỉnh Lạng Sơn
Sông Kỳ Cùng chảy qua bản Phạc Giàng, Tỉnh Lạng Sơn

Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Anh hỏi là nó có chính xác hay không ? Cái này là lá thơ đầu tiên của đồng chí Đồng Sỹ Nguyên phát hiện tỉnh Quảng Ninh và Nghệ An bán thôi, thì báo cáo lên Bộ Chính Trị thì bộ trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn mới cử đoàn liên ngành đi kiểm tra các tỉnh thì sau khi về kết luận là như thế. Đây là kết luận của bộ trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chứ không phải tự ai nghĩ ra đâu. Chúng tôi cũng căn cứ vào cái báo cáo này của ông Bộ trưởng

Mặc Lâm: Thưa Thiếu Tướng nếu độ chính xác 100% như vậy thì thiếu tướng đã hội ý với trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và vấn đề này liên quan đến quốc phòng rất là rõ.
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Cả quốc phòng cả tai nạn cho nhân dân ở miền hạ du. Cả cạn nước các nguồn thuỷ lợi. Tôi đã nói đầy đủ trong cái thơ của tôi gửi cho trung ương.
Mặc Lâm: Thiếu tướng đã gửi cho trung ương vậy ông đã nhận được phản hồi hay chưa?
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Chưa có..chúng tôi gửi, đồng chí Nguyên cũng gửi cho trung ương, tôi cũng gửi cho trung ương phân tích lợi hại. Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên cũng như tôi đề nghị dừng ngay lập tức hay là huỷ những hợp đồng ấy đi. Còn nhà cầm quyền người ta giải quyết như thế nào thì tôi chưa biết
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, sau khi cái thư gửi đi nếu không nhận được bất cứ một phản hồi nào từ trung ương như xưa nay thường gặp thì bước kế tiếp sẽ là gì?
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thì những việc chúng tôi đã làm thì làm được cả rồi. Gửi cho Bộ Chính Trị, mang lên mạng như ông thấy đó. Chúng tôi chỉ biết làm đến thế thôi chứ làm hơn nữa thì không biết thế nào hơn nữa!
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/China-Hongkong-and-Taiwan-to-lease-Vietnam-riverhead-forest%20-02122010120853.html
*

11/02/2010

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Bauxite Việt Nam

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.


( Hình. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên)

Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?

Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.

(Hình.Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh)


Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:

1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.

2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.


Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?


Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.

Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 2010
Đồng Sĩ Nguyên - Nguyễn Trọng Vĩnh
http://vanhoavn.blogspot.com/

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Tiếng ru con ở chùa Bồ Đề


SGTT - Chùa Bồ Đề nằm ở bên kia sông Hồng, cách phố cổ một cây cầu và vài ngõ phố. Chùa cổ, sau này tách ra hai phần: phần đạo và phần đời.
Trẻ bị bỏ rơi được chăm sóc bởi những người mẹ tự nguyện ở chùa Bồ Đề
Tôi hỏi sư thầy, một đứa trẻ đáp: “Sư thầy Đàm Lan đang ở Pháp, có sư bác Đàm Chín ở nhà thôi, sư bác đang viết sớ, vì sáng hôm qua con mở cổng chùa có một bé gái đỏ hỏn gói chăn và lá chuối ai đó vứt bỏ ngay cửa. Nhà chùa lại đi xin sữa nuôi. Bà để con đưa bà đi nhá”. “Con tên gì?” – “Con tên Nam, vẫn thầy Đàm Lan khai sinh tên cho con. Con học lớp một, mười ba tuổi”.
Phần đạo, nơi chùa chính thờ Phật pháp, vương triều nhà Trần, tam toà thánh Mẫu. Về phần đời, chùa có một ngôi nhà hai tầng dành cho hơn trăm đứa trẻ bị bỏ rơi. Thêm mười lăm cụ già không chốn nương thân, họ ở cả giường sắt hai tầng. Ngày rét các cụ nằm đắp chăn như những đống lá khô tú hụ. Phía ven sông là nhà bếp. Tôi trò chuyện với những người mẹ trẻ tình nguyện trong căn phòng nhỏ. Cứ 10 mét vuông kê ba giường, chỉ còn lại một lối đi nhỏ, còn là võng và cứ một mẹ trẻ chăm ba đứa con thơ. Chị Lê Thị Giang, ba mươi tuổi ở Nghệ An, đến chùa được nửa năm rồi, mình chị chăm nuôi ba đứa. Một đứa tuổi rưỡi, không ngồi được, dị tật. Một đứa bé gái mới hơn một tháng, mắt đen láy xinh xắn. Giang nói tháng trước bị bỏ lại cửa chùa, con bé trông đỏ hỏn, có hai ngày tuổi, nom sợ lắm. Thầy Đàm Lan chưa đặt tên, còn thằng cu kia tên là Nâu, vì da nó đen. Rồi thầy sẽ đặt tên đi học cho Nâu. Còn con bé Ngọc Anh kia, nhanh nhẹn, thầy nhắm cho đi học đại học Phật giáo. Nhà chùa có hai đứa đang theo học đại học. Học xong, có đứa trở về chùa phục vụ, có đứa chuyển ngành, có đứa ra nước ngoài làm con nuôi.
Bao nhiêu năm rồi, bao nhiêu đứa trẻ lớn lên ở chùa Bồ Đề, thầy Đàm Lan gửi cho chúng đi học nghề, có đứa nhà chùa đứng ra dựng vợ gả chồng. Ngày tết chúng về với thầy Lan như về nhà với mẹ. Con cái chúng gọi thầy Đàm Lan là “ngoại”.
Chị Thu Cúc muốn về ăn tết ở Lạng Sơn, thăm lại gia đình lớn. Chị sống đơn thân, bị bệnh tim, chữa mãi ở bệnh viện Bạch Mai, đọc báo biết chuyện chùa Bồ Đề nên xin ở lại đây chăm nuôi trẻ. Ba đứa trẻ kêu mẹ Cúc cho đi chơi. Bánh kẹo, phẩm oản hoa quả nhà chùa trẻ con không thiếu. Hơn hai mươi đứa trẻ từ ba ngày tuổi đến bảy tuổi, đều được những người mẹ trẻ tình nguyện đến chùa nuôi dưỡng.
Nhìn Giang loay hoay với cu Nâu, với bé gái một tháng tuổi, chân đưa võng, miệng à ơi, tay thay tã cho con, tay đưa cho đứa trẻ tàn tật quả bóng, mới thấy bản năng yêu thương ở con người. Quê Giang ở Anh Sơn – Nghệ An, đói khổ lắm, được bạn mách cho, Giang tìm đến chùa Bồ Đề xin việc. Giang bảo cũng có những sinh viên không có tiền ở trọ, họ vào chùa xin trông trẻ, để vừa học vừa có cơm ăn. Khi tốt nghiệp, họ lại bay đi hết. Có ngày có tháng, một chị phải trông nom năm đến bảy đứa trẻ. “Mỗi người mẹ chăm tới ba đứa trẻ, cực thế, liệu sau này đứa trẻ lớn lên chúng có thấu nỗi cơ cực của các chị không?”. Giang đáp: “Chúng không biết thì có Phật biết là đủ rồi”.
Chị Phạm Thị Xoan quê ở Bắc Giang thì nhìn mưa cười buồn: “Cháu từng có gia đình, con trai cháu mất rồi, chồng bỏ đi nước ngoài, bỏ cháu luôn. Cháu tìm đến cửa chùa trông trẻ mồ côi. Số cháu vất vả đành chịu. Ở chùa bận lắm việc không tên, khi các con ngủ, người mẹ giặt giũ, phơi phóng, quét chùa. Có khi con ốm bỏ tiền túi ra lo cho trẻ, đứa nào nặng mới xin thầy đi bệnh viện”. Thầy Đàm Lan cũng giúp các bà mẹ trẻ số tiền đủ tiêu pha. Thầy đưa bao nhiêu các mẹ nuôi cũng nhận, không đòi hỏi, làm mẹ tự nguyện, và cả từ thiện nữa.
Hơn hai mươi đứa trẻ ăn bột và ăn dặm. Còn tám mươi đứa trứng gà trứng vịt, đứa đi học chữ, đứa học võ đạo, đứa học nghề may, thêu ren, học vi tính. Đâu vào đấy cả, y như trăng đến rằm trăng tròn. Là nói vậy chứ thầy Đàm Lan giỏi lắm, thức khuya dậy sớm lo liệu với các sư bác ở chùa. Một bà vãi ở ngay bên đền Chầu Bà bảo: “Cả nhà sư thầy Đàm Lan đều xuống tóc tu hành cả. Anh chị em còn tu ở chùa bên Pháp, bên Ấn, rồi Việt Nam. Thầy cũng tần tảo lắm mới nuôi ngần ấy con người”. Các cụ bà ngoài bảy mươi, bệnh hen suyễn, bệnh viêm khớp, bệnh đau xương, vào chùa quét lá, làm cơm chay, rồi đèn nhang hương khói, lao động lại khoẻ ra. Có cụ ở hẳn trong chùa, con gọi cũng không về. Còn một gian nhà dành cho các cụ không chốn nương thân. Cụ khoẻ ngủ trên tầng hai, cụ chân yếu thì ngủ tầng trệt. Ăn cơm nhà chùa, có cụ tìm được trung tâm an dưỡng nhận nuôi, khi khăn gói lên đường khóc nhè như trẻ con.
Chùa Bồ Đề đón nhận bao nhiêu cảnh ngộ éo le. Việc nào khó, thầy Đàm Lan thỉnh chuông kêu Phật, là việc lại đâu vào đấy. Nhẹ thênh. Nhà chùa cũng có doanh nghiệp, những nhà hảo tâm, những bà buôn bán ở chợ Đồng Xuân, Bắc Qua hỗ trợ. Nhiều bà mẹ mua quần áo, chăn màn, đồ dùng nhà bếp dâng chùa để nuôi trẻ. Gọi là trẻ mồ côi, chứ có ai biết mặt bố mẹ chúng đâu. Chùa Bồ Đề đang quá tải, vì trẻ sơ sinh khá đông, mà người trông nom lại thiếu. Tết này nhiều mẹ nuôi trẻ thơ không về quê ăn tết mà ở lại chùa chăm con thơ, dù không máu mủ. Nhưng có chị nhớ con ruột cũng khóc ghê lắm. Sư bác Đàm Chín bảo, giáp tết năm nào nhà chùa chẳng đón tiếp những người già bơ vơ. Nhà chùa vẫn nuôi họ qua tết. Còn chuyện nhà chùa quá tải, biết nói sao nhỉ, khi sáng ra mở cửa chùa lại thấy có trẻ sơ sinh...
Còn bao nhiêu tấm lòng hảo tâm khác, họ đóng góp tiền của mà không cho biết tên, cốt sao góp sức nuôi những đứa trẻ nên người. Có người dâng tiền mà không xin sớ, bảo cứ ghi người vô danh. Nghĩa trang liệt sĩ có nhiều chiến sĩ vô danh, nhà chùa cũng nhiều người làm từ thiện vô danh, có sao.
Mưa xuân vẫn hắt lên chùa Bồ Đề nhoà nhạt bên bờ sông Hồng vàng rực hoa cải muộn. Và tiếng ru con vụng về của những người mẹ chưa một lần làm mẹ.
bài Hoàng Việt Hằng
ảnh Trần Việt Đức

Giải pháp nào chống nhập siêu từ Trung Quốc?


SGTT - Một tham tán thương mại dự hội nghị Tham tán thương mại Việt Nam tổ chức năm 2009 cho rằng, chỉ cần giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc là có thể hạn chế nhập siêu ở mức chấp nhận được.
Gần 90% nhập siêu là từ Trung Quốc
Suốt từ đầu năm 2009 đến nay, bộ Công thương vẫn loay hoay với các giải pháp, chủ yếu nhằm vào hoạt động nhập khẩu hàng tiêu dùng như: cấp phép nhập khẩu tự động, nhờ ngân hàng Nhà nước can thiệp để hạn chế cho vay ngoại tệ nhập khẩu ôtô, điện thoại và một số mặt hàng tiêu dùng khác... Nhưng tỷ lệ nhập siêu vẫn cao (21,6% năm 2009) cho thấy, hiệu quả của các giải pháp này là hạn chế.
Đặc biệt, một trong những điều đập vào mắt khi nhìn vào thị trường và cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam chính là: Việt Nam hiện nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc. Một tham tán thương mại dự hội nghị Tham tán thương mại Việt Nam tổ chức năm 2009 cho rằng, chỉ cần giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc là có thể cơ bản hạn chế nhập siêu ở mức chấp nhận được.
Từ năm 2001, nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng nhanh nhưng đồng thời cũng bộc lộ sự mất cân bằng ngày càng tăng trong quan hệ thương mại Việt – Trung. Nếu như năm 2006, kim ngạch thương mại hai nước mới chỉ trên 10,4 tỉ USD thì hết năm 2009, theo nhiều nguồn thống kê, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Trung đã đạt trên 21,3 tỉ USD (chiếm khoảng 17% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam nhưng chiếm chưa tới 1% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc).
Cùng với sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều, con số nhập siêu từ Trung Quốc cũng ngày càng tăng. Theo các con số thống kê từ cơ quan chức năng, nhập siêu từ Trung Quốc năm 2007 là trên 9,1 tỉ USD, tăng 109,7% so với năm 2006. Năm 2008, con số này đã lên đến 12,6 tỉ USD, tăng 21,7%. Năm 2009, nhập siêu từ Trung Quốc khoảng 11,5 tỉ USD, giảm 8,4% so với năm 2008 nhưng là do nhập khẩu nói chung đều giảm trong bối cảnh suy giảm kinh tế. Dù sao đó vẫn là con số rất lớn so với tổng kim ngạch nhập siêu cả nước năm 2009 là 12 tỉ USD. Nhập siêu từ Trung Quốc trong tổng nhập siêu như vậy đã lên tới gần 90%. Trong khi năm 2008, tỷ lệ này là 61,6% và năm 2007, tỷ lệ này là 65,3%. Đây là một con số rất đáng báo động trong quan hệ thương mại Việt – Trung. Bởi, năm 2001 là năm Việt Nam lần đầu tiên nhập siêu từ Trung Quốc với tỷ lệ khi đó mới chỉ là 17,7% trong tổng nhập siêu, nhưng nhập siêu từ Trung Quốc đã kéo dài suốt chín năm qua với tỷ lệ ngày càng tăng.
Nguyên nhân nào dẫn đến nhập siêu bất bình thường như vậy từ Trung Quốc? Trước hết về xuất khẩu, có thể nói, trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc tung hoành xuất khẩu sang Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam qua Trung Quốc là rất khó khăn. Nếu không kể những mặt hàng nguyên liệu như cao su, than, dầu thô… thì hàng xuất của Việt Nam sang Trung Quốc thường là các mặt hàng mà Trung Quốc cũng dư thừa năng lực sản xuất nên khó cạnh tranh nổi. Còn những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô… thì lại có xu hướng giảm do hạn chế về khả năng khai thác và chủ trương dần hạn chế xuất khẩu tài nguyên. Xuất khẩu dầu thô sang Trung Quốc năm 2009 đã giảm trên 23%.
“Nhập siêu triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường. Nhập siêu chỉ dồn vào mấy thị trường ở châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, chiếm chủ yếu trong tổng số nhập siêu của cả nước. Hậu quả là không nhập khẩu được công nghệ nguồn, kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ sao chép, lạc hậu. Dù được lý giải là gần, hợp trình độ của ta, song ai quên được bài học từ những nhà máy ximăng lò đứng”
(ý kiến một chuyên gia của
cục Xúc tiến thương mại, bộ Công thương)
Về nhập khẩu, một số mặt hàng nhập từ Trung Quốc cho cả sản xuất và tiêu dùng là những mặt hàng Việt Nam chưa sản xuất được hoặc có nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu như sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may, phân bón, linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy… Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam nên nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhập khẩu từ đây.
Cần một loạt giải pháp đồng bộ
Trong việc kiềm chế nhập siêu nói chung và nhập siêu từ Trung Quốc nói riêng, một vấn đề lớn dường như chưa được bộ Công thương nhìn nhận đầy đủ chính là việc nhập khẩu máy móc, thiết bị. Theo một số chuyên gia của hiệp hội Cơ khí, các mặt hàng cơ khí, máy móc…chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng lượng hàng hoá nhập khẩu. Như năm 2008, giá trị nhập khẩu các mặt hàng cơ khí (không kể nguyên liệu sắt, thép) đã lên tới gần 19 tỉ USD. Mười tháng đầu năm 2009 đã nhập 13,5 tỉ USD các mặt hàng này…, trong số đó phần lớn là máy móc, thiết bị, hàng cơ khí từ Trung Quốc. Một chuyên gia của cục Xúc tiến thương mại, bộ Công thương phân tích: “Nhập siêu triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường. Nhập siêu chỉ dồn vào mấy thị trường ở châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, chiếm chủ yếu trong tổng số nhập siêu của cả nước. Hậu quả là không nhập khẩu được công nghệ nguồn, kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ sao chép, lạc hậu. Dù được lý giải là gần, hợp trình độ của ta, song ai quên được bài học từ những nhà máy xi măng lò đứng”.
Một trong các nguyên nhân là trong mấy năm qua, các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu ở hàng loạt dự án lớn như dự án khai thác, luyện đồng Sin Quyền (Lào Cai), nhà máy nhiệt điện Hải Phòng… và có thể khẳng định, hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng nhà thầu và số dự án trúng thầu nhiều nhất tại Việt Nam. Theo ông Phạm Hùng, tổng giám đốc tổng công ty Lắp máy Việt Nam thì các nhà nhà thầu Trung Quốc mang theo hầu như tất cả những gì họ có (từ Trung Quốc) để phục vụ công trình, từ máy móc, công nghệ đến nguyên, vật liệu (chưa kể công nhân)… vì vậy, trong giá trị nhập siêu lớn từ Trung Quốc có phần đáng kể từ việc nhập khẩu cho các công trình, dự án mà phía Trung Quốc trúng thầu. Mặt khác việc thiếu các chính sách đầu tư thích đáng để sản xuất hàng cơ khí, máy móc, thiết bị thay thế hàng nhập khẩu là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến nhập siêu cao (chứ không phải do hàng tiêu dùng, chỉ chiếm tỷ lệ 9%).
Cho nên, có thể nói, giải bài toán nhập siêu hiện nay không thể không xem xét đến các giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc. Tất nhiên, với những lợi thế hiện nay của nền kinh tế khổng lồ này, việc đưa kim ngạch xuất – nhập khẩu giữa hai bên về trạng thái cân bằng là vô cùng khó khăn nhưng không phải không có giải pháp. Cần, không phải chỉ một mà một loạt giải pháp đồng bộ: đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tăng cường xuất khẩu sang Trung Quốc; chuyển hướng thị trường nhập khẩu (đặc biệt là máy móc, công nghệ) sang các thị trường khác, nhất là các thị trường có công nghệ cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng Việt Nam đã sản xuất được và có chính sách tích cực đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc; tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hoá, an toàn thực phẩm đối với hàng nhập từ Trung Quốc, chống nhập lậu, buôn lậu tại các vùng biên, cửa khẩu giáp với Trung Quốc…
Mạnh Quân
SGTT Online