Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2010

Cho Trung Quốc thuê rừng biên giới


Thông tin về việc hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh đã cùng với nhiều tỉnh khác âm thầm cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) để trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 305 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha, ở các tỉnh miền biên giới.
RFA photo from gis.chinhphu.vn
Bản đồ vùng biên giới Lạng Sơn, Quảng Ninh và Trung Quốc
Mặc Lâm theo dõi câu chuyện qua bài phỏng vấn Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người cùng với Trung Tướng Đồng Sĩ Nguyên vừa gửi kiến nghị lên Ban Bí Thư yêu cầu làm rõ việc này.
Hơn 300 nghìn ha rừng đầu nguồn
Mặc Lâm: Thưa Thiếu Tướng, cám ơn ông đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Thưa ông, mới đây có thông tin cho biết mười tỉnh dọc biên giới và có tỉnh ở đầu nguồn đã âm thầm cho Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê rừng trong thời hạn 50 năm. Thiếu tướng cùng với Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã gửi thư kiến nghị lên thủ tướng chính phủ, xin ông cho biết thêm một ít chi tiết về việc này.
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Cái này là do các tỉnh họ làm. Tất nhiên trách nhiệm thuộc về Thủ tướng vì thủ tướng không quản lý được nên các tỉnh cứ bán đi.
Mặc Lâm: Vâng thưa Thiếu tướng, theo văn bản mà chúng tôi được biết thì số lượng rừng đầu nguồn cho các nước thuê lên tới 264 ngàn héc ta rừng đầu nguồn. Động thái này quá nguy hiểm và ai cũng thấy rằng khi cho thuê rừng đầu nguồn như vậy thì hạ nguồn sẽ gặp khó khăn nhất là vấn đề chặt cây, phá rừng ô nhiễm môi trường và an ninh quốc phòng. Thông tin mà Thiều tương nhận được thì độ khả tín có cao hay không thưa ông?
Sông Kỳ Cùng chảy qua bản Phạc Giàng, Tỉnh Lạng Sơn
Sông Kỳ Cùng chảy qua bản Phạc Giàng, Tỉnh Lạng Sơn

Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Anh hỏi là nó có chính xác hay không ? Cái này là lá thơ đầu tiên của đồng chí Đồng Sỹ Nguyên phát hiện tỉnh Quảng Ninh và Nghệ An bán thôi, thì báo cáo lên Bộ Chính Trị thì bộ trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn mới cử đoàn liên ngành đi kiểm tra các tỉnh thì sau khi về kết luận là như thế. Đây là kết luận của bộ trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chứ không phải tự ai nghĩ ra đâu. Chúng tôi cũng căn cứ vào cái báo cáo này của ông Bộ trưởng

Mặc Lâm: Thưa Thiếu Tướng nếu độ chính xác 100% như vậy thì thiếu tướng đã hội ý với trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và vấn đề này liên quan đến quốc phòng rất là rõ.
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Cả quốc phòng cả tai nạn cho nhân dân ở miền hạ du. Cả cạn nước các nguồn thuỷ lợi. Tôi đã nói đầy đủ trong cái thơ của tôi gửi cho trung ương.
Mặc Lâm: Thiếu tướng đã gửi cho trung ương vậy ông đã nhận được phản hồi hay chưa?
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Chưa có..chúng tôi gửi, đồng chí Nguyên cũng gửi cho trung ương, tôi cũng gửi cho trung ương phân tích lợi hại. Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên cũng như tôi đề nghị dừng ngay lập tức hay là huỷ những hợp đồng ấy đi. Còn nhà cầm quyền người ta giải quyết như thế nào thì tôi chưa biết
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, sau khi cái thư gửi đi nếu không nhận được bất cứ một phản hồi nào từ trung ương như xưa nay thường gặp thì bước kế tiếp sẽ là gì?
Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thì những việc chúng tôi đã làm thì làm được cả rồi. Gửi cho Bộ Chính Trị, mang lên mạng như ông thấy đó. Chúng tôi chỉ biết làm đến thế thôi chứ làm hơn nữa thì không biết thế nào hơn nữa!
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/China-Hongkong-and-Taiwan-to-lease-Vietnam-riverhead-forest%20-02122010120853.html
*

11/02/2010

Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Bauxite Việt Nam

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – người biên tập] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.


( Hình. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên)

Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?

Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.

(Hình.Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh)


Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:

1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.

2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.


Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?


Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.

Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 2010
Đồng Sĩ Nguyên - Nguyễn Trọng Vĩnh
http://vanhoavn.blogspot.com/

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Tiếng ru con ở chùa Bồ Đề


SGTT - Chùa Bồ Đề nằm ở bên kia sông Hồng, cách phố cổ một cây cầu và vài ngõ phố. Chùa cổ, sau này tách ra hai phần: phần đạo và phần đời.
Trẻ bị bỏ rơi được chăm sóc bởi những người mẹ tự nguyện ở chùa Bồ Đề
Tôi hỏi sư thầy, một đứa trẻ đáp: “Sư thầy Đàm Lan đang ở Pháp, có sư bác Đàm Chín ở nhà thôi, sư bác đang viết sớ, vì sáng hôm qua con mở cổng chùa có một bé gái đỏ hỏn gói chăn và lá chuối ai đó vứt bỏ ngay cửa. Nhà chùa lại đi xin sữa nuôi. Bà để con đưa bà đi nhá”. “Con tên gì?” – “Con tên Nam, vẫn thầy Đàm Lan khai sinh tên cho con. Con học lớp một, mười ba tuổi”.
Phần đạo, nơi chùa chính thờ Phật pháp, vương triều nhà Trần, tam toà thánh Mẫu. Về phần đời, chùa có một ngôi nhà hai tầng dành cho hơn trăm đứa trẻ bị bỏ rơi. Thêm mười lăm cụ già không chốn nương thân, họ ở cả giường sắt hai tầng. Ngày rét các cụ nằm đắp chăn như những đống lá khô tú hụ. Phía ven sông là nhà bếp. Tôi trò chuyện với những người mẹ trẻ tình nguyện trong căn phòng nhỏ. Cứ 10 mét vuông kê ba giường, chỉ còn lại một lối đi nhỏ, còn là võng và cứ một mẹ trẻ chăm ba đứa con thơ. Chị Lê Thị Giang, ba mươi tuổi ở Nghệ An, đến chùa được nửa năm rồi, mình chị chăm nuôi ba đứa. Một đứa tuổi rưỡi, không ngồi được, dị tật. Một đứa bé gái mới hơn một tháng, mắt đen láy xinh xắn. Giang nói tháng trước bị bỏ lại cửa chùa, con bé trông đỏ hỏn, có hai ngày tuổi, nom sợ lắm. Thầy Đàm Lan chưa đặt tên, còn thằng cu kia tên là Nâu, vì da nó đen. Rồi thầy sẽ đặt tên đi học cho Nâu. Còn con bé Ngọc Anh kia, nhanh nhẹn, thầy nhắm cho đi học đại học Phật giáo. Nhà chùa có hai đứa đang theo học đại học. Học xong, có đứa trở về chùa phục vụ, có đứa chuyển ngành, có đứa ra nước ngoài làm con nuôi.
Bao nhiêu năm rồi, bao nhiêu đứa trẻ lớn lên ở chùa Bồ Đề, thầy Đàm Lan gửi cho chúng đi học nghề, có đứa nhà chùa đứng ra dựng vợ gả chồng. Ngày tết chúng về với thầy Lan như về nhà với mẹ. Con cái chúng gọi thầy Đàm Lan là “ngoại”.
Chị Thu Cúc muốn về ăn tết ở Lạng Sơn, thăm lại gia đình lớn. Chị sống đơn thân, bị bệnh tim, chữa mãi ở bệnh viện Bạch Mai, đọc báo biết chuyện chùa Bồ Đề nên xin ở lại đây chăm nuôi trẻ. Ba đứa trẻ kêu mẹ Cúc cho đi chơi. Bánh kẹo, phẩm oản hoa quả nhà chùa trẻ con không thiếu. Hơn hai mươi đứa trẻ từ ba ngày tuổi đến bảy tuổi, đều được những người mẹ trẻ tình nguyện đến chùa nuôi dưỡng.
Nhìn Giang loay hoay với cu Nâu, với bé gái một tháng tuổi, chân đưa võng, miệng à ơi, tay thay tã cho con, tay đưa cho đứa trẻ tàn tật quả bóng, mới thấy bản năng yêu thương ở con người. Quê Giang ở Anh Sơn – Nghệ An, đói khổ lắm, được bạn mách cho, Giang tìm đến chùa Bồ Đề xin việc. Giang bảo cũng có những sinh viên không có tiền ở trọ, họ vào chùa xin trông trẻ, để vừa học vừa có cơm ăn. Khi tốt nghiệp, họ lại bay đi hết. Có ngày có tháng, một chị phải trông nom năm đến bảy đứa trẻ. “Mỗi người mẹ chăm tới ba đứa trẻ, cực thế, liệu sau này đứa trẻ lớn lên chúng có thấu nỗi cơ cực của các chị không?”. Giang đáp: “Chúng không biết thì có Phật biết là đủ rồi”.
Chị Phạm Thị Xoan quê ở Bắc Giang thì nhìn mưa cười buồn: “Cháu từng có gia đình, con trai cháu mất rồi, chồng bỏ đi nước ngoài, bỏ cháu luôn. Cháu tìm đến cửa chùa trông trẻ mồ côi. Số cháu vất vả đành chịu. Ở chùa bận lắm việc không tên, khi các con ngủ, người mẹ giặt giũ, phơi phóng, quét chùa. Có khi con ốm bỏ tiền túi ra lo cho trẻ, đứa nào nặng mới xin thầy đi bệnh viện”. Thầy Đàm Lan cũng giúp các bà mẹ trẻ số tiền đủ tiêu pha. Thầy đưa bao nhiêu các mẹ nuôi cũng nhận, không đòi hỏi, làm mẹ tự nguyện, và cả từ thiện nữa.
Hơn hai mươi đứa trẻ ăn bột và ăn dặm. Còn tám mươi đứa trứng gà trứng vịt, đứa đi học chữ, đứa học võ đạo, đứa học nghề may, thêu ren, học vi tính. Đâu vào đấy cả, y như trăng đến rằm trăng tròn. Là nói vậy chứ thầy Đàm Lan giỏi lắm, thức khuya dậy sớm lo liệu với các sư bác ở chùa. Một bà vãi ở ngay bên đền Chầu Bà bảo: “Cả nhà sư thầy Đàm Lan đều xuống tóc tu hành cả. Anh chị em còn tu ở chùa bên Pháp, bên Ấn, rồi Việt Nam. Thầy cũng tần tảo lắm mới nuôi ngần ấy con người”. Các cụ bà ngoài bảy mươi, bệnh hen suyễn, bệnh viêm khớp, bệnh đau xương, vào chùa quét lá, làm cơm chay, rồi đèn nhang hương khói, lao động lại khoẻ ra. Có cụ ở hẳn trong chùa, con gọi cũng không về. Còn một gian nhà dành cho các cụ không chốn nương thân. Cụ khoẻ ngủ trên tầng hai, cụ chân yếu thì ngủ tầng trệt. Ăn cơm nhà chùa, có cụ tìm được trung tâm an dưỡng nhận nuôi, khi khăn gói lên đường khóc nhè như trẻ con.
Chùa Bồ Đề đón nhận bao nhiêu cảnh ngộ éo le. Việc nào khó, thầy Đàm Lan thỉnh chuông kêu Phật, là việc lại đâu vào đấy. Nhẹ thênh. Nhà chùa cũng có doanh nghiệp, những nhà hảo tâm, những bà buôn bán ở chợ Đồng Xuân, Bắc Qua hỗ trợ. Nhiều bà mẹ mua quần áo, chăn màn, đồ dùng nhà bếp dâng chùa để nuôi trẻ. Gọi là trẻ mồ côi, chứ có ai biết mặt bố mẹ chúng đâu. Chùa Bồ Đề đang quá tải, vì trẻ sơ sinh khá đông, mà người trông nom lại thiếu. Tết này nhiều mẹ nuôi trẻ thơ không về quê ăn tết mà ở lại chùa chăm con thơ, dù không máu mủ. Nhưng có chị nhớ con ruột cũng khóc ghê lắm. Sư bác Đàm Chín bảo, giáp tết năm nào nhà chùa chẳng đón tiếp những người già bơ vơ. Nhà chùa vẫn nuôi họ qua tết. Còn chuyện nhà chùa quá tải, biết nói sao nhỉ, khi sáng ra mở cửa chùa lại thấy có trẻ sơ sinh...
Còn bao nhiêu tấm lòng hảo tâm khác, họ đóng góp tiền của mà không cho biết tên, cốt sao góp sức nuôi những đứa trẻ nên người. Có người dâng tiền mà không xin sớ, bảo cứ ghi người vô danh. Nghĩa trang liệt sĩ có nhiều chiến sĩ vô danh, nhà chùa cũng nhiều người làm từ thiện vô danh, có sao.
Mưa xuân vẫn hắt lên chùa Bồ Đề nhoà nhạt bên bờ sông Hồng vàng rực hoa cải muộn. Và tiếng ru con vụng về của những người mẹ chưa một lần làm mẹ.
bài Hoàng Việt Hằng
ảnh Trần Việt Đức

Giải pháp nào chống nhập siêu từ Trung Quốc?


SGTT - Một tham tán thương mại dự hội nghị Tham tán thương mại Việt Nam tổ chức năm 2009 cho rằng, chỉ cần giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc là có thể hạn chế nhập siêu ở mức chấp nhận được.
Gần 90% nhập siêu là từ Trung Quốc
Suốt từ đầu năm 2009 đến nay, bộ Công thương vẫn loay hoay với các giải pháp, chủ yếu nhằm vào hoạt động nhập khẩu hàng tiêu dùng như: cấp phép nhập khẩu tự động, nhờ ngân hàng Nhà nước can thiệp để hạn chế cho vay ngoại tệ nhập khẩu ôtô, điện thoại và một số mặt hàng tiêu dùng khác... Nhưng tỷ lệ nhập siêu vẫn cao (21,6% năm 2009) cho thấy, hiệu quả của các giải pháp này là hạn chế.
Đặc biệt, một trong những điều đập vào mắt khi nhìn vào thị trường và cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam chính là: Việt Nam hiện nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc. Một tham tán thương mại dự hội nghị Tham tán thương mại Việt Nam tổ chức năm 2009 cho rằng, chỉ cần giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc là có thể cơ bản hạn chế nhập siêu ở mức chấp nhận được.
Từ năm 2001, nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng nhanh nhưng đồng thời cũng bộc lộ sự mất cân bằng ngày càng tăng trong quan hệ thương mại Việt – Trung. Nếu như năm 2006, kim ngạch thương mại hai nước mới chỉ trên 10,4 tỉ USD thì hết năm 2009, theo nhiều nguồn thống kê, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Trung đã đạt trên 21,3 tỉ USD (chiếm khoảng 17% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam nhưng chiếm chưa tới 1% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc).
Cùng với sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều, con số nhập siêu từ Trung Quốc cũng ngày càng tăng. Theo các con số thống kê từ cơ quan chức năng, nhập siêu từ Trung Quốc năm 2007 là trên 9,1 tỉ USD, tăng 109,7% so với năm 2006. Năm 2008, con số này đã lên đến 12,6 tỉ USD, tăng 21,7%. Năm 2009, nhập siêu từ Trung Quốc khoảng 11,5 tỉ USD, giảm 8,4% so với năm 2008 nhưng là do nhập khẩu nói chung đều giảm trong bối cảnh suy giảm kinh tế. Dù sao đó vẫn là con số rất lớn so với tổng kim ngạch nhập siêu cả nước năm 2009 là 12 tỉ USD. Nhập siêu từ Trung Quốc trong tổng nhập siêu như vậy đã lên tới gần 90%. Trong khi năm 2008, tỷ lệ này là 61,6% và năm 2007, tỷ lệ này là 65,3%. Đây là một con số rất đáng báo động trong quan hệ thương mại Việt – Trung. Bởi, năm 2001 là năm Việt Nam lần đầu tiên nhập siêu từ Trung Quốc với tỷ lệ khi đó mới chỉ là 17,7% trong tổng nhập siêu, nhưng nhập siêu từ Trung Quốc đã kéo dài suốt chín năm qua với tỷ lệ ngày càng tăng.
Nguyên nhân nào dẫn đến nhập siêu bất bình thường như vậy từ Trung Quốc? Trước hết về xuất khẩu, có thể nói, trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc tung hoành xuất khẩu sang Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam qua Trung Quốc là rất khó khăn. Nếu không kể những mặt hàng nguyên liệu như cao su, than, dầu thô… thì hàng xuất của Việt Nam sang Trung Quốc thường là các mặt hàng mà Trung Quốc cũng dư thừa năng lực sản xuất nên khó cạnh tranh nổi. Còn những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô… thì lại có xu hướng giảm do hạn chế về khả năng khai thác và chủ trương dần hạn chế xuất khẩu tài nguyên. Xuất khẩu dầu thô sang Trung Quốc năm 2009 đã giảm trên 23%.
“Nhập siêu triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường. Nhập siêu chỉ dồn vào mấy thị trường ở châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, chiếm chủ yếu trong tổng số nhập siêu của cả nước. Hậu quả là không nhập khẩu được công nghệ nguồn, kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ sao chép, lạc hậu. Dù được lý giải là gần, hợp trình độ của ta, song ai quên được bài học từ những nhà máy ximăng lò đứng”
(ý kiến một chuyên gia của
cục Xúc tiến thương mại, bộ Công thương)
Về nhập khẩu, một số mặt hàng nhập từ Trung Quốc cho cả sản xuất và tiêu dùng là những mặt hàng Việt Nam chưa sản xuất được hoặc có nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu như sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may, phân bón, linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy… Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam nên nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhập khẩu từ đây.
Cần một loạt giải pháp đồng bộ
Trong việc kiềm chế nhập siêu nói chung và nhập siêu từ Trung Quốc nói riêng, một vấn đề lớn dường như chưa được bộ Công thương nhìn nhận đầy đủ chính là việc nhập khẩu máy móc, thiết bị. Theo một số chuyên gia của hiệp hội Cơ khí, các mặt hàng cơ khí, máy móc…chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng lượng hàng hoá nhập khẩu. Như năm 2008, giá trị nhập khẩu các mặt hàng cơ khí (không kể nguyên liệu sắt, thép) đã lên tới gần 19 tỉ USD. Mười tháng đầu năm 2009 đã nhập 13,5 tỉ USD các mặt hàng này…, trong số đó phần lớn là máy móc, thiết bị, hàng cơ khí từ Trung Quốc. Một chuyên gia của cục Xúc tiến thương mại, bộ Công thương phân tích: “Nhập siêu triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường. Nhập siêu chỉ dồn vào mấy thị trường ở châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, chiếm chủ yếu trong tổng số nhập siêu của cả nước. Hậu quả là không nhập khẩu được công nghệ nguồn, kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ sao chép, lạc hậu. Dù được lý giải là gần, hợp trình độ của ta, song ai quên được bài học từ những nhà máy xi măng lò đứng”.
Một trong các nguyên nhân là trong mấy năm qua, các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu ở hàng loạt dự án lớn như dự án khai thác, luyện đồng Sin Quyền (Lào Cai), nhà máy nhiệt điện Hải Phòng… và có thể khẳng định, hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng nhà thầu và số dự án trúng thầu nhiều nhất tại Việt Nam. Theo ông Phạm Hùng, tổng giám đốc tổng công ty Lắp máy Việt Nam thì các nhà nhà thầu Trung Quốc mang theo hầu như tất cả những gì họ có (từ Trung Quốc) để phục vụ công trình, từ máy móc, công nghệ đến nguyên, vật liệu (chưa kể công nhân)… vì vậy, trong giá trị nhập siêu lớn từ Trung Quốc có phần đáng kể từ việc nhập khẩu cho các công trình, dự án mà phía Trung Quốc trúng thầu. Mặt khác việc thiếu các chính sách đầu tư thích đáng để sản xuất hàng cơ khí, máy móc, thiết bị thay thế hàng nhập khẩu là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến nhập siêu cao (chứ không phải do hàng tiêu dùng, chỉ chiếm tỷ lệ 9%).
Cho nên, có thể nói, giải bài toán nhập siêu hiện nay không thể không xem xét đến các giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc. Tất nhiên, với những lợi thế hiện nay của nền kinh tế khổng lồ này, việc đưa kim ngạch xuất – nhập khẩu giữa hai bên về trạng thái cân bằng là vô cùng khó khăn nhưng không phải không có giải pháp. Cần, không phải chỉ một mà một loạt giải pháp đồng bộ: đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tăng cường xuất khẩu sang Trung Quốc; chuyển hướng thị trường nhập khẩu (đặc biệt là máy móc, công nghệ) sang các thị trường khác, nhất là các thị trường có công nghệ cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng Việt Nam đã sản xuất được và có chính sách tích cực đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc; tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hoá, an toàn thực phẩm đối với hàng nhập từ Trung Quốc, chống nhập lậu, buôn lậu tại các vùng biên, cửa khẩu giáp với Trung Quốc…
Mạnh Quân
SGTT Online

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010

Hài xuân 2010 – Cười cái sự đời – DVD


Quantcast





Chương trình Hài Xuân 2010 “ Cười cái sự đời 2010” năm nay của chúng tôi được dàn dựng công phu với dàn diễn viên hùng hậu hoành tráng và tên tuổi của cả hai miền Nam – Bắc như NS danh hài hải ngoại Hoài Linh, Danh hài hàng đầu Sài Gòn NS. Cát Phượng, Mr Vượng Râu, NSUT Quốc Anh, NS Quang Tèo, NS Văn Hiệp, NS Hiệp Vịt, Ca sĩ Minh Quân … cùng với dàn người mẫu chuyên nghiệp, trẻ trung sẽ là món quà tinh thần độc đáo dí dỏm cho Quý vị khán giả, hứa hẹn một năm mới thành đạt, nhiều may mắn , vạn sự như ý. Chương trình VCD & DVD Hài Tết 2010 sẽ gồm 2 tiểu phẩm hài dí dỏm và 2 Video Clip ca nhạc vui tươi mừng xuân, mừng cuộc sống mới được được quay và thu thanh trực tiếp tại hiện trường những bối cảnh đẹp và sống động ở Hà Nội, Hà Tây ( cũ), Bắc Ninh cộng với một ekip sản xuất hùng hậu bằng những công nghệ hiện đại nhất Việt Nam hiện chúng tôi tin tưởng sẽ mang đến cho khán giả những sản phẩm VCD & DVD Hài Tết Canh Dần 2010 độc đáo, chất lượng cao, sâu sắc và ý nghĩa.


hdworldvn.wordpress.com
Click the image to open in full size.
http://hdworldvn.wordpress.com/

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Sai Lầm...

Tôi là một người ít chử, đầu óc lại đơn giản, nghĩ sao nói vậy. Cho nên sáng nay lúc ngồi uống café ở THE BET số 1 bis Lê Duẩn, đọc tờ TRĂN TRỞ mà lòng tức anh ách. Bài báo có tựa đề: SAI LẦM........

Khi nhìn ra ngoài xã hội, với tầm nhìn ngắn ngủn của mình, tôi chỉ thấy được 3 loại người: người tốt, người xấu và người hổng biết xấu tốt.

Hổm rày nhà nước ta xử liền mấy vụ án lớn, mà theo như những nguồn tin đáng tin cậy như ra dô, ti di nói liền tù tì. Cái mà tui cảm nhận được là: nếu như nhà nước ta không bắt những người nầy đem ra xét xử thì họ sẽ làm sụm bà chè chính quyền cách mạng của ta. Vậy họ là người xấu.

Còn cái anh chàng diễn viên triết học trường đại học kinh thế gì đó lại to mồm bênh vực cho họ mới tức chớ. Anh ta nêu ra 3 cái lựng điễm để chứng minh cho họ:
   1/ Đảng ta là một đảng không hoàn hảo, còn đầy những thiếu sót. Rồi viện dẩn lời của thằng cha Hegen gì đó để chứng minh mới ghê chứ. Tui là tui chúa ghét mấy thằng cha dọng ngoại.

Thằng chả lại nói do trình độ dân trí còn thấp, nên không thể đòi hỏi trình độ lãnh đạo và quản lý của nhà nước ta phải hoàn hảo là không hợp lý. Cái nầy trật lất, thằng cha nầy ngậm máu phun hột dưa....trình độ còn thấp thì làm sao nước ta lại sắp có 20.000 Tiến Sỹ???

    2/ Thằng chả lại nói:  phản biện không có nghĩa là đạp đổ, hoài nghi khoa học không có nghĩa là phủ định sạch trơn. Trước khi nghĩ đến chuyện phá bỏ một thực thể nào đó, điều cốt yếu nên suy xét liệu ta có thể cải tạo thực thể đó tốt hơn, khắc phục được những hạn chế, bất cập hay không? Đừng bao giờ thấy cái gì đó chưa tốt là nghĩ ngay đến chuyện đập tan nó đi và thay thế. Đó là sai lầm về mặt phương pháp.

Vậy là ý nói phải dùng phương pháp khác để lật đổ chính quyền nhân dân của ta hay sao chớ??? Ý nầy chẳng khác nào vẽ đường cho hươu chạy...Phản rồi, phản rồi...

3/  Về chữ “tâm”. Tôi tin rằng sẽ là tốt hơn nếu những trí thức trẻ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Huỳnh Duy Thức đem tài lực và trí lực cống hiến cho sự hưng thịnh của nước nhà. Nước thịnh thì dân yên và dân yên thì quốc cường. Nhiều trí thức trẻ vẫn ngày đêm miệt mài âm thầm cống hiến tuổi trẻ và trí tuệ cho đất nước, cho dân cường nước thịnh.

Về ý nầy thì hay nè, nhưng mà tui vẫn còn băn khoăn. Hổng biết thằng chả muốn ám chỉ gì. Vì nếu nói âm thầm cống hiến thì đừng có kể ra mới hay chớ, giống như đi làm từ thiện mà cứ đi tới đâu cũng kể lể tới đó thì hay ho giống gì???

Ngẫm đi, ngẫm lại cũng chưa biết xếp thằng chả vào loại nào trong bảng phân loại loài người của tui. Chỉ có điều tui biết chắc là tụi sinh viên trường kinh thế, hãi chả lắm roài....


PS: nghe loáng thoáng tên chả là Nông Biết Nịnh

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

Trở lại với những đứa trẻ mất cha xa mẹ




Hổm rày quá bận bịu nên nghe nói em nó ra viện rồi mà không có đi thăm được. Bửa nay tranh thủ đi cùng với chị BN vào đưa tiền và 20 kí gạo cho gia đình người bị tai nạn giao thông hôm trước.

Nghe ra viện tưởng là em đã lành hẳn hay ít ra cũng đã đi lại được, nhưng không ngờ là như vậy. Nguyên bệnh viện Chợ Rẫy bệnh nhân nhiều quá, không có chổ nằm nên họ giải quyết cho em ra viện, rồi mỗi tuần tái khám 1 lần. Cũng may là họ cử 1 cô y tá cứ 2 ngày đến thay băng một lần và theo dõi vết thương. (mỗi lần đến tiền công là 100.000 đồng, còn tái khám phải đi xe cứu thương. mỗi lần 150.000)

Hiện giờ nhờ có sự giúp đở của bà con gần xa, cho nên chỉ còn thiếu khoảng 15 triệu đồng vay nóng để trả tiền bệnh viện. (Trong khoảng chi phí hơn trăm triệu thì nhà xe chỉ gửi 40 triệu rồi xù luôn tới nay). Còn 2 tờ báo đã đưa tin và kêu gọi giúp đở từ bạn đọc thì chưa thấy tăm hơi. (theo lời ba của nạn nhân)

Hiện chủ yếu là ba má của nạn nhân từ quê lên lo cho con, nhưng qua nói chuyện biết là ông bà cũng đã bán hết những gì có thể để lo cho con và 4 đứa cháu ngoại. Còn bên chồng thì cũng nghèo quá, chẳng giúp đở được bao nhiêu.
                            Em vẫn còn phải mang cái túi bài tiết ở bụng

Thật sự tôi cũng không biết mình nên làm gì, vì sức người có hạn. Viết entry nầy coi có bạn nào có điều kiện thì xin giúp đở dùm gia đình em nó.

Phạm Thị Kim Hoa 890/1E, Tổ 87 đường An Dương Vương. P13, Q6. Gần ngã tư Cây Da Sà.


                                      Những giấy tờ thanh toán của bệnh viện

                                              Giấy ra viện
Nhân tiện, bạn nào có quần áo cũ ở độ tuổi từ 7 , 9, 14 ( gái) và 1 bé trai 5 tuổi. Xin gửi về cho các cháu hoặc cho chị Bảo Nga 281 Bà Hom cũng được. Tel: 37515911

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

Bác sỹ riêng của Mao - Chương4




Một quan chức ở Trung Nam Hải bị ốm và chết bởi bệnh sốt xuất huyết não. Tôi được cấp tốc triệu về Bắc Kinh. Được biết vi-rút căn bệnh lạ lùng này được truyền qua muỗi đốt, mà muỗi lại rất nhiều ở Bắc Kinh đặc biệt mùa hè và thu. Vì thế trường hợp sốt xuất huyết não ở đây không phải là hiếm. Các nhà chuyên môn thời kỳ đó khuyên nên theo dõi hội chứng căn bệnh nguy hiểm này phá hoại não người. Giai đoạn đầu của bệnh sốt xuất huyết não có thể bị ngăn lại bằng cách trị bệnh cổ truyền, khi mà mới xuất hiện nó giống như triệu chứng cúm. Tuy nhiên nếu điều trị không kịp thời thì bệnh tiến triển nhanh làm hệ thống tim mạch bị phá huỷ và thậm chí người bệnh còn phát rồ. Trong những trường hợp nặng thì cái chết khó tránh được.
Mùa hè 1950 có mưa nhiều ở Bắc Kinh, thế là muỗi ra như trấu. Khi một nhân viên ở Trung Nam Hải bị sốt xuất huyết não, một bác sĩ trẻ chưa kinh nghiệm coi đó là cúm. Do điều trị không đúng bệnh nhân tử vong. Nhân viên này sống gần biệt thự của Mao, vì thế Dương Thượng Côn và Chu Ân Lai lo lắng về sự nguy hiểm của căn bệnh đe doạ lãnh tụ.
Anh chàng bác sĩ trẻ đó ở bệnh viện Trung Nam Hải bị thải hồi tức khắc. Bệnh viện được cải tổ, trong thành phố người ta tổ chức diệt muỗi quyết liệt. Lãnh đạo quyết định chuyển bộ phận y tế ở Xương Sơn vào Trung Nam Hải. Quyết định này thực tế làm thay đổi tận gốc cuộc đời tôi.
Bệnh viện ở Trung Nam Hải vốn trang bị tồi tàn đã được cấp tốc nâng cấp và hiện đại hoá để trở thành trung tâm chính chữa bệnh cho các nhà lãnh đạo đảng và đất nước. Đồng thời người ta cũng cải tạo lại các ngôi nhà ở Trung Nam Hải. Tại đó có hai hồ lớn chiếm một diện tích rộng: hồ Trung và hồ Nam. Từ đấy mới có tên khu vực này. Khu này được bức tường thành vây quanh giống như Cấm Thành. Bức tường để ngăn người lạ nhìn vào. Sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản đến đây ở thì các quán sách cũng biến mất tất cả các quyển sách có kèm bản đồ Cấm Thành. Đội bảo vệ theo sát anh từng bước. Việc ra vào vùng Trung Nam Hải chỉ cho những ai làm việc và sống ở đây, hoặc là khách mời chính thức của nước. Trụ sở Quốc vụ viện cộng hoà nhân dân Trung hoa, do Chu Ân Lai lãnh đạo nằm ở phía bắc, cạnh hồ Trung. Cùng sống và làm việc với Mao còn có những người bạn chiến đấu của ông – Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Bành Đức Hoài, Đặng Tiểu Bình, Lý Tiên Niệm, Đổng Bích Vũ, Lý Phú Xuân và Trần Nghị. Họ là quan chức cao cấp nhất của đảng, tư dinh của họ là những biệt thự và cung điện Cấm Thành. Cả những nhân viên phục vụ và cả những người làm công tác đảng cũng được sống ở đây. Tôi được chia một căn nhà nhỏ. Về sau tôi chuyển sang căn nhà lớn hơn và đem Lý Liên và thằng con trai Giôn về sống cùng.
Thậm chí ngay trên vùng đất được bảo vệ cẩn mật thế này mà lực lượng an ninh luôn luôn cảnh giác cao độ. Đi từ khu này sang khu kia đều qua kiểm soát nghiêm ngặt. Đi đến đâu cũng bị hỏi chứng minh thư ra vào. Tôi làm việc ở bệnh viện cách tư dinh Mao không xa. Tôi có chứng minh thư ra vào B, nhưng với nó tôi có thể đi quanh khu bệnh viện, về nhà và quanh sân nhà minh mà thôi. Lý Liên cũng có chứng minh thư như thế, nhưng không được đi lại nhiều như tôi.
Bệnh viện tôi phụ trách chữa chạy không những người cao cấp, mà còn cả những gia đình và những nhân vật quan trọng sống ở Bắc Kinh. Nhiều chiến sĩ cách mạng tám năm chiến đấu với Nhật và bốn năm với quân đội Quốc dân đảng, giờ đây lập gia đình và vì thế toii còn phải chữa bệnh cho đám con nhỏ của họ. Gánh nặng công việc đè nặng và tôi không còn thời gian nghỉ ngơi nữa.
Tôi viết đơn xin vào đảng, nhưng nguồn gốc xuất thân của tôi lại thành vấn đề. Dĩ nhiên, tôi được trải qua thử thách. Bố tôi có giữ một chức vụ quan trọng trong chính phủ Quốc dân đảng. Dù Chu Ân Lai mời ông quay về Bắc Kinh, hứa là sẽ bảo vệ ông, nhưng nhiều người liệt bố tôi là phản cách mạng. Bố vợ tôi là địa chủ tỉnh An Huy. Trong thời gian cải cách ruộng đất ông bị quy tội kẻ thù nhân dân, bị tước không chỉ quyền công dân mà còn cả phương tiện sinh sống. Bây giờ ông phụ thuộc vào sự chu cấp của tôi. Vợ tôi cũng gây cho họ sự nghi ngờ. Trước giải phóng vợ tôi làm việc cho không lực Hoa kỳ và lãnh sự Anh và người ta tung tin rằng vợ tôi bề ngoài vẫn là điệp viên bí mật của hai ông chủ trên. Ngay cả thời trai trẻ của tôi cũng chẳng lấy gì tin cậy.
Trong lý lịch tự thuật, kèm đơn xin vào đảng, tôi viết là sau khi học xong trung học ở Quý Châu, tôi bị Quốc dân đảng gọi đi huấn luyện quân sự ba tháng. Người ta nói là sau lớp huấn luyện tôi sẽ gia nhập Hội phục hưng quốc gia của Quốc dân đảng. Tuy nhiên, khi huấn luyện xong, tôi chẳng bao giờ nghe đến cái tổ chức này và tôi cũng không quan hệ gì với hoạt động của nó thậm chí gián tiếp. Về sau mới hay Hội phục hưng quốc gia là tiền thân của Đoàn thanh niên nhân dân quốc gia, một tổ chức chính trị có liên quan tới Hội áo bồ câu – một trong số tổ chức mật của đảng cộng sản. Các đảng viên cộng sản có nhiệm vụ điều tra lý lịch tôi, không thể tin là tôi không dính líu vào hoạt động của Hội Phục hưng.
Lại phát sinh nghi ngờ trong mối quan hệ trong thời kỳ tập sự sau khi học xong trường y khoa. Đợt thực hành y khoa đầu tiên của tôi bắt đầu với tư cách bác sĩ quân y Quốc dân đảng.
Quan chức của đảng tiếp tục đào bới quá khứ của tôi, và việc cho tôi vào đảng bị hoãn vô thời hạn.
Dù vậy tôi có xu hướng muốn đóng góp vào sự nghiệp cách mạng. Để làm điều này, tôi tình nguyện tham gia vào hàng ngũ những người tích cực giúp cho công cuộc cải cách ruộng đất. Một số lần tôi tham gia hạ phóng về nông thôn, ở đó chúng tôi chia lại đất đai và đồ đạc tịch thu ở những gia đình giàu có và chia cho cố nông và nông dân nghèo xơ xác. Thậm chí cuộc cải cách ruộng đất đã tước đi tất cả mọi thứ ở bố vợ tôi, như trước đây tôi vẫn ủng hộ nó. Tất cả những đổi thay này kết liễu sự bóc lột giai cấp nông dân và cải thiện đáng kể đời sống nghèo khó ở thôn quê. Chỉ sau nhiều năm, tôi mới biết thực chất cuộc cải cách man rợ và mất tính người mà những ông đội, bà đội tham gia lúc đó. Chẳng bao lâu người ta không cho tôi tham gia cải cách ruộng đất nữa, nói là Trung Nam Hải rất cần nghề bác sĩ của tôi.
Năm 1950 chiến tranh Triều tiên bùng nổ. Tôi ngay lập tức làm đơn tình nguyện. Tôi chưa được tham gia kháng Nhật và nội chiến Quốc-Cộng, và vì thế tôi quyết định giờ đây phải phục vụ đất nước mình. Tôi tin rằng Trung quốc không thắng cuộc chiến này, có lẽ là vì đối thủ là Mỹ, một nước hùng mạnh bậc nhất thế giới. Tôi theo dõi chặt chẽ tin chiến sự và ngạc nhiên thấy quân đội Trung quốc giáng cho kẻ thù những thiệt hại như thế nào. Lần đầu tiên sau một thế kỷ, Trung quốc tỏ ra là chống đối quyết liệt lực lượng xâm lược ngoại quốc hùng mạnh. Tôi giận và căm phẫn người Mỹ đã sử dụng vũ khí vi trùng ở Triều Tiên. Dù rằng cuộc chiến ở Triều Tiên đi vào ngõ cụt, tôi vẫn tự hào vô hạn lòng dũng cảm của đồng bào tôi. Cấp trên không cho tôi vào khu vực chiến sự, lại đánh giá sự quan trọng của công việc tôi ở Trung Nam Hải.
Tôi bồn chồn và uất ức. Người ta không thể cho phép tôi được giúp đỡ cách mạng, lẫn thành bác sĩ phẫu thuật.
Tôi cảm thấy sự xa lánh từ phía bệnh nhân của mình, việc vào đảng vẫn dậm chân tại chỗ như trước đây.
Trong cơn khủng hoảng ấy, lần đầu tiên tôi gặp gia đình Mao. Mao Ngạn Thanh, người con trai 30 tuổi của lãnh tụ được chở vào bệnh viện. Anh ta mắc bệnh tâm thần – không thể ngủ được, suốt đêm đi lại quanh nhà, lẩm bẩm một mình.
Mao có hai con trai – Mao Ngạn Thanh và Mao Ngạn Anh. Hai người này là con của bà vợ Đường Khai Tuệ, bị Quốc dân đảng xử tử năm 1930 vì không chịu bỏ người chồng mình, mặc dù chính Mao trong khi đó nằm cách đấy vài trăm dặm ở Giang Tây, vùng căn cứ địa xô viết và cũng đã cưới bà Hồ Huệ Trân. Sau khi mẹ chết, hai người con nhỏ được chuyển về Thượng Hải, ở đó họ đã sống sót một cạh lạ lùng. Những ai từng biết Mao Ngạn Thanh đều cho rằng bệnh tâm thần của anh ta do đòn dã man của cảnh sát Thượng Hải. Cả hai người con trai Mao được tìm thấy chỉ sau một số năm, khi trở thành phố Diên An trở thành căn cứ địa của đảng. Mao đã gửi họ sang học ở Liên-xô.
Khi bắt đầu chiến tranh Triều Tiên, người con lớn Mao Ngạn Anh ra chiến trường, hy sinh trong cuộc ném bom của Mỹ. Người con út Mao Ngạn Thanh làm phiên dịch ở bộ phận tuyên huấn Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc.
Năm 1953 trong cả nước rộ lên chiến dịch đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu trong hàng ngũ đảng cộng sản Trung quốc. Mao Ngạn Thanh phát hiện rằng một đồng sự đã biển thủ tiền nhuận bút bài báo của mình bằng cách giả mạo chữ ký. Mao Ngạn Thanh giận dữ đánh người đồng sự ấy. Biết tin, Mao nổi giận và chửi bới người con. Có thể, đây là một trong những nguyên nhân bệnh tâm thần của Mao Ngạn Thanh. Tôi không phải chuyên gia trong lĩnh vực thần kinh học, và bệnh viện chúng tôi chỉ tiến hành điều trị phòng ngừa. Tôi cho Mao Ngạn Thanh uống thuốc an thần và tìm cách báo cho gia đình anh ta nên sang chữa ở bệnh viện tâm thần.
Một chiều, khi tôi đang xem bệnh án, cô y tá chạy hớt hơ hớt hải nói là Giang Thanh đang có mặt trong bệnh viện và muốn nói chuyện với tôi về sức khoẻ của Ngạn Thanh.
Giang Thanh đi cùng người nữ vệ sĩ chờ tôi trong phòng khách, cạnh buồng Anh Thanh. Tôi thấy vợ Mao một vài lần, nhưng thoáng qua. Bà ta vào đảng ở Diên An, trước đó bà là diễn viên ở Thượng Hải. Tất nhiên, tôi cho rằng quần áo của bà khác hẳn bộ đồ một màu xám của lãnh tụ, làm mode cho tất cả Trung quốc, nhưng điều tôi nhìn thấy lại rất gây ấn tượng với tôi. Giang Thanh mặc bộ âu phục thanh lịch. Dưới áo gile là chiếc váy bằng nhung lụa mềm mại. Chân bà đi tất – thời ấy được xem là xa hoa – và đôi ủng da màu đen gót thấp. Mái tóc đen dày. Bà có đôi mắt xẫm quyến rũ và nước da trắng như màu ngà voi. Giang Thanh cao khoảng mét sáu mươi, mảnh mai, phần lưng dài hơn phần dưới. Hồi ấy bà 38 tuổi, con tôi thì 30.
- Xin chào đồng chí, bác sĩ Lý?
Giang Thanh chào tôi lịch sự theo giọng Bắc Kinh, khi tôi ngồi đối diện. Không chờ tôi trả lời, Giang Thanh hỏi luôn:
- Sức khỏe Ngạn Thanh thế nào?
Mặc dù giọng nói rất thanh lịch nhưng phát ra rất lạnh lùng. Người ta kể rằng thời trẻ Giang Thanh là cô gái duyên dáng. Theo tôi Giang Thanh là một phụ nữ đáng yêu nhưng không đẹp. Bà ta có vẻ vừa đoan trang vừa ngạo mạn.
Tôi kể tỷ mỷ tình trạng sức khoẻ của Ngạn Thanh và khuyên nên chuyển anh ta đến bệnh viện tâm thần hoặc trại an dưỡng, bởi vì bệnh viện chúng tôi không thể chữa bệnh tâm thần.
Giang Thanh nghĩ một lúc, sau đó nói là sẽ nói lại điều này cho lãnh tụ. Để ông ta quyết – Giang Thanh chấm dứt.
Khi chia tay chúng tôi bắt tay nhau. Ngón tay bà nhỏ nhắn và mềm mại, móng được thợ sửa cầu kỳ. Cám ơn tôi xong, bà đi ra sân đã có ba vệ sĩ chờ bà. Tôi cảm thấy rằng bà ta không tin tôi. Cái nhìn và ngữ điệu dò hỏi đã toát lên vẻ nghi ngờ của bà đối với những lời và hành động chân thật của tôi.
Sau đó bác sĩ tâm thần xác nhận Mao Ngạn Thanh bị điên và người ta gửi anh ta về thành phố nghỉ mát Đại Liên, bắc Trung quốc. Anh ta sống trong một căn nhà riêng và có cô y tá phục vụ. Họ yêu nhau, nhưng gia đình Mao lại chọn cho anh ta một cô dâu khác, em gái út của cô vợ goá Mao Ngạn Anh. Cô y tá đau khổ trở về Bắc Kinh.
Mùa thu năm 1953, một năm sau cuộc gặp ở bệnh viện, tôi lại chạm trán với Giang Thanh, nhưng ở nhà Hồ Kiều Mục, một trong các thư ký của Mao, phụ trách tuyên huấn. Hồ Kiều Mục kính trọng công việc của tôi, và chúng tôi trở thành bạn của nhau.
Tôi đến nhà Hồ Kiều Mục để chữa cho ông bệnh dị ứng thuốc và lóet dạ dày. Lúc đang khám, thì bỗng nhiên vợ ông, Hồ Hữu, làm việc ở viện hàn lâm khoa học, chạy vào và thông báo rằng Giang Thanh vừa tới. Bà giục chồng: Mặc quần áo nhanh lên. Ông xin lỗi tôi vì phải bỏ dở cuộc khám.
Tôi chạm trán Giang Thanh ngay lối vào. Bà bật lên:
- Bác sĩ Lý ở đây à!
Hồ Kiều Mục giải thích lý do viếng thăm của tôi. Đó là cuộc gặp đã lâu rồi nhưng tôi không quên được giọng lạnh lùng khi bà nói chuyện với tôi.
Phụ trách bệnh viện Trung Nam Hải, tôi coi tất cả bệnh nhân như nhau, không phân biệt địa vị, chức vu của họ. Danh tiếng của tôi tăng lên từng ngày. Nhiều người đã hài lòng khi tôi chữa và một số người thậm chí tin tôi, kểc cho tôi nghe đời tư và chuyện gia đình để tìm lời khuyên trong tình huống phức tạp. Họ tin tôi vì tôi chưa khi nào làm lộ bí mật việc xưng tội của họ.
Cuối năm 1952 tôi được cấp chứng minh thư A dành cho nhân viên gương mẫu của bộ máy. Đó là một vinh hạnh lớn.
Sau đó cuối cùng người ta chấp nhận tôi là đảng viên dự bị đảng cộng sản Trung quốc. Không ai chống tôi cả. Những ai biết tôi, đều nhất trí xác nhận rằng tôi chưa khi nào khoái chính trị cả. Việc thẩm tra lý lịch vào đảng của tôi kéo dài tròn hai năm.
Sau này người ta nhắc lại xuất thân của tôi và những hoạt động chính trị chống đảng cộng sản Trung quốc, khi đất nước Trung quốc tiến hành làn sóng thanh lọc và đàn áp. Nhưng tháng 11 năm 1952 tôi đã thề với đảng cống hiến tất cả đời mình cho sự nghiệp của đảng và sẵn sàng chịu đựng hy sinh và thiệt thòi cho đảng. Về chủ nghĩa Mác, tôi chỉ đọc qua Tuyên ngôn đảng cộng sản của Mác và hai bài báo của Mao. Ngoài ra, tôi chỉ nhớ một vài bài phát biểu hăng hái của anh tôi và một số khẩu hiệu mác xít đại loại Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu
Nhưng tôi cũng không trở thành người đảng viên chân chính. Phần đông đảng viên sống ở Trung Nam Hải thuộc hạng đặc quyền đặc lợi. Họ tham gia công nhân đã lâu và vào đảng khi còn trẻ. Ngoài ra, tất cả những người này đều tham gia Trường Chinh. Họ xuất thân từ dân nghèo, chưa được học hành và mang nặng thành kiến của nông dân ngu dốt. Nhiều người trong số họ ngưỡng mộ hiểu biết của tôi. Tôi đánh giá cao sự nhiệt tình cách mạng và sự sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng cách mạng. Nhưng giữa chúng tôi, như trước đây, cẫn có hố ngăn cách. Họ coi tôi là trí thức, thuộc về tầng lóp bóc lột, và vì thế đâm ra nghi ngờ. Họ áp dụng chính sách lôi kéo, sử dụng và cải tạo đối với tôi. Điều mà đảng quý tôi chỉ là kiến thức của tôi trong lĩnh vực y học và kinh nghiệm của một bác sĩ.
Họ được đánh giá đến mức nào trong hành động, tôi biết điều ấy chiều 2 tháng 11 năm 1954. Uông Đông Hưng gọi điện cho tôi và mời tôi đến nhà ông. Uông phụ trách phục vụ bảo vệ trung ương, lo toan bảo vệ an ninh cho gii lãnh đạo đất nước. Ngoài ra, ông còn chỉ huy đội vệ sĩ của Mao. Tôi quen ông trong bệnh viện, khi vợ ông và con nhỏ vài lần tới đó chữa bệnh. Chúng tôi đánh bạn với nhau. Uông là công thần của đảng và tham gia Trường Chinh. Ông gắn cuộc đời của mình với phong trào cộng sản đã hàng chục năm. Uông Đông Hưng gốc gác bần cố nông, khi đó chưa biết lối sống thành phố đã bị cảnh sát bắt giữ khi ông quyết định chữa các thứ cần ngay trên đường phố. Người ta doạ bỏ tù ông, may mà nhờ nhờ khoản hối lộ khá to của ông bố mà Uông thoát khỏi bị tù. Uông chống lại sự bán nước của Quốc dân đảng, và tham gia đảng cộng sản. Ông gặp Mao ở Diên An. Sau năm 1949, người ta bất ngờ đưa ông chức vụ cao, nhưng ông luôn luôn tôn trọng trí thức và đánh giá tôi là bác sĩ nhận bằng cấp phương tây.
Ông không muốn nói chuyện qua điện thoại, nguyên do là ông muốn trực tiếp gặp tôi, nên ông phải yêu cầu gặp riêng. Điều này làm tôi ngạc nhiên, bởi vì trước đó Uông Đông Hưng và tôi luôn cởi mở với nhau.
Chúng tôi gặp nhau ở một phòng rộng ở Trung Nam Hải, ông sống với vợ ở đó. Căn buồng này vừa là phòng làm việc, vừa là phòng khách, vừa là phòng ăn và thậm chí còn là phòng ngủ. Con cái ông sống trong ngôi nhà nhỏ đầu kia toà nhà có bảo mẫu trông nom. Uông Đông Hưng rót trà và bưng một chén cho tôi.
Uông nói:
- Đây là chè Long Thanh năm nay. Thử đi đồng chí! Chè này trồng ở Hàng Châu và được coi là ngon nhất ở Trung quốc. Khác với rượu vang, chất lượng phụ thuộc vào tuổi, thì chè này có giá trị và hữu ích nhất trong năm thu hoạch nó. Uông Đông Hưng biết rạch ròi thưởng thức. Tôi uống một ngụm và thấy ngon.
- Tôi có ích như thế nào?
Im lặng một lát, Uông Đông Hưng hỏi tôi:
- Đồng chí biết vì sao trong thời gian dài tôi không điều đồng chí đi chỗ khác?
Tôi trả lời, ngạc nhiên về câu hỏi của ông ta
- Tôi không biết.
- Tôi theo dõi đồng chí một số năm rồi, mọi người ở Trung Nam Hải quý đồng chí. Đồng chí được bệnh nhân đánh giá cao vì không phân biệt địa vị và chức vụ và không khi nào tỏ vẻ lên mặt. Kinh nghiệm và kiến thức y học của đồng chí, thái độ phục vụ và ýinh không ích kỷ của đồng chí đã làm cho các đồng chí của chúng tôi, bao gồm cả lãnh đạo cao cấp kính phục. Thậm chí chính Mao Chủ tịch đã nghe về đồng chí chỉ qua những câu ca ngợi. Bây giờ chúng tôi cố tìm một người vào chỗ bác sĩ riêng Mao, và điều này là nhiệm vụ không đơn giản.
Uông nói tiếp:
- Tôi đã thảo luận với bộ trưởng công an La Thụy Khanh và trưởng ban Ban tổ chức và xếp đồng chí vào công việc này. Về điều này tôi cũng thông báo cả cho thủ tướng Chu Ân Lai. Tất cả đều thống nhất chấp thuận sự lựa chọn của tôi. Hôm qua tôi đã trình tất cả cho Mao, và ông sơ bộ đồng ý. Nhưng trước khi có quyết định dứt khoát, Mao Chủ tịch muốn nói chuyện trực tiếp với đồng chí. Đồng chí cần chuẩn bị. Tôi nghĩ rằng Chủ tịch sẽ nhanh chóng gọi ông đến gặp đấy.
Tôi rất bất ngờ tin này. Tôi biết sau cái chết bất ngờ Nhậm Bích Thế năm 1950, tất cả các nhà lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc bắt đầu sử dụng bác sĩ riêng. Tuy nhiên giao tôi việc như thế quả là một trách nhiệm lớn. Từ cửa sổ bệnh viện tôi thường nhìn sang nhà nơi Mao ở. Tôi cho rằng ngôi nhà này là trái tim của Trung quốc, và nhịp đập Mao – cũng là nhịp đập của của nước Trung hoa. Tôi thậm chí không thể hình đung một lúc nào đó tôi được ở chỗ thần thánh. Mao đối với tôi là người vĩ đại, như ngôi sao trên trời. Đầu óc tôi bâng khuâng.
Tôi chẳng tự hào gì về công việc này. Thành phần xuất thân của tôi, bị nghi ngờ có liên quan với Quốc dân đảng, bố tôi làm cho chính phủ Quốc dân đảng, lại thêm tin đồn vợ tôi là gián điệp – mọi người không quên điều đó. Lý Liên không là đảng viên và chẳng khi nào có thể vào đảng được. Nhiệm vụ như thế thường trao cho con cái công nhân và nông dân. Quá khứ của tôi luôn luôn theo sát tôi, và người ta cũng không gạch nó đi cho tôi nhờ. Thêm nữa, Mao cũng đã có bác sĩ riêng.
Tôi nhớ lại trường hợp đau buồn trong quá khứ của cụ tôi, từng là thầy thuốc trong hoàng cung thái hậu Từ Hy, sau khi phát hiện bệnh giang mai ở con trai bà – hoàng đế Tường Nghi. Sự đày ải cụ tôi khỏi chức vụ bác sĩ ngự y đã ảnh hưởng tới thế hệ sau, và không ai trong họ chúng tôi có quyền chữa bệnh troing hoàng cung.
Tôi phát biểu sự nguy hiểm của mình cho Uông, và tôi cho là mình không xứng đáng làm công việc này, nhưng Uông cười phá lên, trả lời:
- Đừng lo! Trước khi cho đồng chí vào đảng, chúng tôi nghiên cứu cẩn thận quá khứ của đồng chí và những người thân của đồng chí. Mọi nghi vấn đã được tháo gỡ. La Thụy Khanh, Dương Thượng Côn và thủ tướng Chu Ân Lai không nghi ngờ gì về lòng trung thành của đồng chí, và họ cũng an tâm về quá khứ của đồng chí. Nếu không thế thì đồng chí đã chẳng được tiến cử làm bác sĩ riêng của Mao. Quá khứ cụ tổ đồng chí, thuộc về thời phong kiến. Thời nay khác xưa rồi, và đồng chí nên bỏ tất cả những mặc cảm đó đi.
Tôi hỏi:
- Nhưng Phó Liêm Chương có biết việc này không chứ?
Chính Phó Liêm Chương mời tôi quay về Trung quốc. Đồng chí ấy xếp việc cho tôi và giờ đây là thứ trưởng bộ y tế. Bộ này bộ thuộc Quốc vụ viện cộng hoà nhân dân Trung hoa được thành lập mới đây. Trước đây đồng chí ấy lãnh đạo cục bảo vệ sức khoẻ, lo về công tác bảo vệ sức khoẻ các nhà lãnh đạo cao cấp đất nước. Phó Liêm Chương tự cho mình là bạn thân và là chiến hữu của Mao, đương nhiên, luôn luôn phải quan tâm sức khoẻ của Mao nhiều hơn. Vì thế tôi cho rằng giao việc trong tương lai cần nên thảo luận cả với Phó.
Uông đáp:
- Các đồng chí lãnh đạo cao nhất sẽ quyết định. Dù rằng Phó là thủ trưởng trực tiếp của đồng chí, tôi không nghĩ là chúng tôi nhất thiết phải hỏi đồng chí ấy.
Nhưng tôi linh cảm điều này có gì không ổn trong quan hệ với Phó Liêm Chương.
Tôi nói với Uông:
- Tôi cũng cần nghĩ kỹ đề nghị của đồng chí. Lý do của nó chưa thuyết phục tôi đến cùng. Tôi không cảm thấy mình đang ở Trung Nam Hải, dù rằng về hình thức tôi đã đứng trong hàng ngũ đảng. Lý lịch xuất thân của tôi không khi nào xoá được, và nếu tôi thành bác sĩ riêng của lãnh tụ, thì tôi sẽ luôn nằm dưới sự theo dõi. Nếu lỗi nhỏ người ta nhắc nhở tôi, nếu lỗi to hơn thì lại buộc tội tôi âm mưu chống đảng và lãnh tụ. Toi sẽ tức khắc bị coi là kẻ thù giai cấp, được xem là trọng tội ở nước Trung hoa cộng sản.
Uông nói
- Không còn thời gian để đồng chí nghĩ lung tung nữa. Chúng tôi đã quyết định rồi.
Lúc này tôi hiểu rằng mình hết lối thoát.
Tôi tiếp tục nói:
- Nếu tôi đảm nhận trách nhiệm này, thì tôi làm tất cả bào chữa cho lòng tin của đảng nhưng tôi nói trước rằng tôi chưa đạt được trình độ hoàn thiện và tôi muốn người ta tin rằng nếu mắc lỗi thì phạt tôi chứ đừng đổ xuống đầu đồng chí.
Thực tế, Uông Đông Hưng quả là rất liều, khi đưa tôi vào nhiệm vụ này. Nếu tôi mắc lỗi gì đó, thì rõ rằng là Uông cũng phải gánh chịu. Chúng tôi sẽ đi với Uông trong một rọ đến khi Mao chết.
Uông động viên tôi:
- Đừng lo. Dĩ nhiên, đồng chí phải hết sức chú ý vàthận trọng, thường xuyên trao đổi với thủ trưởng của mình. Dù vậy quyết định cuối cùng hoàn toàn chưa xong, và đồng chí có thể cân nhắc lợi hại, nhưng chỉ có đồng chí là tự trả lời được. Tất cả chỉ có thế. Tôi nghĩ, đồng chí nên tham khảo ý kiến và tôi không sai khi chọn đồng chí. Bây giờ, đồng chí quay về nhà và chuẩn bị cho cuộc nói chuyện với Mao. Chủ tịch sẽ chấp nhận quyết định cuối cùng. Hãy chờ điện thoại của tôi. Tôi sẽ nói đồng chí thời gian gặp lãnh tụ.
Uông Đông Hưng đưa tôi hồ sơ sức khoẻ Mao và yêu cầu tôi xem trước. Uông cũng nói rằng Mao sớm rời khỏi Bắc Kinh đi nghỉ ở phương nam. Tôi vẫn làm ở bệnh viện và chờ quyết định cuối cùng.
Trong khi chờ đợi, tôi nghe không ít những lời cảnh cáo. Trần Dương Anh, vợ goá Nhậm Bích Thế, một trong số bí thư đảng cộng sản Trung quốc, nhắc trước tôi rằng công việc sắp tới sẽ chẳng đơn giản chút nào đâu. Sau khi chồng chết, bà sống trong sự thất vọng. Tôi cố an ủi và động viên bà. Bà là người phụ nữ đáng nể, một người vợ chung thuỷ, một người mẹ đáng quý. Sau cuộc gặp này chúng tôi trở thành bạn tốt của nhau.
Cùng với Trần Dương Anh, tôi có mặt trong các cuộc hội nghị đảng, đi Thượng Hải và Hàng Châu. Bà kể cho tôi về sự lập dị và quái đản của Mao cảnh báo tôi rằng cẩn thận trọng khi nói chuyện với Mao.
Bà nói:
- Mao có thói nổi xung bất thường, và một sai sót nhỏ của đồng chí có thể làm ông phát khùng. Vợ ông, Giang Thanh, một người độc ác và thô bỉ với người xung quanh, ngoài việc quyến rũ đàn ông. Đừng bị mê hoặc bởi vẻ ngoài của bà ta. Nếu đồng chí rơi vào thảm hoạ, thì không ai trong số những người gần Mao giúp được đồng chí đâu. Hơn thế nữa, bất kỳ lúc nào đồng chí có thể chui vào tù đấy.
Những lời nói thẳng của Trần Dương Anh làm tôi lo lắng. Tôi phục Mao và cho đấy là lý tưởng. Dĩ nhiên, tôi không so sánh ông với ông vua nhưng uy quyền của ông với tôi là không còn bàn cãi nữa. Không ai có thể dũng cảm phê bình ông. Thêm nữa, chính trong những năm này rộ lên chiến dịch đấu tranh chống bọn phản cách mạng, và nếu ai đó nghe được lợi của Trần Dương Anh, người ta có lẽ buộc tội bà âm mưu và phần tử phản cách mạng.
Tôi không bao giờ quên những lời cảnh báo của Trần Dương Anh và năm này qua năm khác tôi tin sự chính xác của bà. Thậm chí bây giờ tôi vẫn còn biết ơn sâu sắc người phụ nữ dũng cảm này vì lòng thiện chí và cởi mở với tôi.
Cuộc đấu tranh với phản cách mạng làm tôi bối rối. Cầm đầu chiến dịch là Uông Đông Hưng, người tiến cử tôi làm bác sĩ của Mao. Người ta vẫn tiếp tục quy tội những bác sĩ riêng của một người lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc vào tội chống đảng. Bắt bớ các bác sĩ tiếp tục một số tuần lễ. Hàng ngày tất cả mọi người ở Trung Nam Hải họp mít tinh kéo dài 4-5 giờ liền để xỉ nhục các đồng nghiệp của tôi, trút xuống đầu những bác sĩ vô tội những lời lăng nhục bẩn thỉu. Tôi choáng váng và căm phẫn. Các bác sĩ đâu có được đối xử ngọt ngào, họ đã phải thực hiện công việc chẳng nhẹ nhàng chút nào. Mỗi người trong số họ phải coi sóc sức khoẻ chỉ cho một người lãnh đạo. Dù cái chết bất ngờ Nhậm Bích Thế, nhưng những người lãnh đạo vẫn còn khoẻ mạnh cơ mà. Kinh nghiệm của bác sĩ cũng chỉ có giới hạn trước bệnh tật. Tất cả họ đều trẻ hơn tôi và mới vào đời. Họ cảm thấy rằng khả năng và kiến thức của họ không được sử dụng hoàn toàn, nghề nghiệp thì mai một, nhưng họ lại không được thực hành ở chỗ khác. Họ không hài lòng là kiến thức và kinh nghiệm của họ chỉ phục vụ cho số ít người được chọn chứ không phải cho tất cả nhân dân, và thế là bị buộc tội chống đảng.
Cuộc tấn công vào các bác sĩ vẫn chưa ngừng lại, những lời buộc tội mới hoàn toàn vô lý đã được thêm vào tội của họ. Hứa Đào, bác sĩ của vợ Mao, từng có thời là bác sĩ riêng của Mao trở thành nạn nhân. Người ta buộc tội Hứa Đào không những chống đảng, mà còn tội chế giễu Giang Thanh. Và dù là những lời buộc tội hoàn toàn lố bịch, bản thân Hứa Đào bị doạ trừng trị nặng nế. Các vệ sĩ vợ Mao kể là khi Giang Thanh đề nghị kéo rèm, thì bác sĩ Hứa Đào làm điều đó hơi chậm. Do đó ánh sáng mặt trời thường xuyên chiếu vào mắt Giang Thanh, làm giảm thị lực của bà. Ngoài ra, Hứa Đào còn bị buộc tội chủ ý giảm nhiệt độ phòng của vợ Chủ tịch, và khi bà ta nổi giận thì ông ta chỉ cho bà thấy cái nhiệt kế hỏng đang chỉ mức 25 độ, đó là nhiệt độ mà đồng chí Giang Thanh yêu cầu. Vì tất cả những lỗi này, ông bị buộc tội chống đảng. Cuối cùng tất cả các bác sĩ, trừ một người, đã bị thải hồi. Cần phải nói là họ được chuyển về bệnh viện Bắc Kinh và có thể tiếp tục nghề nghiệp y học của mình. Đó là điều mà họ mơ ước.
Trớ trêu thay, Hứa Đào, bị buộc tội nhiều nhất, lại vẫn ở lại là bác sĩ riêng của Giang Thanh
Tôi rất thông cảm cho đồng nghiệp của mình và tin rằng họ không có lỗi. Họ chưa hề là thành viên nhóm chống đảng, nhưng tôi không thể lên tiếng bảo vệ họ được. Giá như ai đó nghe được ý kiến của tôi, thì tôi cũng bị buộc tội chống đảng và sự việc cũng chấm dứt.
Ngày ấy tôi chưa có nhiều kinh nghiệm và còn ngây thơ. Điều này bắt đầu ngay ngay sau khi tôi trở về Bắc Kinh, khi Lý Liên không thể tìm thấy việc làm. Tôi khi đó hiểu rằng giá như tôi tặng Dương chiếc đồng hồ, thì tất cả mọi việc sẽ khác đi và Lý liên chẳng lo gì việc làm.
Năm 1953 bắt đầu chiến dịch chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu, đụng chạm tới gia đình tôi. Anh và chị họ tôi bị buộc tội. Họ từng khuyến khích tôi vào đảng, và tôi không nghi ngờ họ vô tội. Nhưng tôi lại phải ngậm miệng, nếu không thì họ cũng buộc tội tôi là kẻ thù của đảng.
Trong khi chưa được vinh dự làm bác sĩ riêng của Mao, tôi đã cảm thấy sự nguy hiểm do là tôi buộc phải làm trái ngược những nguyên tắc sống của mình và truyền thống gia đình. Thông thường trong những trường hợp như thế, tôi phải đứng về một bên, nhưng trong thời gian đấu tố bác sĩ tôi buộc phải đứng ở phía những người buộc tội, bởi vì số phận những người thân của tôi phụ thuộc vào điều đó. Tôi phải lừa dối, nhưng đó là cơ hội duy nhất để giữ được việc làm và trau dồi nghề nghiệp. Tôi cần phải làm điều này, bởi vì thực tế bao hàm cả gia đình tôi.
Tôi không buộc tội đồng nghiệp của tôi tội chống đảng mà chỉ xác nhận rằng họ chẳng có điều gì đáng phàn nàn, và mói về sự chưa vững về nghề nghiệp và sai sót phần nào nghề nghiệp bác sĩ, cái đó họ cần học nhiều để làm việc tốt hơn trong tương lai.
Bốn mươi năm đã trôi qua, và tôi cũng vẫn còn sợ hãi mặc dù tôi đang sống ở một đất nước tự do và dân chủ – Hoa kỳ. Nghĩ lại chặng đường đã qua nếu tôi mọi thứ lặp lại như lúc đầu và những sai lầm được tính trước thì tôi đã bước đi một cách chính xác. Tôi không có sự lựa chọn. Những người thân phụ thuộc vào tôi, nếu bây giờ tôi còn ở lại Trung quốc làm chứng cho cuộc đàn áp đẫm máu với những người biểu tình trên quảng trường Thiên An Môn 4 tháng sáu năm 1989, hành động được chính quyền và quân đội gõy ra, thì những người thanh niên cũng không dạy được nữa. Thậm chí giờ đây, trong sựphát triển của Trung quốc, đảng cộng sản vẫn tiếp tục theo dõi những người vô tội và cưỡng bức ý nguyện của toàn thể nhân dân Trung quốc. Như những năm trước đây, để mà sống được ở Trung quốc, cần phải giảm bớt lương tâm và lòng tự trọng.
Năm 1954, trong vụ án bác sĩ tôi và không biết rằng đồng nghiệp của tôi chỉ là những con tốt đen trong ván cờ tranh chấp quyền lực giữa Uông Đông Hưng và Phó Liêm Chương.
Phó Liêm Chương là thứ trưởng bộ y tế và đảm nhiệm bảo vệ sức khoẻ cho các lãnh tụ cao cấp. Các bác sĩ riêng cho họ đều được bổ nhiệm theo lời đề nghị của ông ta. Phó Liêm Chương rất kho có cơ hội nói chuyện với Mao và những người lãnh đạo khác, và vì thế ông ta sử dụng các bác sĩ được tiến cử vào mục đích của mình. Họ không những chỉ thông báo cho Phó về tình trạng sức khoẻ của lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc, mà còn kể cho họ về tất cả cái gì thấy và nghe được. Điều này giúp Phó trong cơn bão táp chính trị giữ được vị trí của mình và tránh khỏi chỉ trích và buộc tội. Tất nhiên ông quan tâm hơn cả là quan điểm của Mao.
Uông Đông Hưng, phụ trách an ninh quốc gia và lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc, nhưng việc bảo vệ sức khoẻ những nhà lãnh đạo cao cấp Trung quốc cũng là nhiệm vụ của ông ta. Quyền lực của Uông thực tế lớn hơn quyền lực của Phó Liêm Chương. Uông luôn là người có hoài bão chính trị, và ông lại rất gần Mao. Tin tức về hoạt động và phát biểu của các nhà lãnh đạo cao cấp, Uông Đông Hưng nhận được không những từ đám vệ sĩ, mà còn từ các bác sĩ mà Phó bổ nhiệm. Miếng mồi giành độc quyền nguồn thông tin dẫn cuộc cắn xé giữa hai con hổ.
Cuộc xung đột tới đỉnh điểm sau khi Uông, không hỏi han gì Phó Liêm Chương đã tiến cử tôi vào chức vụ bác sĩ riêng của Mao. Mâu thuẫn ngấm ngầm ban đầu đã biến thành thù địch công khai. Phó Liêm Chương bắn tin để Mao chống sự bổ nhiệm tôi, lôi thành phần và quá khứ của tôi ra. Trả miếng Phó Liêm Chương, Uông Đông Hưng kích động vụ án bác sĩ, được tiến hành dưới ngọn cờ đấu tranh với bọn phản cách mạng là hoàn toàn tự nhiên. Kết quả là tất cả các bác sĩ do Phó bổ nhiệm bị thải hồi và Uông Đông Hưng ăn mừng chiến thắng. Chia rẽ trong quan hệ mối quan hệ Phó Liêm Chương và Uông tăng lên, và họ trở thành kẻ thù không đội trời chung.
Chiến dịch chống bác sĩ cũng bẻ gẫy ý chí của trí thức. Không ai hoài nghi rằng ở Trung quốc không có chút nhân quyền nào cả có thể sống và nói năng. Mỗi người cần phải bưng mắt tuân theo mệnh lệnh của cấp trên. Một sự không bằng lòng nho nhỏ hoặc một lời nói bừa bãi có thể làm cho anh trở thành kẻ thù của đảng và nhân dân. Trên khắp đất nước, đảng cộng sản Trung quốc tổ chức các cuộc mít tinh phản đối, tại đó khối quần chúng nhân dân phẫn nộ lên án bọn kẻ thù của cách mạng, đảng và nhân dân Trung quốc. Mỗi người chỉ là một chiếc đinh ốc nhỏ trong cỗ máy quyền lực khổng lồ phức tạp. Một thoáng nhỏ không hài lòng hoặc lệch khỏi các tiêu chuẩn định sẵn đều có thể bị quy tội và bị gửi đi cải tạo.
Tuy nhiên quay lại việc bổ nhiệm tôi. Tôi càng tôn thờ Mao bao nhiêu thì công việc tương lai đe doạ tôi bấy nhiêu. Lý Liên cảnh cáo tôi người ta sẽ không khi nào tha thứ sai lầm của tôi. Sau năm năm sống ở Trung quốc vợ tôi đã hoàn toàn gột bỏ ảo tưởng đối với những gì xảy ra trong nước. Vợ tôi lúc nào cũng nhớ tới ông bố địa chủ, và tội gián điệp luôn lơ lửng trên đầu vợ tôi như một như thanh gươm Đamocrát. Trong khi đó vợ tôi hiểu rõ rằng tôi không thể thoát khỏi trách nhiệm nguy hiểm này. Trong những năm chung sống vợ tôi luôn luôn lo sợ cho tính mạng của tôi.
Một vài tháng trôi qua kể từ hôm gặp Uông. Tôi căng thẳng chờ đợi, nhưng không thấy lãnh tụ gọi.




Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Bác sỹ riêng của Mao (tiếp theo)

Chương 3

Bắc Kinh hoang tàn và tiêu điều. Sau tám năn Nhật chiếm đóng và bốn năm nội chiến, phố xá trở nên bẩn thỉu, những bức tường dày bao quanh Thành Nội bị lở từng mảng có chỗ đã bắt đầu sập. Các biển quảng cáo vui mắt và sặc sỡ cũng biến mất khỏi các cửa hiệu và quầy hàng, những quán sách thân thương của tôi ở Liu-li-chang đóng cửa im ỉm dường như lâu lắm rồi.
Dân tình xem ra nghèo đói, dung nhan không thấy sửa sang gì giống như chính bản thân thành phố. Đàn ông, đàn bà chỉ mặc những chiếc bộ quần áo ghi đá hoặc màu xám thường được khâu bằng tay từ những mảnh bao tải. Mỗi người đều có một đôi giày bằng vải buồm thô màu đen, mọi người trông ai cũng giống ai. Đàn ông xùm xụp mũ chăn cừu còn đàn bà thì tóc cắt ngắn. Tôi mặc quần áo đúng mốt, cà vạt, giày da, đầu tóc chải chuốt kiểu úc trông giống như người nước ngoài. Lý Liên mặc áo khoác màu sặc sỡ và giầy cao gót. Tóc của cô ta chải thành nếp tuyệt đẹp và nổi bật trong những người khác giống những bông hoa đỏ rực trên cánh đồng lúa mì vàng óng. Tôi rất nhanh chóng phải sắm ngay bộ đồng phục mà mấy ông cộng sản đã khuyên. Nhưng Lý Liên phải đặt may một bộ hợp với người cô ta.
Mẹ tôi thay đổi nhiều. Bà sung sướng khi chúng tôi quay về và cầu khẩn chúng tôi đừng bỏ nhà đi nữa. Tôi hứa ở lại với bà.
Dù nghèo, nhưng khí thế của dân Bắc Kinh sôi nổi. Khắp chốn nơi nơi những khuôn mặt tràn trề hạnh phúc nhìn vào tôi. Bắc Kinh được tự do và dân chúng chân thành chào mừng chính phủ cộng sản mới. Trong thành phố bao trùm bầu không khí thân thiện tưởng vào hạnh phúc tới gần. Chỉ một số ít người thân và họ hàng tôi cho rằng việc tôi trở về là sai lầm.
Anh tôi thu xếp cho tôi gặp Phó Liêm Chương để thảo luận vấn đề công việc của tôi.. Tôi đến nhà Phó. Ông sống trong toà nhà được chia cho bộ y tế. Toà nhà này nằm ở vùng Quảng Xương phía bắc trung tâm thương mại Vương Phú Thanh. Toà nhà này từng là nơi ở của hoàng tử Mãn Châu, sau đó một tướng Quốc dân đảng chiếm lấy dùng và cuối cùng, Phó Liêm Chương toạ lạc ở đây. Biệt thự này có kiểu cách làm tôi nghĩ tới ngôi nhà của chúng tôi, nhưng nó này rộng hơn, sang trọng và lộng lẫy hơn nhiều. Biệt thự có có 6 phòng tất cả đều quét màu nho xanh. Trong đó bố trí những vườn nhỏ phong cách Trung quốc truyền thống, có lối đi được lát gạch men.
Khi tôi đến, Phó Liêm Phương nửa ngồi nửa nằm trên trường kỷ làm bằng trúc. Ông dáng người cao, hơi gày. Dưới vầng trán cao, đôi mắt tinh ranh và diễn cảm của ông nhìn tôi. Ông chừng 50 tuổi, hơn tôi tới 26 tuổi. Do tôi còn trẻ nên ông xem có vẻ già hơn.
Khi tôi đến, Phó Liêm Phương cũng chẳng hề đứng dậy, mà chỉ chìa tay cho tôi bắt. Ông lắc lắc tay uể oải một cách xã giao. Do được tâng bốc nên tôi nghĩ mình phải được coi trọng, cho nên tôi đã mất mặt khi tiếp xúc với nhân vật cao cấp như vậy. Tôi đã bị ho lao mất mấy năm vì thế tôi không thể nói chuyện lâu với đồng chí được- ông ta nói chặn trước. Sau đó ông hỏi tôi tỷ mỉ về học hành và nghề nghiệp bác sĩ. Vừa nghĩ ngợi, ông nói tiếp:
- Vấn đề công việc của đồng chí đã được giải quyết. Sáng mai anh có mặt ở Cục theo dõi sức khoẻ.
Chính phủ mới vẫn hoàn toàn chưa thành hình, chức năng quyền lực điều hành tạm thời trao cho ủy ban quân quản thuộc đảng cộng sản Trung quốc. Cục theo dõi sức khoẻ trực thuộc ủy ban này.
Tại Cục theo dõi sức khoẻ tôi được tiếp đón nồng nhiệt. Một người cán bộ nói với tôi là ở đây còn thiếu bác sĩ điều trị và kể thêm anh tôi từng là sếp của anh ta.
Thứ trưởng báo cho chúng tôi là đồng chí sẽ trở thành các bộ của Cục chúng tôi – anh ta giải thích – Tất cả chúng tôi ở đây đều hoàn toàn tình nguyện. Lãnh đạo đảm bảo cho chúng tôi mọi thứ cần thiết: nhà cửa, chỗ làm việc quần áo và thậm chí cả giày dép nữa. Vì đồng chí sẽ đảm đương công việc bác sĩ trưởng điều trị, nên đồng chí sẽ nhận khẩu phần hạng hai, cao hơn chút ít so với nhân viên trung bình.
Hệ thống hoàn toàn tình nguyện nghĩa là tôi sẽ chẳng được nhận lương. Đảng cộng sản thi hành hai dạng trả công cho viên chức nhà nước. Ai tham gia cách mạng chưa lâu, bắt đầu làm cho đảng thì nhận lương bình thường. những người tham gia cách mạng lâu năm thì được cung cấp toàn phần. Những người tham gia tình nguyện nhận kiểu riêng. Tôi thuộc hạng tự nguyện đi theo cách mạng. Dù là tôi là người mới vào nhưng vãn được vinh dự thuộc hạng được nhà nước cho hưởng cung cấp toàn phần.
Nhưng tôi còn băn khoăn. Chi phí gia đình cũng không phải là nhỏ và giờ đây gánh nặng đè lên vai Lý Liên. Tôi còn phải nuôi mẹ, hai bà cô và bố mẹ vợ. Thật ra tôi cũng đã tích luỹ được vàng và đô la Mỹ, nhưng nếu không nhận được lương thì số tiền đó chẳng mấy chốc mà bay.
Chỉ khi gặp đồng chí Lắc tôi nhận được một số hướng dẫn về nhiệm vụ tương lai của mình. Đồng chí Lắc sẽ dẫn đồng chí tới chỗ làm việc tại Đại học tổng hợp công nhân – người ta nói cho tôi – bây giờ đồng chí cứ về nhà và thu xếp tất cả đồ dùng cần thiết. Chúng tôi sẽ cấp cho đồng chí thu xếp một tuần lễ tính từ hôm nay. Xe tải sẽ chở đồng chí đến chỗ làm. Đồng chí Lắc sẽ đi cùng đồng chí .
Thời gian gặp chẳng nêu rõ rằng, thậm chí chẳng ai hỏi tôi xem tôi có muốn làm ở chỗ mà họ đưa ra. Tôi đâm ra lúng túng, bởi vì tôi chưa bao giờ nghe đến tên trường đại học tổng hợp này. Dù là tôi là nhân viên nhận việc ở đó, nhưng tôi rất muốn trường đại học tổng hợp này phải có gì đó liên quan tới bệnh viện mà tôi mơ ước làm ở đo.
Ngoài ra, tôi hiểu rằng Cục theo dõi sức khoẻ cũng chẳng kiếm được việc cho Lý Liên. Người ta chỉ xếp vợ tôi tạm thời làm ở nhà trẻ cách Bắc Kinh 20 ki lô mét, nơi có viện đào tạo dự bị cho nhân viên y tế. Thật là giận khi khi mà người ta chẳng đánh giá khả năng và trình độ theo ưu điểm này. Chẳng lẽ lại đem so sánh công việc được giao với công việc của vợ tôi ở lãnh sự Anh bên Hồng Kông!
Lý Liên và tôi, có thể, ít gặp nhau ở nhà. Và tôi cay đắng nghĩ rằng tại sao mình lại không tặng Dương chiếc đồng hồ.
Chú về chưa lâu và chưa thể hoàn toàn hiểu cái gì đang xảy ra ở đất nước – anh tôi an ủi – ở đây không phải người chọn việc mà là việc chọn người. Điều này nghĩa là phục vụ sự nghiệp của đảng. Về lương, chú vẫn có thể sử dụng tiền tiết kiệm của mình. Dần dà thì mọi thứ sẽ đâu vào đấy. Kỷ luật đảng không cho phép ai nói khác.
Cơ quan gọi là đại học tổng hợp công nhân đặt ở Xương Sơn, cách cung điện vua mùa hè vài dặm. Khi cầm quyền, vua Càn Long đã xây nhiều cung điện và nhà thờ. ở đây có hai chùa phật nổi tiếng – Chùa Nhà thờ Phật ngủ và chùa Thanh Thiên. Mùa thu cây thông màu bạc và cây cối lá màu ngói đỏ tạo ra bức tranh màu sắc không đơn điệu. Đại học tổng hợp công nhân chiếm một khu rộng ở Xương Sơn, chỗ này thường đông người và ồn ào.
Tuy nhiên ở đây cũng có cái hay riêng. Mọi nơi đều được canh gác. Hai quan chức cao cấp của đảng – Vũ Trần Phổ và La Đạo Nhương giới thiệu trường cho tôi. Tại đây nhiều công chức của đảng. Vũ Trần Phổ cho tôi tất cả các thứ cần và cũng trao cho tôi huy hiệu của trường và nhắc tôi phải giữ gìn nó như con ngươi của mình. Ông dặn tôi đừng kể cho ai những gì xảy ra ở đây, bởi vì việc tôi làm là bí mật, mà lúc ấy tôi không hiểu vì lẽ gì.
Chỗ tôi ở nằm trong khu nhà gỗ cổ xem ra không tương xứng với cung vua lộng lẫy. Đó là một túp lều tàn tạ, nền đất và ngói đỏ. Duy nhất trong phòng có một bóng đèn điện tỏa ánh sáng đỏ quạch. Giường nằm là hai miếng ván kê trên hai cái niễng, đệm nằm cũng không thấy. Nước, tất nhiên, cũng không, còn buồng vệ sinh là một cái ngăn con bằng gỗ hở toang toác nằm sau nhà. Tôi phải dùng chăn bông mỏng ghép lại thành đệm để nằm. Sau đó người ta lắp bình nước, khí đốt và chậu rửa, để bắt đầu rửa ráy. Nhận trách nhiệm bác sĩ tôi không thể chung đụng chỗ ở với người khác. Điều kiện ăn ở tồi tệ đến mức khi tới đây chơi Lý Liên không thể thốt lên lời, và chúng tôi gặp nhau chỉ trong những ngày nghỉ ở nhà mẹ tôi, nơi tôi thường về để nghỉ và tắm giặt.
Một nét đặc biệt nữa là đồ ăn. Có hai bữa ăn như trong gia đình nông dân: mười giờ sáng và bốn giờ chiều. Nhưng khác với nông dân hiếm khi được ăn thịt, thì chúng tôi theo khẩu phần hạng hai thịt được cung cấp hàng ngày. Nhà ăn cũng chẳng gì hơn ở nhà tôi, nhưng thức ăn được nấu khéo léo, thậm chí lại còn ngon, và nhà bếp sạch đến ngạc nhiên.
Chỗ làm việc trong bệnh viện còn làm rầu lòng tôi hơn. Đó cũng lại là ngôi nhà nông thôn nền đất chẳng có một tí thiết bị nào cả, trừ vài cái nồi đun và bộ đo huyết áp. Trong số thuốc thang, tôi chỉ thấy aspirin, thuốc ho, và vài thứ chế phẩm chống vi trùng. Khi chẩn bệnh tôi chỉ dùng kinh nghiệm bác sĩ trước đây của mình. Tất cả chỉ mong rằng chẳng bệnh nhân nặng nào chui vào đây.
Dù vậy, nhân viên trong bệnh viện rất lạc quan. Trong biên chế có gần 30 người vàhọ chờ đợi sự xuất hiện của tôi từ lâu. Gặp tôi họ mừng ra mặt. Tất cả đều rất trẻ, phần lớn trẻ hơn tôi. Ngay cả hai người phụ trách cũng không quá 25 tuổi. Đám nhân viên được chọn từ nông dân, mới chỉ học qua tiểu học. Vì thế họ chỉ làm được công việc sơ cứu – băng vết thương nhỏ và cho uống aspirin khi sốt. Về các bệnh khác và ngay đến hỏi bệnh họ cũng không biết gì cả. Chúng tôi tin rằng đồng chí sẽ dậy chúng tôi kiến thức y học. Chúng tôi hoàn toàn chưa hiểu biết gì cả – họ nói thế và rất muốn tôi giảng bài mà không hiểu rằng thật vô nghĩa trong điều kiện học vấn của họ chỉ có như vậy.
Một người bạn cũ đến Bắc Kinh thăm tôi trong ngày nghỉ. Chúng tôi ôn lại kỷ niệm đã qua và trao đổi với nhau về tình hình đất nước. Anh bạn tôi vào đảng từ nhiều năm trước và giờ đang làm việc ở Liên đoàn thanh niên dân chủ, tiền thân của đoàn thanh niên cộng sản Trung quốc. Tôi kể cho bạn tôi nghe về công việc của mình ở bệnh viện và nhấn mạnh là một cơ quan tương tụ thế tôi chưa từng gặp bao giờ. Anh ta đột nhiên nghiêm mặt nói rằng lãnh đạo của anh ta cho phép anh ta trao đổi cởi mở với tôi và uốn nắn tôi những sai lầm có thể mắc phải. Anh bạn nhận xét rằng tôi vẫn còn hiểu ít về công tác cách mạng và tôi cần ăn nói thận trọng.
Tôi không phủ nhận cái gì đang xảy ra khi đó làm tôi thất vọng, nhưng tôi không thể nào chấp nhận được cái điệu bộ anh ta đóng kịch. Tôi là bác sĩ – tôi nói – và khi người bệnh đến, tôi làm tất cả để chữa họ. Thế thì sai ở đâu và ăn nói thận trọng như thế nào?
Được thôi, bình tĩnh đã – bạn tôi trả lời – Hãy nói nghe xem bạn làm việc ở đâu thế? Tôi nhắc lại là tôi đang làm việc ở Đại học tổng hợp công nhân và biết rất ít về nó và chỉ chữa người bệnh mà xem ra chẳng thấy có vẻ bệnh nặng gì hết. Tóm lại tôi phí hoài thời gian. Anh bạn tôi cười phá lên, trả lời: Bạn nói chưa khi nào nhìn thấy đại học tổng hợp tương tự như thế phải không? Thế bạn đã để ý tới lính canh hay không? Có bao giờ bạn đặt câu hỏi vì sao công việc của bạn lại bí mật? Này nhé, bạn thân mến của tôi ơi, bạn đang làm việc chẳng phải ở đại học tổng hợp đâu. Chỗ mà nơi bạn đang làm bây giờ là đầu não của các cơ quan cao cấp đảng cộng sản Trung quốc, và bệnh viện của bạn phục vụ những người lãnh đạo đảng không những hàng trung cấp mà còn cả hàng cao cấp nữa, họ sống tạm ở đó vì lý do an ninh, bởi vì Bắc Kinh được giải phóng chưa lâu. Vì thế việc của bạn được giữ bí mật. Sau này bạn bạn tự biết điều này và trong lúc này đừng biểu lộ gì về tình trạng bệnh viện. Tạm thời thì nó được trang bị tồi và anh có ít nhiều bệnh nhân, nhưng anh làm việc ở chỗ rất có uy tín và sẽ gặp nhiều người chức vụ cao. Chính vì thế sếp tôi cũng cho phép tôi nói thẳng với bạn. Khi đó tôi không tiện hỏi sếp bạn tôi tên gì, nhưng sau này tôi vỡ ra rằng ông ta là người cùng phe Giang Thanh tên là Nam Thanh phó bí thư đoàn thanh niên dân chủ, năm 1965 giữ chức bộ trưởng giáo dục.
Tôi trở về tổ quốc mong trở thành nhà phẫu thuật nơ-ron và giúp đất nước trong lĩnh vực y học, nhưng lại bất ngờ rơi vào sào huyệt đảng cộng sản Trung quốc. Bắc Kinh vừa mới được giải phóng, tuy nhiên nội chiến vẫn còn tiếp diễn, nước cộng hoà nhân dân Trung hoa vẫn chưa ra đời chính thức. Trước khi lập chính phủ và chuyển giao quyền lực cho nó, các lãnh tụ cộng sản quyết định nằm lại ở Xương Sơn. Tại đấy có Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc và tất cả các cơ quan trực thuộc, cả Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Chu Đức – ba trong số những nhà lãnh đạo cao cấp đảng cũng sống ở đó. Chỉ có Chu Ân Lai và Nhậm Bích Thế ở chỗ khác.
Bệnh viện nơi tôi làm việc không phải là một phần của đại học tổng hợp và sau khi thành lập nước cộng hoà nhân dân Trung hoa nó thuộc Ban tổ chức Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc so Dương Thượng Côn lãnh đạo, ông này năm 1988 là Chủ tịch cộng hoà nhân dân Trung hoa. Ban tổ chức thuộc Ban chấp hành trung ương lo việc an ninh, sinh hoạt vàtổ chức hiệu quả hoạt động của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc – Mao và cả 4 bí thư cao cấp. Ban tổ chức là cơ quan bí mật nhất và ngay cả nhân viên thậm chí cũng không biết gì về cơ cấu và chức năng của nó. Chỉ có giới chức chóp bu đảng biết mà thôi.
Đầu những năm 50 Ban tổ chức gồm 8 bộ phận trực thuộc:
Vũ Trần Phổ và La Đạo Nhương phụ trách Ban hành chính-quản trị. Trách nhiệm của nó là cung cấp phương tiện làm việc cho các lãnh tụ đảng, cung cấp đồ ăn, mọi thứ cần thiết, sửa chữa vàxây dựng nhà cửa cho công việc cũng như cho cá nhân, lo xe cộ, phương tiện giao thông và liên lạc và các tiền nong.
Uông Đông Hưng phụ trách Ban bảo vệ trung ương, sau này ông đồng thời giữ chức thứ trưởng công an mà Đào Thụy Sinh là bộ trưởng, đảm bảo anh ninh và sức khoẻ cho giới lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc. Ngoài phần lo bảo vệ tất cả lãnh tụ đảng, Uông Đông Hưng cũng lo luôn an ninh cho chính Mao và vì thế Uông luôn luôn nằm ngoài tầm kiểm soát. Hệ thống an ninh, thậm chí trong thời ấy, được thanh lọc kỹ càng. Giúp Uông chăm lo sức khoẻ lãnh đạo còn thêm cả bộ y tế đứng đầu là Phó Liêm Chương. Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên, là phục vụ chụp ảnh thậm chí cũng nằm dưới sự kiểm soát của Uông Đông Hưng.
Diệp Tử Long phụ trách Ban thư ký để lo về tổ chức và tiến hành các buổi hội thảo của đảng và tuyên truyền, ghi văn bản các bài phát biểu, và gửi, nhận bưu kiện, văn thư. Bản thân Diệp Tử Long lại còn là thư ký tin cẩn của Mao. Với tư cách này Diệp phải theo sát để cung cấp cho lãnh tụ tất cả các thứ cần bao gồm thức ăn, tiền nong và vào sổ sách và bảo quản tất cả quà cáp gửi tới Mao. Nói chung người thư ký thường là người phục vụ riêng.
Ban thư ký chính trị, có trách nhiệm cung cấp cho lãnh đạo tất cả các thông tin cần thiết, cũng như các văn bản báo cáo và tài liệu. Năn 1949 phụ trách bộ phận này là Trần Bá Đạt, thư ký chính trị chính của Mao.
Mao cũng có một số thư ký chính trị trong số đó có Giang Thanh vợ ông, Hồ Kiều Mục và Điền Gia Anh. Những nhà lãnh đạo khác cũng có ban thư ký như thế số lượng của nó thay đổi và các bà vợ của chính giới lãnh đạo cũng tham gia ban này.
Ban bảo mật do Lý Chí Dương và ban cơ yếu do Vương Kha đứng đầu là cơ quan bí mật nhất của Ban tổ chức. Nhiều người trẻ và tài năng làm việc ở đó. Họ phải có trí nhớ tuyệt vời biết cách hoá mã và giải mã các thông tin khác nhau chủ yếu là các bức điện đặc biệt. Bộ mã ấy khác hẳn với bộ mã điện báo chính thức của Trung quốc và luôn thay đổi để bảo toàn bí mật. Nó dùng để truyền tin bí mật trong nội bộ lãnh đạo và giới quân sự cao cấp. Nhân viên được đào tạo trong một trường đặc biệt ở Trương Dương Kiều, tỉnh Hà Bắc, mõi mmnhân viên cơ yếu đều mang một bí số riêng. Họ phải biết bộ khoá mã và cần bảng và dẫn giải tra cứu. Khi lớn tuổi, trí nhớ giảm đi thì họ chuyển sang việc khác.
Ban cơ mật đảm bảo an toàn bí mật khi truyền và nhận thông tin giữa các nhà lãnh đạo đảng và quân đội trong nước. Phần đông cán bộ của cơ quan này xuất thân từ thành phần cơ bản và thường là không được học hành gì cả, thậm chí không biết đọc biết viết. Họ làm công việc giao liên và đưa chỉ thị xuống các tỉnh xa ở Trung quốc. Người ta đòi hỏi họ không phải là học hànmh mà là lòng trung thành tuyệt đối về mặt chính trị.
Ban lưu trữ do Tăng Sơn phụ trách có nhiệm vụ ghi chép các số liệu lưu trữ
Ban hậu cần vận tải do Đặng Đình Tường phụ trách đảm nhận cung ứng vận tải để cung cấp tất cả các thứ cần thiết cho cơ quan đảng.
Bệnh viện chúng tôi trực thuộc La Đạo Nhương và Phó Liêm Chương, có nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ của tất cả những người làm việc trong cơ quan đảng. Tất cả biên chế Ban tổ chức, từ những nhà lãnh đạo cao cấp đến nhân viên quèn và gia đình họ, đề là bệnh nhân của tôi. Mọi người phần đông là trẻ và khỏe mạnh hiếm khi đến bệnh viện, bệnh thì xoàng nê không cần kiến thức và kinh nghiệm y học. Và dù rằng mơ ước của tôi thành bác sĩ phẫu thuật nơ-ron bị tan thành mây khói, ở Xương Sơn tôi là bác sĩ duy nhất có bằng cấp và quen biết nhiều gương mặt những người lãnh đạo. Tôi còn trẻ và tự trọng, và người ta tâng bốc rằng tôi làm việc bên cạnh lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc. Tôi đều kính trọng và ngưỡng mộ tất cả các bệnh nhân. Những con người này thực hiện cuộc cách mạng và sẵn sàng hy sinh cho tổ quoóc của chúng ta. Họ rời gia đình của mình từ thời thanh niên trai trẻ tham gia Trường Chinh, chịu đựng nhiều gian khổ và mất mát. Họ làm nên chiến thắng chói loà đối với bọn banns nước Tưởng Giới Thạch. Hộ cốang hiến toàn boọ sinh lực của mình cho sự nghiệp xây dựng một nước Trung hoa mới, coi thường lợi ích và quyền lợi cá nhân. Trước đó tôi tôi chưa hề gặp những người như thế này và thành tâm kính phục lòng dũng cảm và tin bào tương lai đất nước tôi.
Tôi ở trung tâm Cách mạng Trung quốc, và tánhung sướng không những đã trở thành người chứng kiến việc thành lập chính thức nước cộng hoà nhân dân Trung hoa, mà còn chúc mừng sự kiện vĩ đại này bên cạnh những lập nên nó.
Đó là ngày 1 tháng mười năm 1949. Tất cả mọi người ở Xương Sơn thức dậy lúc 5 giờ sáng, một buổi sáng tinh sương không khí tươi mát đến ngạc nhiên, để lên đường vào Bắc Kinh được trang hoàng đẹp đẽ trong buổi sáng ngày ấy. Xe tải chở chúng tôi đến quảng trường Thiên An Môn, khi đó chưa tới 7 giờ. Chúng tôi tập hợp đội ngũ ở chiếc cầu đá gần cổng Thiên Bình, cổng này thời cổ là lối vào Cấm Thành. Khi đó quảng trường nhỏ hơn bây giờ, vàở đó nhiều mhà nhỏ tồi trong những năm trước đây dùng cho quan lại chờ gặp hoàng đế. Toà nhà Hội nghị đại biểu toàn Trung hoa và bảo tàng cách mạng được xây trên quảng trường vào năm 1959, nhân dịp 10 năm thành lập nước cộng hoà nhân dân Trung hoa. Trên quảng trường có nhiều đám đông người – đại diện nông dân, công nhân, trí thức và dân chúng trên khắp đất nước rộng lớn. Tôi thấy rõ lễ đài, trước khi khai mạc đã có nhiều nhà lãnh đạo đất nước. Trước biển người hàng nghìn lá cờ đỏ vẫy tung và Bắc Kinh điêu tàn đổ nát dường như được tiếp máu và hồi sinhứ. Đám đông người hô lớn: Cộng hoà nhân dân Trung hoa muôn năm! Đảng cộng sản Trung quốc muôn năm!. Vang lên bài hát cách mạng.
Đám đông người lạc quan cầm biểu ngữ và hát vang tiến vào quảng trường tăng dần. Đúng 10 giờ, Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác xuất hiện trên lễ đài. Trời đất như vỡ tung. Mao là thần tượng của tôi từ anh tôi giải thích cho tôi rằng đây là vị lãnh tụ vĩ đại, cứu tinh của Trung quốc. Hôm ấy tôi lần đầu tiên thấy Mao. Thậm chí làm việc ở Xương Sơn tôi không thấy ông, dù rằng tôi sống cách không xa dinh thự ông là mấy.
Mao là người cao lớn khoẻ mạnh. Ông tròn 56 tuổi trước đây chưa lâu, nhưng trông ông khá trẻ. Khuôn mặt ông vẻ đôn hậu, dưới mái tóc đen và dây là vầng trán cao. Giọng ông vang lên. Giọng ông âm vang, phong thái toát lên vẻ tự tin và người mạnh mẽ. Ông mặc bộ quân phục như trong ảnh mà mọi người thấy trên sách báo. Chính phủ mới đã được thành lập, và Mao phát biểu với tư thế của Chủ tịch Cộng hoà Nhân dân Trung hoa, đại diện không phải cho đảng, mà cho chính quyền nhà nước. Ông mặc bộ quần áo xám xẫm giống hệt bộ quần áo Tôn Trung Sơn đã mặc (sau này bộ quần áo này gắn liền với Mao), đầu ông đội chiếc mũ công nhân thường đội trong các ngày lễ. Trên lễ đài đứng cạnh ông là những nhân vật đại diện cho những người không đảng phái và tổ chức như để xác nhận sự tồn tại của một mặt trận thống nhất. Bà Tống Khánh Linh đẹp đẽ, vợ goá của Tôn Trung Sơn, người đánh đổ triều đại phong kiến cuối tình và mở cho Trung quốc con đường mới phát triển.
Trung tâm của sự chú ý, tất nhiên, là Mao, Ông chỉ đạo rất chắc chắn và thậm chí không tỏ vẻ của sự cao ngạo. Tôi nhiều lần thấy Tưởng Giới Thạch, khi hắn còn nắm quyền lực. Tưởng luôn luôn tỏ ra cách hẳn với người khác và thích tỏ được thuộc hạ tâng lên. Mao tỏ ra là khác hẳn.
Mao có sức thu hút như nam châm. Dù rằng bài phát biểu của ông không hề tỏ vẻ giọng quý phái, giọng Hồ Nam của ông cũng không cũng được đón nhận như giọng đáng yêu. Mượt mà và sang sảng giọng ông thôi miên đám công chúng Nhân dân Trung quốc đã vùng dậy – Mao bắt đầu và đám đông cuồng nhiệt đáp lại lời ông bằng tiếng vỗ tay chúc mừng cộng hoà nhân dân Trung hoa và đảng cộng sản. Tim tôi rung lên vì sung sướng, mắt tôi tràn lệ vì hạnh phúc. Tôi rất tự hào về nước mình tin vào tương lai thịnh vượng của nó. Những năm bị đè đầu cưỡi cổ, ách nô lệ và tủi nhục vĩnh viễn trôi qua. Tôi tin rằng Mao là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Trung hoa và là người khai sinh ra lịch sử nước Trung hoa mới. Tôi đứng cách ông chỉ vào bước chân, nhưng tôi cảm thấy sao mà xa thế. Tôi là một bác sĩ quèn, còn ông là lãnh tụ cách mạng vĩ đại. Ngày hôm ấy tôi thậm chí không thể hình dung rằng chỉ một thời gian ngắn sau tôi thành bác sĩ riêng của ông, theo sát ông 22 năm liền và chứng kiến cái chết của ông.
Tháng 12 năm 1949, sau ngày lễ, Mao Trạch Đông đến Moskva, ông ở đấy vài tháng, ký với Stalin Hiệp định hữu nghị và hợp tác giữa Trung quốc và Liên-xô. Tháng 2-1950 ông quay về Trung quốc, và ngay sau đó chuyển từ Xương Sơn về Bắc Kinh. Tư dinh của ông là cung điện nằm trên vườn thượng uyển trong Cấm Thành. Các nhà lãnh đạo đảng cộng sản lần lượt chuyển về đây chiếm các ngôi nhà sang trọng của vua trước đây. ở Xương Sơn chỉ còn lại Ban hành chính quản trị và ban bảo mật tài liệu. Bệnh viện chúng tôi chia làm đôi. Một phần ở Bắc Kinh để chữa các nhà lãnh đạo và phần còn lại nằm lại Xương Sơn do tôi phụ trách.
Nếu không phải ngẫu nhiên, thì đời tôi có thể đã khác.