Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Siêu dự án và cái bẫy nợ nần



 TS Nguyễn Quang A


Đi vay để đầu tư là tốt, song nếu không khéo có thể rơi vào cái bẫy nợ nần. Chúng ta còn có quá nhiều các đại dự án dự kiến thực hiện trong 10-15 năm tới. Đã có ai thử cộng tổng dự toán của tất cả các đề án đó chưa? Và lấy đâu ra tiền để làm?
LTS: Tại kỳ họp này Quốc hội sẽ thảo luận và biểu quyết thông qua một số vấn đề trọng điểm quốc gia. Để có cái bấm nút chuẩn xác là cả một nỗi lo lắng lớn về sự đúng – sai. Điều đó đòi hỏi các vị đại biểu Quốc hội phải có đủ thông tin và lý lẽ để phân tích cho thấu đáo. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu một góc nhìn riêng của TS Nguyễn Quang A qua bài viết với tựa đề: Siêu dự án và cái bẫy nợ nần để mọi người cùng tham khảo.
Quốc hội đang thảo luận về chủ trương xây dựng các nhà máy điện hạt nhân. (Tôi chưa gọi là đề án, bởi vì có lẽ chỉ sau khi Quốc hội thông qua chủ trương thì mới thực sự bắt tay vào làm đề án). Các tài liệu chuẩn bị trong thời gian qua và được trình ra Quốc hội có lẽ mới là nghiên cứu tiền khả thi. Chính vì thế vẫn còn thời gian để góp ý, để xây dựng và chỉnh sửa đề án một cách liên tục.
Điều mà GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia đầu đàn về điện hạt nhân, một trong số ít người được tiếp cận đến tài liệu nghiên cứu khoảng ngàn trang, bản cô đọng vài trăm trang và bản tóm tắt vài chục trang lo ngại là có lẽ các đại biểu Quốc hội có trong tay bản cô đọng và các dữ liệu (chẳng hạn dự báo nhu cầu về điện) của các bản này cũng được “cập nhật” liên tục theo các phiên bản báo cáo. Và với tâm lý thông thường của người soạn thảo cần nhấn mạnh thông tin có lợi cho mình, các ĐBQH có thể được nhận thông tin không đầy đủ và hầu như chỉ nhấn mạnh các thông tin làm cơ sở cho sự ủng hộ.
Tôi chia sẻ các ý kiến của GS Phạm Duy Hiển, cựu Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt, trong các bài viết của ông về xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam.
Mới đây, TS Phùng Liên Đoàn, một cựu nhân viên Viện hạt nhân Đà Lạt, một nhà khoa học, một chuyên gia có uy tín, có rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn về hạt nhân và điện hạt nhân ở Mỹ cũng cảnh báo 15 rủi ro liên quan đến các nhà máy hạt nhân, mà tôi cho rằng, các ĐBQH, những người ra quyết định cũng cần lưu tâm.
Chia sẻ với những trăn trở của 2 chuyên gia hàng đầu về hạt nhân và điện hạt nhân, tôi muốn gợi ý để suy ngẫm về rủi ro nợ nần mà các các siêu đề án của nhà nước có thể tạo ra.
Sơ bộ, dự kiến và… thực tế
Theo Bộ trưởng Bộ Công thương, tổng mức đầu tư sơ bộ được dự kiến theo 3 phương án tính toán dựa trên các suất đầu tư 2600, 2800 và 3000 USD/KW công suất. Tương ứng (với công suất dự kiến 4.000MW), thì các mức đầu tư khoảng 10,4 tỷ USD, 11,2 tỷ USD và 12 tỷ USD. Dự kiến, 75% nguồn vốn xây dựng là vốn vay nước ngoài.
Hãy lưu ý các từ “sơ bộ” và “dự kiến” đối với các con số trên. Thông tin của những người trình đề án luôn có thiên hướng nêu nhiều cái hay, cái thuận lợi, có cái dở nhưng đều trong “tầm kiểm soát” và trong “giới hạn cho phép”. Đấy là một hiện tượng không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà ít nhiều cũng có ở các nơi khác. Cũng vậy những người phản biện thường nêu ra các khuyết tật, thiếu sót và đôi khi cũng cường điệu không kém các nhà ủng hộ. Vấn đề chỉ là ở mức độ khách quan, không có khách quan tuyệt đối, luôn luôn có thiên kiến. Đấy là chuyện thiên kiến con người mà những người ra quyết định cần lưu ý khi xem xét các ý kiến ủng hộ và ý kiến phản biện.

thicong-dgHCM.jpg
Chỉ riêng giai đoạn 1, dự án đường Hồ Chí Minh thực tế đã chi gần 3 lần so với dự toán ban đầu. Ảnh cienco5.vn

Chúng ta không ai ngạc nhiên khi con số “sơ bộ”, “dự kiến” khác xa con số thực hiện (có khi gấp rưỡi gấp đôi).
Thí dụ, Nhà máy lọc dầu Dung Quất (Theo Quyết định đầu tư số 514/TTg ngày 10/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ) ban đầu dự trù tổng mức đầu tư là 1,5 tỷ USD, thực hiện 1997-2001. Đến cuối năm 2009 mới có thể bàn giao và tổng mức đầu tư thực hiện là 3,054 tỷ USD (gấp 2 so với ban đầu).
Dự án đường Hồ Chí Minh ban đầu dự toán 5.300 tỉ đồng (giai đoạn 1: 2000-2005), đến cuối 2004 Quốc hội điều chỉnh lên 15.468 tỉ (gần 3 lần dự toán ban đầu); đó là chưa nói đến giai đoạn 2 với dự trù kinh phí 18.168 tỉ đồng.
Đấy là các số liệu lấy từ báo chí, tôi chưa có các số liệu của các dự án khác, nhưng tình hình chắc cũng tương tự. Đã có nghiên cứu nào tổng kết đầy đủ các dự án lớn (điện, giao thông, cảng, các nhà máy lớn) do Nhà nước đầu tư chưa? Nếu có họ rút ra những bài học gì? Nếu chưa, rất nên có 1 đề tài nghiên cứu như vậy.
Tất nhiên kinh phí tăng do dự án mở rộng, do giá cả biến động, do công nghệ thay đổi và vì 1001 lý do “rất thuyết phục” khác nữa. Đây là căn bệnh khát đầu tư cũng như các thủ thuật rất quen thuộc của các nhà đầu tư trong hệ thống xã hội chủ nghĩa mà các học giả đã đúc kết trong các công trình kinh điển. Có ai làm những nghiên cứu như vậy ở Việt Nam, tính cả những thiệt hại do chậm tiến độ, và các thiệt hại cơ hội khác? Tôi tin là chưa.
Bẫy nợ nần
Ở đây chỉ muốn nói đến kinh phí dự trù ban đầu và kinh phí thực hiện, nên hãy quay lại vấn đề điện hạt nhân. Kinh phí dự kiến không phải quá lớn do người ta tính mua nhà máy thế hệ II cho rẻ.
Nếu vì an toàn của nhà máy thì suất đầu tư có thể lên đến 4.800-5.000 USD/KW và khi đó mức dự toán đầu tư sơ bộ có thể lên đến 19-20 tỷ USD.
Đó là chưa nói đến việc mở rộng lên 8.000 MW cho đến 2025, khi đó dự toán tổng đầu tư có thể lên đến 38-40 tỷ USD; tôi không dám tính đến con số phát sinh. Nếu lấy kinh nghiệm của Lọc đầu Dung Quất và Đường Hồ Chí Minh mà suy đoán với giá rẻ do Bộ Công thương đưa ra ban đầu thì tổng đầu tư có thể lên tới 30 đến 50 tỷ USD. Hãy tạm giả thiết con số 40 tỷ USD.
Hãy quay lại cái bẫy nợ nần. Nợ nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua ở cỡ 30-33% GDP (theo WB năm 2009 nợ nước ngoài của Việt Nam là 26,8 tỷ USD chiếm 30,2% GDP).
Nếu từ nay đến 2025 Việt Nam đạt mức tăng trưởng trung bình 7,2%/năm (ở mức này GDP tăng gấp đôi sau 10 năm), thì vào năm 2020 GDP bằng 2 lần GDP năm 2010 và năm 2025 gấp 2,805 lần của năm 2010 (tức là GDP vào cỡ 300 tỷ USD năm 2025).
Đi vay để đầu tư là tốt, song nếu không khéo có thể rơi vào cái bẫy nợ nần. Chúng ta còn có quá nhiều các dự án (metro Hồ Chí Minh, sân bay Long Thành, Cảng Container Văn Phong, đường cao tốc, đường sắt cao tốc, đề án tăng tốc phát triển Công nghệ thông tin Viễn thông,…) đều dự kiến thực hiện trong 10-15 năm tới. Đã có ai thử cộng tổng dự toán của tất cả các đề án đó chưa? Và lấy đâu ra tiền để làm?
[a f ="http://tuanvietnam.net/assets/images/DQuat.jpg" c ="Dự án lọc dầu Dung Quất cũng vượt kinh phí dự toán khoảng 2 lần." r ="420px" t ="ceter"]
Theo thông tin từ báo chí, tổng mức đầu tự dự án của metro Hồ Chí Minh giai đoạn đầu là 17.387,655 tỷ VNĐ tương đương 1 tỷ USD, trong đó nguồn vốn vay từ JBIC chiếm 83%. Dự án đường sắt cao tốc được dự trù là 33 tỷ USD (Liên hiệp đường sắt dự trù 56 tỷ USD). Đề án “tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về Công nghệ thông tin” có dự trù kinh phí gần 150 ngàn tỷ đồng (khoảng 8 tỷ USD) chủ yếu từ vốn ngân sách và vốn vay. …
Vốn của hầu hết các siêu dự án này đều nhắm vào tiền vay nước ngoài. Với tình hình như vậy, chưa tính đến dự án điện hạt nhân, thì nợ nước ngoài của Việt Nam cũng không thể dưới 30-33% GDP trong tương lai, nếu không phải là cao hơn nhiều (40-45%). Bây giờ tính thêm 75% vốn vay cho các nhà máy điện hạt nhân (hãy tính với 75% của 40 tỷ USD là 30 tỷ) thì riêng khoản vay nước ngoài (tính đến 2025) sẽ chiếm khoảng 10% GDP!
Và nếu những suy đoán ở trên là có căn cứ thì nợ nước ngoài của Việt Nam khi đó sẽ lên 40-45% GDP (mức khá cao và nếu lên 50-55% thì rất nguy hiểm). Đấy là một khía cạnh mà các nhà quyết định cần tính toán kỹ hơn và cân nhắc.
Nếu không tránh được các rủi ro mà TS Phùng Liên Đoàn và GS Phạm Duy Hiển nêu ra thì rất có thể dự án điện hạt nhân có khả năng góp phần đẩy Việt Nam vào cái bẫy nợ nần.
Cân nhắc các lựa chọn
Theo Bộ Công thương, nếu có được công suất 4.000 MW điện hạt nhân như dự kiến thì nó đóng góp được khoảng 8% nhu cầu khi đó.
Để đáp ứng được 8% này có thể có nhiều cách hiệu quả hơn, thí dụ tăng hiệu quả sử dụng, giảm tổn hao. Một cách là tăng giá điện lên đúng mức thị trường. Hiện chúng ta còn bao cấp giá điện và chính việc bao cấp này khiến cho việc sử dụng chưa hiệu quả (mà bài báo của GS Phạm Duy Hiển đã nêu).
Giả như mức đàn hồi giá của điện là 0,4 (các nghiên cứu của nước ngoài cho con số từ 0,2 đến 0,7) thì tăng giá 10% làm giảm cầu 4%, với mức tăng giá 20% (với mức tăng này có lẽ giá điện của Việt Nam vẫn thấp hơn của khu vực) là có thể bù cho đúng 8% nhu cầu mà 4.000MW điện hạt nhân dự kiến cung cấp. Đấy cũng có thể là một giải pháp cần cân nhắc.
Cần cân nhắc kỹ lưỡng các rủi ro, các chi phí và lợi ích cũng như các phương án khác nhau trước khi quyết định xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Rủi ro rơi vào bẫy nợ nần cũng là một trong nhiều yếu tố cần xem xét.
NQA

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Bauxite và… những điều trăn trở của một công dân




Vũ Ngọc Tiến
Sau khi bài viết “Bauxite Tây Nguyên đôi lời thưa lại” công bố, mỗi ngày tôi nhận được rất nhiều cuộc điện thoại hoặc Email gửi đến đến ủng hộ. Nhiều bạn bè trong giới chuyên môn địa chất, địa vật lý, khai khoáng, tuyển quặng… còn góp ý, bổ khuyết kiến thức cho tôi vì đã 19 năm tôi bỏ nghề đi viết văn, làm báo, không tránh khỏi vài sai sót. Lại có những bạn văn gọi đến nhắc nhở rằng, hình như văn phong tranh luận của VNT lần này quá dữ dội, không đúng với phong cách điềm đạm, lịch sự trước đây. Về điểm này, anh Nguyễn Trí Huân và Ban thư ký báo Văn nghệ nên hiểu tôi viết trong tâm thế phản ứng gay gắt thay cho cả một tập thể mấy ngàn trí thức, văn nghệ sĩ bị ông LTT xúc phạm. Lẽ ra tôi đã hồi âm, bày tỏ lòng biết ơn đến bạn đọc, nhưng vì muốn đợi bài phản hồi của ông LTT hay BBT báo Văn nghệ ở số báo 45 (7/11/2009). Sáng nay báo ra, không thấy hồi âm. Theo yêu cầu của bạn đọc, tôi tự trả lời những câu hỏi đặt ra lần trước cho ông LTT để bạn đọc hiểu sâu thêm bản chât vấn đề cần tranh luận.
Bức tranh toàn cảnh về tài nguyên đất nước

Trước khi tự trả lời những câu hỏi về Bauxite, tôi thấy cần phác qua vài nét về tài nguyên khoáng sản nước nhà. Theo hiểu biết của tôi, trên bản đồ sinh khoáng thế giới, Việt Nam nằm ở nơi giao nhau giữa vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và vành đai sinh khoáng Địa Trung Hải. Vì vậy khoáng sản nước ta phong phú, đa dạng về chủng loại, nhưng đa phần là mỏ nhỏ, đặc biệt nhỏ là vàng và kim loại màu thuộc tổ hợp sulfua đa kim. Từ ngày đổi mới, các mỏ nhỏ được giao cho địa phương quản lý đã xảy ra tình trạng hỗn loạn trong khai thác vàng, gây tổn thất tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tội phạm hoành hành. Với các mỏ nhỏ thuộc nhóm sulfua đa kim hoặc Titan ven biển cũng vậy, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc đang ồ ạt khai thác, bán quặng thô chủ yếu cho Trung Quốc. Đã đến lúc Chính phủ cần xiết chặt quản lý, có kế hoạch dừng khai thác một số mỏ quặng kim loại màu quan trọng, làm của để dành cho đời sau.

Có 4 loại mỏ lớn, giá trị kinh tế cao, được thế giới quan tâm thì tình hình không mấy khả quan: Các mỏ Bauxite tôi sẽ nói kỹ ở phần sau. Dầu khí ở thềm lục địa phía Nam triển vọng không lớn như hồi đầu mới giải phóng miền Nam có người ảo tưởng ví những mỏ dầu lớn của thế giới so với thềm lục địa Nam Việt Nam chỉ như “con tem dán trên lưng con voi”! Thực tế ta mới chỉ khai thác chủ yếu ở mỏ Bạch Hổ, chiếm 70% sản lượng cả nước và đang có dấu hiệu cạn kiệt. Các mỏ dầu khác trữ lượng còn đang phải tiếp tục nghiên cứu, khai thác cầm chừng mà thôi. Sau dầu khí, than là lĩnh vực khai thác mỏ có tầm quan trọng với quốc kế dân sinh, nhưng vùng than Quảng Ninh đang có dấu hiệu suy kiệt. Các mỏ than khai thác lộ thiên như Đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu mới thực sự có lãi, chiếm phần lớn sản lượng khai thác hàng năm thì đang xuống quá sâu dưới mực nước biển nên lợi nhuận giảm, môi trường bị tác động nghiêm trọng. Các mỏ khai thác hầm lò từ Mạo Khê, Uông Bí đến Mông Dương đa phần là lỗ, công nghệ cực kỳ lạc hậu, tai nạn lao động xảy ra thường xuyên. Gần đây rộ lên vấn đề khai thác than nâu ở đồng bằng sông Hồng, với trữ lượng 210 tỷ tấn. Ngoại trừ những quan ngại về môi trường ra, con số 210 tỷ tấn còn là dấu hỏi lớn về độ tin cậy (?!). Trong các năm 1985 – 1987, tôi là chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu liên kết các vỉa than nâu đồng bằng sông Hồng” do tôi đề xuất từ việc nghiên cứu bức tranh sóng phản xạ nhiều lần khi ta thăm dò địa chấn dầu khí nên hiểu rất rõ vấn đề này, hẹn một dịp khác sẽ trình bày kỹ hơn. Cuối cùng là các mỏ sắt, có thể chia hai loại quặng Li-mô-nit và Ma-nhê-tit. Quặng Li-mô-nit chủ yếu là mỏ nhỏ, nhưng công nghệ luyện kim đơn giản nên dùng cung cấp cho khu gang thép Thái Nguyên trước đây là phù hợp với quy mô nhà máy và trình độ công nghệ nước ta. Giờ đây, Tập đoàn Thép chỉ ham nhập phôi thép về chế biến kiếm lời nhanh, thả nổi các mỏ quặng Li-mô-nit cho tư nhân khai thác bừa bãi, bán sang Trung Quốc. Quặng Ma-nhê-tit ta có hai mỏ lớn ở Hà Tĩnh và Cao Bằng, nhưng đòi hỏi công nghệ luyện kim tiên tiến, hiện đang có dự án liên doanh với nước ngoài ở Thạch Khê (Hà Tĩnh) vẫn còn nhiều điều phải quan ngại, còn mỏ Nà Dụa (Cao Bằng) nên chăng cũng giữ lại làm của để dành cho thế hệ mai sau?
Bức tranh toàn cảnh về tài nguyên đất nước là như vậy. Xét trong cơ cấu sản phẩm quốc nội, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007, ngành khai thác mỏ (khoáng sản rắn) chỉ chiếm 4,9%, ngành công nghiệp chế biến (dệt may, da giày, hải sản, café, hồ tiêu…) chiếm 24,5%, dầu khí và các ngành kinh tế khác (xây dựng, giao thông, du lịch, dịch vụ…) chiếm 70,6%. Điều này chứng minh rằng, dù ta giảm sản lượng khai thác than và ngừng khai thác một số mỏ kim loại màu quan trọng sẽ không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng GDP, nếu ta giữ được sản lượng khai thác dầu khí và tập trung nguồn lực phát triển mạnh công nghệ chế biến, du lịch. Đến đây đã hé lộ một định hướng phát triển kinh tế Tây Nguyên không cần đến Bauxite mà tôi sẽ lần lượt tự trả lời các câu hỏi đã đặt ra cho ông LTT vì hợp tác với Trung Quốc khai thác Bauxite lợi bất cập hại.
Đánh giá thế nào về công nghệ Bauxite của Trung Quốc?
Gần đây, trên mạng bauxitevn.net công bố bài viết “ABC về khai thác Bauxite và sản xuất alumin” của Đinh Xuân Hùng (xem đây). Tác giả có lẽ là một chuyên gia sâu trong nghề, đã có thiện ý cung cấp cho bạn đọc kiến thức sơ đẳng về Bauxite và sơ đồ nguyên lý công nghệ Bayer. Đó là những thông tin quý, sách nào cũng viết thế, nhưng tôi thiết nghĩ mỗi quốc gia hay mỗi tập đoàn nhôm đều có bí quyết riêng ứng xử với quy trình Bayer và đó mới đích thực là công nghệ của họ.
Nhiều chuyên gia trong nước cho rằng Trung Quốc không có công nghệ nguồn, phải nhập công nghệ của nước ngoài nên đang lạc hậu, chỉ xếp vào công nghệ hạng hai trên thế giới về lĩnh vực nhôm. Nghe nói vừa qua ta tổ chức một đoàn cán bộ cao cấp đi tham khảo kinh nghiệm ở Brazil, có quặng Bauxite cùng loại như ở Tây Nguyên. Chính các thành viên trong đoàn đã có dịp mắt thấy tai nghe và phát hiện ra có rất nhiều bí quyết công nghệ mà chúng ta chưa biết hoặc không nghĩ tới. Công nghệ Trung Quốc mang sang ta lộ rõ nhược điểm tiêu hao vật tư, năng lượng lớn nên chi phí sản xuất cao hơn Brazil (?!). Hơn nữa, tổn hao tài nguyên trong dây chuyền của họ rất lớn. Theo tính toán của TS Nguyễn Thanh Sơn thì tổn hao sau tuyển rửa là 37%, còn nếu tính cả khâu tuyển tinh là cỡ 50%. Họ đang cho đóng cửa hàng trăm nhà máy sản xuất alumin, phải chăng một phần vì ô nhiễm môi trường, một phần khác vì họ muốn đổi mới công nghệ nên mang đống thiết bị cũ tân trang lại rồi chở sang ta? Bài học về nhập thiết bị xi măng lò đứng vào những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước chẳng đã cho ta nếm mùi cay đắng, thất bại ê chề đó sao?
Vì sao Võ Đại tướng nhắc lại lời khuyên của khối SEV?
Sau chiến tranh, ta nợ đầm đìa khối SEV, suốt 10 năm liền chỉ có thế xuất sang họ nông sản, khoáng sản, đồ thủ công mỹ nghệ để trừ nợ dần. Nếu khai thác Bauxite Tây Nguyên có lãi lớn thì Liên Xô hoặc Hung-ga-ri đã nhảy vào ngay rồi, đâu có đến lượt người Trung Quốc! Lý do khối SEV đưa ra là rất thuyết phục vì hai lẽ:
Thứ nhất, quặng Bauxite Tây Nguyên chất lượng thấp, phải qua tuyển rửa hay còn gọi là tuyển thô, trước khi đưa vào tuyển tinh theo quy trình Bayer nên hao tốn nguồn nước vốn đã khan hiếm ở Tây Nguyên và ô nhiễm môi trường vì thành phần xút (NaOH) tồn dư trong bùn đỏ.
Thứ hai, quặng nằm xa bờ biển nên phí vận chuyển đội giá thành lên cao, không có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Vấn đề phí vận chuyển đã quá rõ, tôi không phân tích thêm. Ở đây có vấn đề tế nhị về chất lượng quặng. Bạn bè trong giới chuyên môn nói rằng tôi đã sai khi đưa ra hàm lượng alumin trong quặng chỉ đạt 9-11% theo lời ông chuyên gia họ Lỗ người Trung Quốc. Thật ra tôi biết rất rõ hàm lượng TKV công bố là 35-39%. Tôi còn biết TKV đã mời Tập đoàn Alcoa của Úc sang Việt Nam lấy mẫu của mỏ Gia Nghĩa về phân tích tại phòng thí nghiệm của họ, kết quả đạt 40,3%. Tôi không tin người Trung Quốc vì có thể họ tung hỏa mù về hàm lượng là có ý đồ sâu xa. Song tôi cũng hồ nghi kết quả phân tích của TKV vì nhiều lý do. Bauxite Tây Nguyên có nguồn gốc phong hóa, thuộc thành tạo La-tê-rit, tuổi Kai-nô-zôi – Nhân sinh, do đó trong cùng một thân quặng, nhưng hàm lượng thay đổi vô cùng phức tạp theo bình diện và theo chiều sâu. Việc lấy mẫu phải đảm bảo phân bố đều theo không gian 3 chiều, mật độ đủ dày, số lượng đủ lớn để đáp ứng yêu cầu của bài toán xác suất và độ dung sai phải nhỏ hơn hoặc bằng 3 lần độ lệch quân phương. Đó là quy tắc “3 xích-ma” phổ biến trong xử lý số liệu ngành địa chất và khai khoáng. Tôi có những lý do để chưa yên tâm TKV làm được như vậy. Còn kết quả phân tích của Tập đoàn Alcoa cũng đáng nghi ngờ bởi ta mất công mời họ sang Việt Nam lấy mẫu, sao không bố trí cho họ đi mỏ Gia Nghĩa, trực tiếp lấy mẫu tại thực địa theo quy trình nghiêm ngặt của họ? TKV chỉ đưa họ vào đoàn địa chất 5 ở Quy Nhơn nhận mẫu trong kho, liệu có khách quan, trung thực hay đã cố tình tập trung các mẫu chất lượng tốt nhất rồi cho họ chọn lấy lệ? Với mối hoài nghi đó, tôi đưa ra hàm lượng như lời ông Lỗ để thăm dò phản ứng của TKV và cảnh tỉnh dư luận. Cần nhấn mạnh, vấn đề hàm lượng quặng vô cùng quan trọng, nếu sai số lớn thì mọi thông số kỹ thuật và kinh tế trong luận chứng trở thành vô nghĩa. Từ thực tế trên, tôi càng kính phục Võ Đại tướng, ủng hộ quan điểm của khối SEV, chưa nên khai thác Bauxite, tận dụng thế mạnh của Tây Nguyên là đất đỏ Bazal để tập trung phát triển cây cao su, chè, café, điều… là hợp lý nhất. Hãy để dành Bauxite Tây Nguyên cho đời sau. Khoáng sản là thứ tài nguyên chỉ vơi cạn đi chứ không tái tạo được. Dân gian có câu: “Cơm không ăn thì gạo còn đó”!…
Sao không thí nghiệm lập nhà máy ở Lạng Sơn hay Cao Bằng?
Tôi đồng ý với các nhà chuyên môn ở TKV rằng, quặng Bauxite ở Lạng Sơn, Cao Bằng thuộc dạng diaspore nên trong quá trình tinh luyện đòi hỏi nhiệt độ cao (tới 250 độ C), tiêu tốn năng lượng hơn khi tinh luyện quặng thuộc dạng gibbsite ở Tây Nguyên. Nhưng nhược điểm này lại được bù đắp bởi nhiều nhân tố thuận lợi khác. Theo lời chuyên gia Hung-ga-ri nói với tôi, Bauxite ở đây có hàm lượng alumin khá cao, ít sét, môdul silic (Al2O3/Silic) đủ cho phép đưa thẳng quặng vào tinh tuyển alumin, không cần qua giai đoạn tuyển rửa nên giảm thiểu được ô nhiễm môi trường do bùn đỏ gây ra. Hung-ga-ri có ngành công nghệ luyện nhôm lâu đời hàng trăm năm, có công nghệ nguồn khá tiên tiến, hơn hẳn Trung Quốc phải nhập công nghệ của nước ngoài. Từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, họ đã giúp đoàn địa chất 49 thăm dò tỉ mỉ các mỏ ở Lạng Sơn, Cao Bằng. Quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Âu thuộc khối SEV cũ đang có nhiều triển vọng tốt đẹp. Nếu ta thật lòng muốn gây dựng nền móng cho ngành công nghiệp luyện nhôm sau này của đất nước thì theo tôi, tốt nhất hãy hợp tác với Hung-ga-ri lập một nhà máy công suất 300-500 ngàn tấn/năm. Trong chiến lược phát triển, nhu cầu nhôm cho công nghiệp và tiêu dùng ở ta không lớn, muốn xuất khẩu e trình độ của ta chưa đủ tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh. Vì vậy, với sản lượng trên và với trữ lượng 91 triệu tấn ở Cao Bằng, Lạng Sơn đủ cho ta duy trì nhà máy 70-100 năm. Khi ấy tiềm lực về kinh tế và công nghệ của đất nước đã mạnh lên, con cháu ta đã có kinh nghiệm, muốn quay lại Tây Nguyên khai thác Bauxite vẫn chưa muộn và hãy tin rằng lúc đó con cháu ta đủ sức cạnh tranh ngang ngửa với các đại gia ngành luyện nhôm trên thế giới, “con hơn cha là nhà có phúc” là thế…
Công nghệ Trung Quốc có an toàn môi trường cho Tây Nguyên?
Tôi xin trả lời ngay rằng KHÔNG! Bùn đỏ sau tuyển rửa là vấn đề dư luận quan tâm, lo ngại. Xử lý vấn đề này có hai “công nghệ khô” và “công nghệ ướt”, là hai công nghệ có quy trình hóa lý rất khác nhau, tôi không tiện trình bày dài dòng ở đây. Chỉ biết khái niệm ướt ở đây gắn với NaOH chứ không gắn với nước thông thường nên ông LTT biện hộ cho TKV bằng chu trình hoàn lưu nước khi tuyển rửa là chuyện nực cười! Bãi thải bùn đỏ theo “công nghệ khô” rất khó bị mưa lũ cuốn trôi, ít có nguy cơ bị vỡ đập và bản thân ít độc hại. Bãi thải bùn đỏ theo “công nghệ ướt” dễ bị mưa lũ cuốn trôi kể cả khi đã tháo khô, tiềm ẩn khả năng vỡ đập rất lớn vì phải chịu áp lực thủy tĩnh và bản thân rất độc hại, nhất là khi nó chưa được tháo khô. Trung Quốc không đủ trình độ áp dụng “công nghệ khô”, đưa vào Tây nguyên “công nghệ ướt” là rất đáng lo ngại về hiểm họa môi trường.
Hoàn vốn đầu tư sau 10 năm có là bánh vẽ?
Chẳng hiểu TKV báo cáo lên Chính phủ và Quốc hội đã phù phép thế nào mà Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải gần đây yên tâm tuyên bố, khi đi vào họat động, lãi ròng ở nhà máy Tân Rai là 12,45%/năm, còn ở Nhân Cơ là 10,59%/năm. Có lẽ vì thế mới xuất hiện khái niệm “10 năm hoàn vốn”, chứ không còn khái niệm “5 ăn 5 thua” như ông cựu Chủ tịch TKV từng tuyên bố trước đây. Thật ra, khi tổng hợp các thông số từ TKV, kết hợp với cập nhật thông tin thị trường và thông tin từ các cơ sở sản xuất alumin trên thế giới, các chuyên gia trong nước, chuyên gia người Việt ở hải ngoại đều tính toán trùng hợp ra hai khả năng: một là nếu công nghệ Trung Quốc khá tốt sẽ lãi 6 USD/tấn, hai là công nghệ Trung Quốc tồi sẽ lỗ 64 USD/tấn (?!). Bài toán kinh tế này khá phức tạp, nếu trình bày kỹ phải hết vài trang, ở đây tôi chỉ nêu kết quả cuối cùng. Hiệu quả kinh tế của dự án có là bánh vẽ hay không tự người trong cuộc rút ra kết luận.
Triển vọng hợp tác với Căm-pu-chia hay cái bẫy của Trung Quốc?
Trung Quốc đã mua đứt 99 năm một phần lãnh thổ Căm-pu-chia có quặng Bauxite, tiếp giáp với tỉnh Đăk Nông là một sự thật. Con đường sắt nối Lâm Đồng xuống Bình Thuận ra cảng Kê Gà còn ở thì tương lai xa vời, chưa kể vốn đầu tư lớn và hiệu suất sử dụng thấp cũng là sự thật hiển nhiên. Một số chuyên gia lo ngại vì TKV chủ động hạ thấp tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm alumin để tạo điều kiện cho Trung Quốc dễ dàng thắng thầu giá rẻ bằng công nghệ lạc hậu liệu có là sự thật thứ ba? Ở đây cần nói rõ thêm về độ vênh giữa con số 83,6% của tôi và 98,6% của TS Nguyễn Thanh Sơn. Trong trường hợp này có lẽ tôi sai vì khi nói chuyện với 2 ông bạn Trung Quốc người Liêu Ninh thì ông Lỗ nói tiếng phổ thông rất chuẩn nên tôi nghe rõ hàm lượng quặng, còn ông Vương nói tiếng phổ thông rất nặng, tôi chỉ nghe rõ được mấy âm tiết cuối cùng là phẩy sáu (tẻn liêu), các âm tiết ở trên không tách biệt được là 83 (pa sứ san) hay 98 (chiểu sứ pa). Vì vậy, tôi thừa nhận con số 98,6% về chỉ tiêu sản phẩm, đồng thời cám ơn TS Nguyễn Thanh Sơn và thành thật xin lỗi bạn đọc. Song vẫn còn một sự thật nữa là 1,2% tạp chất còn lại trong sản phẩm alumin kia thành phần vô cùng phức tạp, quyết định khả năng tiêu thụ và giá bán trên các thị trường thì thỏa thuận giữa TKV với Trung Quốc lại rất mập mờ. Tất cả những sự thật phơi bày ra như tôi vừa nêu, sẽ dồn ta vào thế bí chỉ có thể bán sản phẩm cho Trung Quốc qua con đường Căm-pu-chia. Họ cho ta giá nào được giá đó và khi họ trở mặt thì ta chỉ còn nước đắp chiếu dây chuyền và sản phẩm! Đây phải chăng là cái bẫy, dưới vỏ bọc ngọt ngào “hợp tác quốc tế với nước bạn Căm-pu-chia” mà ông LTT hết lời ca tụng?!…
Lời kết
Vấn đề Bauxite có viết cả trăm trang vẫn không hết. Tôi cố gắng viết sao cho ôn hòa, cô đọng, dễ hiểu nhất để bạn văn và độc giả cả nước đồng cảm với những người phản biện. Bài viết đồng thời gửi đến 2 trang Web đường hoàng, chính trực của giới trí thức (www.bauxitevn.info & www.viet-studies.info ) mà tôi tin tưởng, gửi đăng bài kỳ trước và cũng gửi đến báo Văn nghệ với hy vọng theo thông lệ của nghề báo và tinh thần cầu thị, quý báo sẽ đăng toàn văn trong số 46 (14/11/2009) sắp tới. Là người trong văn giới, các anh chị có nhớ câu thơ của Vích-to Huy-gô, khi ông bị lưu đày ngoài đảo: “Ôi, nhân dân tôi sẽ không mãi bị lừa mỵ, khi mắt của người đăm đăm, ngẩng đầu trên mũi đá linh thiêng và suy nghĩ đợi giờ nổi sóng triều dâng…”
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn bạn đọc xa gần, nhất là các chuyên gia đã cung cấp tư liệu, bổ khuyết thiếu hụt về kiến thức cho tôi hoàn thành bài viết này!
Hà Nội 6/11/2009
VNT
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Bác Son




Chẳng biết lúc trẻ bác làm gì. Chỉ nhớ khi gặp bác lần đầu thì thấy bác ngồi bơm xe xó đường. Thời buổi đồng tiền khó kiếm, nhà nào cũng sắm sẵn cái bơm, nên bác ngồi bơm xe mà mặt dài như cái bơm vì không có việc, cho dù tên bác là Son có nghĩa là vận may. May cái gì, lúc có người dắt cái xe bẹp lốp đến là để vá thì bác lại chưa có đồ nghề vá xăm!

 
    Đói xanh rờn trên mảnh đất cạnh đường quốc lộ chỉ có thể là chuyện ngu ngốc. Tôi bảo bác, đất rộng chỉ vơ vất có mấy cây xoan, ngoài vài bụi mùng tơi lớt nhớt, còn lại thì cỏ mọc rậm rì, hay là bán đi một phần vườn lấy ít tiền làm nhà rồi mua hẳn bộ đồ nghiêm chỉnh mở hiệu chữa xe thì mới kiếm được, chứ phọt phẹt cái bơm mài đít xuống cát sỏi thế này thì khi nào bác mới ngáp được con ruồi? Nghe tôi, bác dụt dè thử bán đi cái thẹo đất nhỏ cuối vườn thế mà không ngờ mó được cả đống tiền. Bác kêu lên: Ồ, hóa ra tiền ở ngay trong đất mà mình không biết. Bác hể hả bảo tôi: kể ra ra kiếm tiền cũng không khó, mà bán đất là dễ nhất, lại cũng nhanh nhất chú ơi, thế mà không bảo anh sớm.

 
   Từ hôm ấy bác khoe vung với mọi người là đã biết cách làm kinh tế như thế nào rồi. Cách kiếm tiên của bác vừa nhàn vừa nhanh, chỉ đá cái thẹo nhỏ dăm chục mét thôi mà bằng cả nửa thế kỉ bơm xe, khó gì đâu!

 
   Tưởng bán được tiền thì vợ con nở mày nở mặt. Nào ngờ khi có tiền bác mắc bệnh huyếnh. Đi đâu mặt bác cũng vác lên hất hất, cái mồm bành ra quay sang phải, sang trái khoe mẽ. Từ chỗ ru rú ở xó nhà bây giờ bác đi khắp nơi mọi chốn. Trời lụt đầm đìa, nhà ngập tới mái, bác vẫn cứ lên xe đi chơi tỉnh xa, mặc cho vợ con ông bà ở nhà dầm nước.


 
   Bác ôm tiền bán đất tiêu pha như tiền như của riêng bác, chỉ đưa vợ mấy cắc lẻ. Ông bà vợ con vẫn núp trong cái nửa túp nửa nhà, cơm cà rau rệu, bác chẳng cần biết. Bác đang tự huyễn hoặc bác là người làm kinh tế giỏi. Bác có những chủ trương lớn.

 
   Mấy cây xoan lão niên trong vườn bố bác trồng bảo để sau này cho thằng con làm cột nhà. Khi này bố già, bác lên làm chủ, thấy soan bán được giá, thế là cưa gốc bán luôn chẳng cần hỏi ai. Lão lang ê bạn hàng xóm lại mò sang tìm mua rễ xoan, bảo đem về để làm thuốc (có dễ là thuốc độc). Chỉ đào gốc mấy cây xoan đã chặt mà bán cũng được kha khá. Hóa ra trên đất nhà bác, mọi thứ đều là vàng. Nên những lão xoan cụ chưa có ai hỏi mua bác cũng cho bới lấy rễ bán trước cho lang ê. Vườn tược ngổn ngang, bố mẹ cằn nhằn, vợ kêu con khóc như ri, bảo bác là thằng điên, bác chỉ cười khẩy: Ông bà già rồi, còn đàn bà thì biết cứt gì. Lời kêu la của con cái thì bác chẳng bao giờ để vào tai.

 
  Cái vườn hoang của nhà bác thế là thành bãi chiến trường, giống như một trọng điểm trên đường Trường Sơn thời đánh Mĩ, loang lổ các hố sâu hoắm, òm õm nước. Nhưng bác Son không biết điều ấy nên bác không buồn. Người ta khi trong túi rủng rỉnh tiền thì nhìn mưa thành nắng, nhìn đá hóa vàng, chuyện buồn thành vui, nhìn điếm thành vợ, Nhìn thằng đểu thành đứa tốt, chuyện rủi thành may, nghe chửi lại nghĩ là lời khen, thì cũng chẳng phải chuyện lạ. Bác luôn ở trạng thái lâng lâng như thằng phê thuốc. Đi đâu thì thôi, về nhà là bác rung đùi pha trà, mặt hất hất đắc ý, lại bành cái mồm ra. Để nuôi cái đắc ý ấy, bác xẻ dần miếng đất vườn, mỗi ngày một tí, mỗi năm một ít. Mỗi lần có tiền, bác ngồi dỡ tiền đếm rất to. Mỗi âm thanh bác nhả ra như sét đánh: tỉ! tỉ! tỉ! ỉ ỉ ỉ ỉ ỉ ...Chẳng bao lâu bác mắc bệnh ù tai và rồi dần điếc đặc. Điếc, chỉ vì hai vành tai quá gần miệng bác, nó phải hứng tất cả niềm vui và nỗi buồn của bác mỗi khi bác khạc ra. Đã từ lâu ông bà bó tay, vợ con không còn gần bác nữa.  Rau cháo họ đã tự lo. Mỗi khi buồn, bác thì thụt sang hàng xóm phê pha  với mấy anh giàu.


Đám ấy có những thằng cự phú phất lên từ lưu manh, có thằng xuất thân từ lục lâm thảo khấu, nên giàu có lắm mà lưu manh cũng chưa dứt nọc. Hóa ra lưu manh chúng có nòi. Mỗi lần bên đông tây nam bắc xây tường sửa rào chúng đều tìm cách lấn sang đất nhà bác, khi nửa viên gạch, khi thì cả viên. Khi trước có đầy đủ ông bà vợ con bên cạnh thì bác không hãi  lắm. Chẳng gì ông bà cũng dạy rồi, vợ con đã cảnh báo bác rồi,  bảo phải cẩn thận với cái đám giòi bọ ấy. Nhưng rồi dần nghe chúng ngọt nhạt, bác không nghe ông bà, không nghe vợ con nữa, cứ tự cho là mình khôn ngoan: “Tao có cách của tao!”.

Bác thanh minh đó là cách ứng xử nhân ái tuân theo lối cổ ngày xưa: tránh voi chẳng xấu mặt nào. Thiên hạ thì không nói thế, thiên hạ lại bảo bác là thằng “ già dái non hột”, ngu! Biết chuyện bác vẫn mặc, bảo ông bà lú lẫn, vợ con nhiễm máu đa nghi ở đâu, thiên hạ chọc gậy bánh xe, biết đếch gì nào. Bác vẫn cứ làm theo ý bác.
 
   Bây giờ thì ông bà vợ con xa cách rồi, mỗi lần thiếu gì thì bác cầu hàng xóm giúp đỡ. Mỗi lần giúp là một lần nó lấn sang một tí theo chính sách học được của đế quốc: củ cà rốt và cây gậy. Bác biến thành thằng lu tí mẹt từ lúc nào không hay. Năm tháng trôi qua, miếng đất  cha bác để lại thênh thang, thì bây giờ tươm tả. Mấy thằng cự phú, mỗi thằng thiến một mảnh, trong đó lão lang ê hàng xóm cũng kiếm một khoảnh kha khá với những lời ngon ngọt dự án. Chúng mua bòn với giá rẻ hều, rồi cắm các dự án lên mảnh đất nhà bác tính chuyện lâu dài. Bao nhiêu năm rồi mà căn nhà xiêu vẹo của nhà bác vẫn chẳng thay đổi được bao nhiêu.

 
  Thế mà bác vẫn chưa biết. Đi đâu chuyện trò hàm bác vẫn hất hất, miệng vẫn
bèm ra, rất tươi: Làm kinh tế khó đếch gi!
Chẳng biết bao giờ bác mới tỉnh để vợ con được nhờ. Khốn nạn cho nhà bác.

nguồn: http://dongngandoduc.multiply.com/

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009

Con cóc là cậu ông Giời



1* Truyện con cóc là cậu ông Giời chứa đựng hàm của người xưa ca ngợi tầng lớp thấp nhất trong xã hội là nơi tụ khí của Nhân Nghĩa. Con cóc là giống thấp cổ bé họng nhất mà còn không chịu nổi bất công do ông Giời gây ra, nên nó đã khởi xướng kêu gọi tất cả các loài vật đã vùng lên. Sau trận hỗn chiến, Giời không thắng nổi đội quân cóc, đã phải nhận cóc là cậu cho yên chuyện. Cậu là chỗ người trong nhà chả nhẽ lại cứ gây chuyện mãi.
Truyện cổ tích này có nhiều chuyện để ngẫm.
Tại sao hạn nặng, muôn lòai đang chờ chết mà các con vật có sức mạnh như hổ báo gấu voi, hoặc linh hoạt như loài kiến ong, rắn, rết...lại không con nào đi phát động cuộc chiến chống lại nhà Giời mà lại là con cóc. Đơn giản là các loài trên chưa hẳn đã bị đẩy vào chỗ chết, còn có thứ để mất. Hoặc là ham ăn, ham sống cho riêng mình mà chưa thấy nguy cơ. Còn chú cóc thì chẳng có... cái cóc gì. Chú chỉ còn mỗi cách tập hợp mọi con vật khác cùng vùng lên. Đó là sức mạnh của kẻ cầm đầu.
Kết cục cái danh vị Cậu ông Giời được ban ra cốt để nhà Giời thoát hiểm, chứ cóc thì vẫn là cóc. Câu chuyện này là lời nhắc nhở với kẻ bề trên nên biết cách ứng xử bị khi lâm vào thế đổ vỡ một cơ hội cuối cùng.


2* Cậu ông Giời là người thân ở bên cạnh ông Giời. Dù chỉ là chuyện hão thì vẫn được thiên hạ nể vì.
Cóc xấu xí trong cổ tích ngày xưa được áp vào hạng dân đen, nhưng ngày nay thì không hẳn thế. Ngày nay cóc khác lắm, dân đen không dễ gì làm được cóc. Cóc bây giờ ở đẳng cấp khác và có rất nhiều loại, từ cóc cụ cóc kẹ đến các loại cóc nhái trong khắp các tầng lớp. Lại cũng có rất nhiều ông Giời ở mọi vị trí từ cao đến thấp
Ngày nay những chuyện ỷ thế là người nhà của ông Giời hoặc vin cớ ông Giời là người thân quen để làm càn, hoặc đem ông Giời nọ bà Giời kia ra để giải cứu thân mình trong những cơn nguy biến thì đám ấy chẳng phải là lũ cóc nhái thì là loại gì? Trong đám cóc nhái đó, có con là cóc thật, béo mẫm, có con chỉ là cóc giả chứ chẳng có quan hệ với ông Giời nào cả. Nhưng để được việc thì nó cứ dùng đòn gió thì đã sao nào. Đấy là những bọn lừa đảo đầy rẫy trong cuộc sống ở mọi môi trường.
3* Cuộc đời thì ngắn mà con người lại nhiều ham hố. Để chộp giật sao cho nhanh thì phải kiếm cách nhanh chóng len vào hàng cóc. Đã là cóc, cậu của ông Giời thì làm mọi việc kể cả hắc ám cũng dễ hanh thông, nên kẻ xấu thường ham. Đã có một số người như thế. Nhưng len chân được vào hàng cóc cũng đâu phải chuyện dễ dàng. Người ta phải tranh thủ đủ nơi đủ chốn tiếp cận bằng được vào chốn các ông Giời, giành chộp cơ hội để được nhận làm con đỡ đầu, cha nuôi, mẹ nuôi, chị nuôi, em nuôi, cháu nuôi chẳng hạn. Còn thấp hơn là đồng môn, đồng tuế. Thấp nữa là quen biết, là hàng xóm.
Cóc thời nay không phải là cóc ở trong cổ tích. Ở cổ tích, con cóc tử tế an bài với cái danh hão. Sau đấy nó chẳng hại ai. Con cóc thời nay thì không thế. Con cóc ngày nay tinh ranh hơn nhiều. Nó là giống cóc vụ lợi. Lại có nhiều ông Giời ở nhiều tầng thứ, nên Cóc tính toán dùng mỗi ông Giời vào một việc, để được việc cho mình. Tôi có một người bạn từng được làm ông Giời, là ông Giời nhỏ thôi, nhưng vừa rời ghế về hưu không làm ông Giời nữa thì đám cóc nhái cũng biến luôn.
nguồn: blog họa sỹ Đỗ Đức

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2009

Những linh hồn rỗng


Hắn
       Kể từ đêm ấy hắn trở thành đàn ông, ngay trong căn nhà mặt phố có ông bố làm quan. Cho tới tận bây giờ, hắn vẫn chưa hiểu điều gì đã xãy ra với mình. Vì mọi chuyện đã diễn ra quá nhanh, sau khi cánh cửa đóng lại hai mẹ con họ đã cùng nhau bóc từng mãnh vải trên người hắn, rồi họ lại cùng nhau vầy vò thân xác hắn, họ đói tình……đến 4h sáng hắn bị đẩy ra cửa với nửa triệu trong túi và lời dặn khi cần họ sẽ gọi.
     Có khi một tuần hắn bị gọi những năm lần, có khi chỉ 1,2 lần, đó là những khi ông ấy đi công tác vắng. Trong những lúc đầu óc còn tỉnh táo, hắn cũng mơ mơ hồ hồ nhớ lại….Nhà hắn ở con hẽm ngay phía sau nhà họ, cửa cái chỉ cách cửa hậu chỉ chưa đầy 2 m, hôm đấy hắn đi làm phụ hồ về hơi trễ hơn mọi bửa, lại ghé làm vài ve với ông cai nên về tới nhà thì đã 12 giờ đêm, trong lúc còn chưa mở được cửa thì một cái gì đó mềm mại, thơm tho ôm chầm lấy hắn, một thoáng ngạc nhiên, nhưng cơn say và cả sự động dục của con đực đã làm  mờ lý trí của hắn. Cô ta, người con vừa ôm vừa dìu hắn về nhà của mình, chỉ với vài bước chân.
    Bố mẹ hắn đã qua đời trong một tai nạn giao thông, để lại cho hắn ngôi nhà nhỏ trong hẻm, nhỏ hẹp nhưng cũng đủ chổ cho hắn đi về. Hắn bắt đầu nghĩ học để gia nhập đội quân phụ hồ, kiếm miếng cơm chén rượu qua ngày, thói quen nầy là của bố hắn tập cho hắn năm hắn 8 tuổi. Cứ mỗi lần ông nhậu đều cho hắn uống vài ly.Từ năm lên chín là hắn đã không thể sống thiếu rượu, y như ông già hắn vậy.
    Mười lăm tuổi, hắn to khỏe như một con trâu mộng, chỉ có cái đầu là không phát triễn gì thêm được nửa. Định mệnh đã bắt hắn làm đàn ông chính vào năm đó.
    Và giờ thì hắn chả làm gì sất, làm gì khi trong túi đầy tiền. Lúc nào người hắn cũng lơ mơ, nửa tỉnh nửa say. Không đi làm thì hắn còn biết làm gì cho hết thời gian?
Nhưng nói gì thì nói hắn cũng phải công nhận, hắn khoái trò chơi nầy, hay nói cho đúng hơn là hắn ghiền, ghiền mùi đờn bà, mùi mồ hôi lúc nào cũng nồng nặc của cả hai mẹ con, ghiền cái cách mà họ ăn nó, hít hà, liếm láp, cào cấu, nhai nghiến một cách cuồng loạn. Và sau mỗi lần họ ăn nó xong là người hắn bầm dập, thế mà hắn vẫn cứ thích được như thế, như một niềm hoan lạc bất tận.
Nhưng cuối cùng thì điều gì đến cũng phải đến, đêm hôm ấy khi vừa len qua cánh cửa hẹp hắn bị một vật gì đó, đen đúa bẩn thỉu chụp vào đầu, ngay sau đó là một trận đòn thừa sống thiếu chết. Hắn xỉu lên xỉu xuống mấy lần, vào lần tỉnh lại cuối, hắn nghe một giọng nói lạ, tuy nhỏ nhưng rõ từng tiếng một: lần sau mà tau gặp lại mầy  thì không toàn mạng nghe chưa con. Nghe xong là hắn chịu thêm một trận đòn cho tới khi không còn biết gì nữa.
Ông ta
Sau khi cho đàn em đánh cho hắn một trận nhừ tử, rồi quẳng ra sau nhà thì đã nữa đêm, ông cho bọn đàn em về nốt rồi khóa trái cửa lại lên lầu.
Họ đang chờ ông ta ở trển, chờ sự trừng phạt của ông mà họ biết là không thể tránh được. Nhưng cả hai mẹ con đều không ngờ khi nghe ông bảo: Làm đi, làm như chúng mầy đã làm với hắn ấy. Rồi ông cởi đồ ra, nói cũng tội, thân hình một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, thì làm sao bằng của một thẳng nhóc mười sáu tuổi.
 Và cả hai mẹ con họ đều đang sợ hãi, giờ phút nầy mà nói chuyện ân ái thì thật nực cười. Nhưng có điều họ biết là ông nói thật, và họ phải làm thôi nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Trong lúc họ còn mãi suy tính thì ông đã đi lấy một cốc rượu thuốc mà người ta biếu đã lâu nhưng chưa dùng đến, sau khi uống hết như sợ chưa đủ, ông ta lại rót thêm một cốc đầy uống cạn rồi đến salon ngồi đợi.
    Trong suốt cuộc đời làm quan từ Bắc chí Nam rong ruổi, ông vẫn thăng tiến đều đặn theo những con đường, những cây cầu mà ông xây dựng. Cho đến khi ông dừng bước ở cái thành phố nầy, cái thành phố lắm thầy nhiều ma.
     Bằng một bước đi lão luyện mà trong dân gian vẫn gọi là mua chức. Với hơn một nửa tài sản để đổi lấy cương vị bây giờ, lão bước vào một chương mới của đời mình. Nước cờ trúng phóc, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Chỉ trong ba năm lão, đã lấy lại gấp mười lần những gì đã bỏ ra.
     Nhưng cái sự đời thì không phải cái gì cũng chiều ý mình, tiền vô nhiều bao nhiêu thì người nhà lão lại ra đi bấy nhiêu. Đầu tiên là thằng con trai cả, vừa mới ra trường bảo về Sở của bố làm cho khỏe lại không chịu. Còn cãi bố rằng con phải về vùng sâu, vùng xa để phục vụ nhân dân. Thế là ngày ngày chạy xe máy ra ngoại thành làm việc, cho đến một hôm hắn tự vấp ổ gà, té xuống và đi luôn không lời trăng trối.
    Đứa thứ hai thì còn nhanh hơn, đang học lớp 12 mà hắn cứ đòi mua xe con, lại mua xe 2 cửa mới ghê chứ. Lão cẩn thận cho lính xuống dạy kèm hắn học lái, trong một đêm học như vậy cả hai thằng đã tông thẳng vào một trụ điện ven đường ở Vũng Tàu.
   Lần nầy thì lão hốt thật sự, chỉ còn thằng thứ ba mới học lớp 9. Giờ đây nó là thằng con thừa tự duy nhất, một chế độ bảo vệ nghiêm mật được đặt ra. Lần nầy lão không cho lính của lão làm nữa vì sợ huông, và vì một phần sợ tin tức lọt ra ngoài. Lão thuê hẳn một công ty bảo vệ chuyên nghiệp, nhất cử nhất động của thằng con trai đều có người giám sát. Đi học cũng có người ngồi canh tại trường, thậm chí khi nó vào nhà vệ sinh cũng phải đi theo để phòng ngừa bất trắc.
   Tất cả những biện pháp nầy đều do tư vấn của một ông thầy phong thủy người Trung quốc mà lão đã sang tận bên Quảng Đông để rước về. Cửa nẻo ở trong nhà, bàn bếp đều được kê kích lại cho đúng từng milimet theo sự chỉ dẫn của ông ta. Còn chổ làm việc của lão thì khỏi phải nói, mọi cái đều rối tung lên.
    Phòng lão trước đây rất rộng, giờ đã bị những thứ theo chỉ đạo của ông thầy mà sắp xếp làm cho nó trở nên chật chội. Cô thư ký là người bực mình nhất nhưng cô tự hiểu chớ dại mà trêu vào thầy. Giờ thì cô bị tống ra ngoài trông giống như người gác cửa, chứ không còn oai phong như thưở nào.
   Sau tất cả những thay đổi bước đầu ấy, mọi việc có vẻ đã có kết quả. Cuộc sống của lão bắt đầu trở lại bình thường. Những cuộc mua bán đổi chác lại được tiếp tục, càng ngày lão lại càng kiếm được nhiều tiền hơn.
    Lão đã vạch ra một kế hoạch mới, kiếm thêm một người để sinh con cho lão. Và trong thời buổi tiền là Tiên là Phật, thì người ta không thể không bán mình cho lão. Lão mua thêm một căn nhà mặt phố ở ngoại thành, không xa lắm chỉ độ nửa giờ ô tô cho hai mẹ con người mà lão chọn.
Cái cách mà lão chọn cũng khác người, mấy đại gia thường chọn hoa hậu, người mẫu để làm bồ nhí cập kè. Nhưng tiêu chuẩn đầu tiên của lão là phải mắn đẻ. Khi người môi giới đưa lão đi gặp cô ta thì lão lại chọn mẹ chứ không phải con, người mẹ lúc nào cũng theo sát bên con gái mình như sợ mất.
      Nhưng lão không nói ra điều ấy vội, chỉ đưa ra bản hợp đồng cho cả hai mẹ con ký vào. Những điều khoãn hậu hỉnh và cả ngôi nhà nữa đã làm họ mê mẩn. Thế là xong hậu cứ của lão đã thành hình.

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009

TỪ “VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ VIỆT NAM ” ĐẾN HÀNG LOẠT NGHI VẤN HỌC THUẬT KHÁC

VÀ HÀNG LOẠT NGHI VẤN HỌC THUẬT

Tiếp bài “Sách của Viện trưởng Viện Hán Nôm có nguồn gốc bất minh”:

TỪ “VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ VIỆT NAM ”
ĐẾN HÀNG LOẠT NGHI VẤN HỌC THUẬT KHÁC


Trong khi dư luận đang xôn xao về cuốn sách Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam của ông Trịnh Khắc Mạnh (PGS.TS, Viện trưởng Viện Hán Nôm) có nguồn gốc bất minh (xem TPCT số 42), mặc dù không thể liên lạc được với ông Trịnh Khắc Mạnh, nhưng nhóm PV đã tiếp tục tìm hiểu và nhận được những thông tin về một số cuốn sách khác của ông cũng có nghi vấn về học thuật.

Mắc nhiều lỗi trong dịch thuật

Cuốn sách đầu tiên của ông Trịnh Khắc Mạnh là cuốn sách dịch Ô châu cận lục, làm chung với ông Nguyễn Văn Nguyên, in năm 1997. Các nhà chuyên môn (xin được giấu tên) ở Viện Hán Nôm cho biết nhà nghiên cứu Hán Nôm Trần Đại Vinh (ĐH Sư phạm Huế) đã có bài phê bình cuốn này trên tạp chí Văn hóa dân gian số 2 năm 2000, chỉ ra rất nhiều lỗi sai, từ khâu giám định văn bản, đến phiên âm, dịch chú (mặc dù sách này từ năm 1961 đã có bản dịch của Bùi Lương, NXB Á Châu, Sài Gòn). Những lỗi sai của bản dịch mới này đã được ông Trần Đại Vinh qui thành 5 dạng như sau: Hiểu lầm từ chỉ phương hướng thành ra từ chỉ tên riêng; hiểu sai một số từ chỉ sản vật; có những câu đơn giản nhưng dùng những từ không sát khiến cho câu dịch không chỉnh; bỏ những từ quan trọng không dịch chỉ ghi lại phiên âm; nhận thức sai từ ngữ hoặc cú pháp từ đó dịch sai lạc. Như vậy cuốn sách dịch sau đã không có đóng góp gì mới, mà còn cho thấy công việc dịch thuật đáng ngờ.

Năm 2008, cuốn sách Một số vấn đề về văn bia Việt Nam của ông Trịnh Khắc Mạnh được Nxb Khoa học xã hội ấn hành. Theo Lời giới thiệu của tác giả thì “đây là một tập chuyên luận được hình thành dựa vào nội dung cơ bản của luận án Phó Tiến sĩ về văn bia của chúng tôi bảo vệ tại Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô vào ngày 7 tháng 12 năm 1990 tại Matxcơva”

Nhưng ngay trong phần thứ hai về “Quá trình phát triển của văn bia Việt Nam” đã bộc lộ ra cung cách làm việc của tác giả. Theo Thư mục văn bia, Viện Hán Nôm có tổng cộng 11.651 đơn vị bản rập văn khắc, bao gồm các văn bản khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá và đồng, biển gỗ, v.v…Ông Mạnh viết: “Do chưa phân loại trong số 11.651 đơn vị này, bao nhiêu là văn bản bia, bao nhiêu là văn bản chuông và bao nhiêu là văn bản biển gỗ, v.v…; nên chúng tôi gọi chung là văn bia vì loại văn bản này chiếm đa số và chủ yếu”(tr.47). Việc gọi chung tất cả các bản rập là văn bia đã cho thấy ông Mạnh đã bỏ qua việc thực hiện thao tác sơ đẳng đầu tiên của bất cứ người nghiên cứu nào là làm thống kê, phân loại trước khi đi cụ thể vào các vấn đề. Tất nhiên cũng có một vài con số thống kê được nêu lên trong sách, nhưng phần lớn lại là sự phân loại của người khác được đưa vào.

Cuốn sách này dày 387 trang, với 121 trang (từ trang 228 đến 348) là Giới thiệu văn bản văn bia, bằng nguyên bản chữ Hán Nôm kèm theo bản dịch, chú thích. Trong đó có 20 tư liệu được giới thiệu, gồm 8 bài thơ (phần lớn các bài này đã được công bố ở trên sách hoặc tạp chí), 2 bia tiến sĩ Văn Miếu Hà Nội (thuộc cuốn Văn miếu – Quốc Tử giám và 82 bia tiến sĩ), 7 văn bia ông lấy từ cuốn Tuyển tập văn bia Hà Nội, 2 văn bia từ Thơ văn Lý Trần, 1 bia chữ Nôm tham khảo bản dịch của Nguyễn Thị Hường. Trừ 2 bia tiến sĩ do ông Mạnh có tham gia nhóm biên soạn nên ông đã không đề nguồn dẫn, còn các bản khác đều được ghi nguồn rõ ràng. Như vậy, trong số 12 văn bia được giới thiệu ở đây, thì 9 bia là ông dùng bản dịch của người khác, 1 bia ông tham khảo, còn 2 bia Văn Miếu là “của ông”. Điều này có nghĩa tác giả Trịnh Khắc Mạnh chỉ tập hợp chứ không công bố được bản dịch mới.

Mập mờ tên tuổi những người hợp tác với mình

Năm 2002, cuốn Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của Trịnh Khắc Mạnh được in. Sách liệt kê 23 tài liệu tham khảo chính chủ yếu bằng tiếng Việt: Lịch triều hiến chương loại chí, Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Nam, Lược truyện các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (2 tập), Thư mục Hán Nôm – mục lục tác giả, Di sản Hán Nôm – thư mục đề yếu, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Thơ văn Lý Trần, Tổng tập văn học Việt Nam…Trong số này chỉ có 2 cuốn Các nhà khoa bảng Việt NamThơ văn Lý Trần là có in tên các tác gia bằng chữ Hán bên cạnh chữ Việt, mà cuốn đầu cũng chỉ in kèm tên thật của các tiến sĩ, mà không có tên hiệu, tên tự. Ở cuốn Thơ văn Lý Trần cũng không cung cấp được nhiều về vấn đề này.

Vậy để có được tên tự, tên hiệu của 700 tác gia Hán Nôm, thì chỉ có cách lục tìm trong các tài liệu gốc các tập thơ văn nguyên bản chữ Hán Nôm. Và thế là các đồng nghiệp (cũng là học trò) của ông là Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Đức Toàn phải vào thư viện để giúp làm công việc vô cùng tỷ mỷ này. Đã có 1016 tên tự, tên hiệu được liệt kê, nhưng trong lời cám ơn của cuốn sách, Trịnh Khắc Mạnh đã ghi một cách đơn giản là “Ths. Nguyễn Hữu Mùi và CN. Nguyễn Đức Toàn tham gia làm đối chiếu với các nguyên bản sách Hán Nôm”(tr17). Trên thực chất công việc “đối chiếu” này chính là nội dung quan trọng nhất của cuốn sách tên tự, tên hiệu, bởi các tài liệu tham khảo kia chỉ là tài liệu tiếng Việt. Hơn nữa, theo sự đánh giá của giới Hán Nôm, thì cuốn sách ngoài giá trị viết ra được các tên tự tên hiệu bằng chữ Hán Nôm, thì ông Trịnh Khắc Mạnh cũng không cung cấp được thông tin gì mới về thân thế và tác phẩm của các tác gia Hán Nôm đã được nêu trong các sách của các tác giả đi trước. Thật đáng tiếc cho những cộng sự rất vất vả của ông, lẽ ra phải được đứng tên theo cách: Trịnh Khắc Mạnh (chủ biên) Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Đức Toàn (có thể là cả PSG. Trần Lê Sáng người đã tham gia làm một số phiếu), chứ không thể đề tên của một mình tác giả Trịnh Khắc Mạnh.

Hà Phương
Nguồn: Tiền Phong Cuối tuần số 43 (24-30/10/2009), tr. 5.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

Sao thương trường lại là chiến trường?


Không biết câu khẳng định thương trường là chiến trường lọt vào thành câu cửa miệng của doanh nhân và cả một số những nhà chính trị của ta từ bao giờ. Nhưng chắc chắn cái gốc của nó xuất phát từ Phim Trung Quốc. Không biết có phải do thói quen học mót không mà câu nói  trong phim đó đã  trở thành thời thượng cho một số người khi nói đến nền kinh tế thị trường ở ta. Cho đến bây giờ, đi đâu cũng thấy nguời ta nói đến “ thương trường là chiến trường” như một phát hiện mới mẻ. Thật thảm hại cho cái phông văn hóa phập phè như áo giấy của mấy vị như thế mà tập tọng làm kinh tế, chỉ một cơn gió nhẹ nó đã bị chao đảo như đồ hàng mã.

Tôi không phải người cố chấp, nhưng thấy câu nói đó thật sự phản cảm. Có thể việc ấy khá đúng với người Trung Quốc. ở góc độ cạnh tranh. Họ đã từng nói đến chuyện kinh tế đi đến đâu thì có quân đội đi theo để bảo vệ. Kể cũng khiếp cho một triết lí kinh tế thị trường của họ.

Với người Nam ta thì sao?. Cha ông ta đã có câu: “buôn có bạn, bán có phường”, một triết lí mềm dẻo, lấy sự kết nối làm sức mạnh. Kinh tế thị trường không phải mua tranh bán cướp. Ở đây đã thấy cái đạo lý kinh doanh của ta khác hẳn. Nó nhân ái dựa trên một nền tảng đạo đức của cộng đồng. Đó là nét văn hóa đặc biệt về thương trường của ta. Mà tôi nghĩ đó là cái gốc của đạo lí kinh doanh có căn cơ để bền lâu. Còn chiến trường ư? Đó là triết lí của kẻ mạnh, chỉ biết mình. Trong câu nói đã hàm chứa sự vô đạo, sẵn sàng chôn sống kẻ cạnh tranh của minh để tiến lên. Vậy có đáng thành câu cửa miệng và thành định hướng cho các nhà kinh doanh của chúng ta?

Lời nói đọi máu, cha ông ta đã dạy thế, cất lời phải thận trọng;
Nếu khẳng định thương trường là chiến trường thì người ta băm chém nhau để mưu lợi. Ở thế giới ấy, kẻ mạnh lấy thế lực đè người, lấy “súng ống” làm phương châm giải quyết. Sẽ sa vào sự cướp bóc vô đạo. Hình như trong kinh doanh ở ta  đang có việc đó xảy ra ở nhiều ngành, xin miễn dẫn chứng.

Còn nếu xác định buôn có bạn, bán có phường thì thương trường phải biết lưu chứa sự nhân hòa, cho phát triển bền vững. Các nhà nghiên cứu kinh tế chắc hiểu điều này hơn tôi
Còn tôi, tôi vẫn chắc một điều là cha ông mình nói không sai.
16/10/2009.

http://dongngandoduc.multiply.com/journal/item/166?mark_read=dongngandoduc:journal:166#replyform

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009

Sách của Viện trưởng Viện Hán nôm có nguồn gốc bất minh?

TP - Từ vài năm nay, giới nghiên cứu Hán Nôm đã xôn xao về vấn đề bản quyền tác giả cuốn sách "Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam" của tác giả Trịnh Khắc Mạnh do Nxb. Giáo dục ấn hành năm 2006 (được liệt vào loại sách Tham khảo đặc biệt).


Cuốn sách của ông Mạnh và hai cuốn sách mà PGS.TS Ngô Đức Thọ nói ông Mạnh dùng để “chế”


Gần đây, khi Việt Nam đang gấp rút hoàn thành hồ sơ để UNESCO công nhận 82 bia tiến sĩ Văn Miếu Hà Nội là Di sản Tư liệu thế giới thì giới nghiên cứu Hán Nôm lại một lần nữa xới lên vấn đề này.


Câu chuyện càng rắc rối khi ông Trịnh Khắc Mạnh, nhân vật chính là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.


Cuốn sách Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam do Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu, biên dịch và chú thích là công trình biên dịch 137 bia Văn Miếu trên cả nước, trong đó có 82 bia Văn Miếu Hà Nội, 34 bia Văn Miếu Huế, 12 bia Văn Miếu Bắc Ninh và 9 bia Văn Miếu Hưng Yên.


Với mỗi Văn Miếu, cuốn sách trình bày bản dịch nội dung từng văn bia (không có nguyên bản chữ Hán, không có phần phiên âm) sau đó là phần chú thích về các điển tích nêu trong văn bia và đặc biệt là các thông tin về năm sinh năm mất, thân thế sự nghiệp của các nhà khoa bảng được ghi danh trên bia.


Khi tiếp xúc với cuốn sách dịch toàn bộ văn bia đề danh tiến sĩ của bốn Văn Miếu lớn trong cả nước: Hà Nội, Huế, Bắc Ninh, Hưng Yên, những người trong ngành Hán Nôm đã nghĩ ngay đến một công trình khác đã xuất bản từ năm 2002 do GS. Ngô Đức Thọ chủ biên mà ông Trịnh Khắc Mạnh cũng có tham gia. Đó là cuốn Văn Miếu – Quốc Tử giám và 82 bia tiến sĩ, Ngô Đức Thọ chủ biên; Khảo cứu, giới thiệu và hiệu đính: Ngô Đức Thọ; Dịch và chú giải: TS. Nguyễn Thúy Nga, TS. Trịnh Khắc Mạnh và Nghiên cứu viên Nguyễn Văn Nguyên.


Vậy hai cuốn sách này có gì khác nhau và cuốn Văn Miếu – Quốc Tử giám và 82 bia tiến sĩ của tập thể soạn giả do ông Ngô Đức Thọ chủ biên đã có mặt trong cuốn Văn bia đề danh tiến sĩ chỉ mang tên ông Trịnh Khắc Mạnh như thế nào?


Chúng tôi đã gặp gỡ PGS.TS Ngô Đức Thọ (nguyên Trưởng ban Văn bản học của Viện Hán Nôm). Ông cho biết trước đây, khi ông tổ chức biên dịch cuốn sách Văn Miếu – Quốc Tử giám và 82 bia tiến sĩ thì ông Mạnh có tham gia dịch thô 7 văn bia, ít nhất trong số những người trong nhóm.


Bản dịch của ông Mạnh sau đó đã được ông Thọ bỏ nhiều công sức để sửa chữa, nhuận sắc và tu chỉnh thì mới có thể đưa được vào cuốn sách. “Mặc dù đóng góp của ông Mạnh là rất khiêm tốn, do năng lực giải mã văn bản Hán Nôm của ông Mạnh rất hạn chế, nhưng vì có tham gia dịch, nên tôi vẫn để tên ông Mạnh trong nhóm tác giả”.


PGS Ngô Đức Thọ cho biết, bẵng đi thời gian khá lâu, vào thời điểm trước khi “Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam” ra đời, ông Trịnh Khắc Mạnh có liên lạc với ông, cho biết rằng mình đang làm một cuốn sách với NXB Giáo dục về văn bia Tiến sĩ và đề nghị cho sử dụng bản dịch 82 bia lấy từ cuốn sách Văn Miếu - Quốc Tử Giám và 82 bia tiến sĩ do ông Thọ làm chủ biên với sự tham gia của 3 cộng sự (trong đó có ông Mạnh) in năm 2002. PGS Thọ đã đồng ý. Rồi ông Mạnh nói rằng nhà xuất bản yêu cầu phải có sự cho phép bằng văn bản của nhóm.


PGS Ngô Đức Thọ đã viết giấy cho phép. “Tôi nghĩ anh Mạnh thừa hiểu rằng mình vẫn phải ghi rõ nguồn của cả nhóm tác giả, cụ thể là “Ngô Đức Thọ chủ biên; Khảo cứu, giới thiệu và hiệu đính: Ngô Đức Thọ; Dịch và chú giải: TS. Nguyễn Thúy Nga, TS. Trịnh Khắc Mạnh, Nghiên cứu viên Nguyễn Văn Nguyên”, tức là giữ nguyên bản quyền và tên của nhóm soạn giả.


Nhưng đến khi cuốn sách được in ra, anh Mạnh tặng sách, tôi mới té ngửa khi thấy anh Mạnh đã xóa tên chúng tôi khỏi bản dịch và nghiễm nhiên đề dòng chữ “Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu, biên dịch và chú thích lên ngay trang tên sách”. Ông Mạnh chỉ khéo léo sửa chữa một số câu chữ, và gần như bê nguyên cả công trình đó vào “công trình dày cộp” của mình.


Trò chuyện với chúng tôi, PGS Ngô Đức Thọ còn cho biết một khía cạnh khác xung quanh cuốn sách của ông Mạnh: “Tôi đồng ý cho anh Mạnh sử dụng nội dung của Văn Miếu - Quốc Tử Giám và 82 bia tiến sĩ chứ không hề cho phép sử dụng nội dung của Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 (in năm 1993). Trong khi đó, một phần rất lớn nội dung của Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam” là “chế” lại từ cuốn này.


Theo lời của PGS Ngô Đức Thọ, trong tổng số 1.990 nhà khoa bảng có tên trong 137 bia đề danh tiến sĩ tại 4 Văn Miếu Hà Nội, Huế, Bắc Ninh và Hưng Yên được liệt kê tại cuốn sách của ông Trịnh Khắc Mạnh thì phần tiểu sử của 1.859 vị nằm trong các chú thích ở cuốn sách của ông Mạnh là do ông Mạnh rút ra và “chế” lại từ cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 do GS Thọ làm chủ biên (xuất bản năm 1993).


Như vậy, nó chiếm một dung lượng quá lớn số trang chữ trong một tác phẩm, hoàn toàn không thể chỉ để tên cuốn sách của nhóm Ngô Đức Thọ vào danh mục tài liệu tham khảo hoặc một lời cám ơn chiếu lệ mà được!


PGS Ngô Đức Thọ còn nêu ra trường hợp những chỗ sai trong cuốn sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 đã nằm trọn trong cuốn sách Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam của ông Trịnh Khắc Mạnh. (Những lỗi này hầu như đã được sửa chữa trong lần tái bản cuối năm 2006, sau khi cuốn sách của ông Mạnh phát hành khoảng nửa năm nên ông Mạnh chưa kịp “tiếp thu”).


Theo như ông Trịnh Khắc Mạnh viết trong lời giới thiệu, ngoài “tham khảo” bản dịch văn bia Văn Miếu Hà Nội của nhóm GS Ngô Đức Thọ, cuốn sách của ông còn có “tham khảo” bản dịch văn bia Văn Miếu Huế của nhóm Phạm Đức Thành Dũng – Vĩnh Cao (in năm 2000) và bản dịch văn bia Văn Miếu Bắc Ninh của ông Nguyễn Quang Khải (in năm 2000).


Ông Ngô Đức Thọ
Ông Trịnh Khắc Mạnh cũng cho biết 9 văn bia Văn Miếu Hưng Yên “đã được sinh viên Nguyễn Quang Đồng khảo sát và làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cử nhân Hán Nôm khóa 44 năm 2003”, nhưng “trong quá trình dịch, chúng tôi căn cứ vào thác bản văn bia hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm và không tham khảo bản dịch của Nguyễn Quang Đồng” (Sđd. tr.16).


Cuốn sách của PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh là một cuốn sách dày 1.000 trang khổ 16 x 24 cm, thuộc loại Sách tham khảo đặc biệt, là “bộ sách tham khảo lớn, có giá trị khoa học và thực tiễn cao, mang ý nghĩa chính trị, văn hóa, giáo dục sâu sắc, được trình bày in ấn đẹp”. Và “xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, giảng dạy của học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, giáo viên phổ thông, giảng viên đại học, cao đẳng, dạy nghề, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý giáo dục và đông đảo bạn đọc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, dân trí xã hội trong thời kỳ mới” (Lời nhà xuất bản, tr.5). Cuốn sách này đã được Giải Đồng Sách hay của ngành xuất bản năm 2007.


Một cuốn sách có giá trị, nhưng lại có dấu hiệu có nguồn gốc bất minh như vậy, Nhà xuất bản Giáo dục và tác giả Trịnh Khắc Mạnh (PGS.TS. Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm) cần có câu trả lời về vấn đề bản quyền trước bạn đọc và công luận.


Một số trường hợp sai sót trong cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam do ông Ngô Đức Thọ (NĐT) chủ biên (in năm 1993), đã được ông Trịnh Khắc Mạnh (TKM) chép nguyên vào công trình của mình:


1. Phạm Cư


Sách NĐT viết: Người xã La Phù huyện Thượng Phúc – nay là thôn La xã La Phù huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. (tr.82).


Sách TKM chép: Người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). (tr. 34).


Đúng ra phải là xã La Phù huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây cũ.


2. Phạm Hưng Văn


Sách NĐT viết: Làm quan đến chức Đô ngự sử, được cử đi sứ sang nhà Thanh (1497). (tr.143).


Sách TKM chép: Ông làm quan Đô Ngự sử và được cử đi sứ (năm 1497) sang nhà Thanh (Trung Quốc). (tr. 72).


Đúng ra là: năm 1497 còn nhà Minh, không phải là nhà Thanh.


3. Vũ Mẫn Trí


Sách NĐT viết: Người thôn Khuê Chương, huyện Kim Thành. (tr. 145).


Sách TKM chép: Người thôn Khuê Chương huyện Kim Thành (nay thuộc huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương). (tr. 73).


Đúng ra phải là: nay thuộc xã Lê Thiện huyện An Hải, ngoại thành Hải Phòng.


4. Nguyễn Tuấn


Sách NĐT viết: Người xã Đại Lan, huyện Đông Yên. Nay là thôn Kim Lan huyện Gia Lâm, tp Hà Nội. (tr. 145).


Sách TKM chép: Người xã Đại Lan huyện Đông Yên (nay thuộc xã Kim Lan huyện Gia Lâm, Tp Hà Nội. (tr.73).


Đúng ra phải là: Nay thuộc xã Xuân Quan, huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.


5. Nghiêm Lâm


Sách NĐT viết: Người xã La Phù huyện Thượng Phúc. Nay là thôn La xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây. (tr. 155).


Sách TKM chép: Người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây. (tr. 83).


Đúng ra phải là xã La Phù huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây (cũ).


6. Kiều Văn Bá


Sách NĐT viết: Người xã Đông Ma, huyện Phúc Lộc. Nay thuộc huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây. (tr. 315).


Sách TKM chép: Người xã Đông Ma huyện Phúc Lộc (nay thuộc huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây. (tr. 140).


Đúng ra phải là: Người xã Đông Sàng huyện Phúc Lộc. Nay thuộc thôn Đông Sàng, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (cũ).


Những lỗi trên hầu hết đã được nhóm của GS Ngô Đức Thọ sửa chữa trong lần tái bản sách CNKBVN, in xong và nộp lưu chiểu quý IV năm 2006. Khi ông Mạnh xuất bản cuốn sách Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam thì bản thảo cuốn sách tái bản của nhóm ông Thọ còn đang ở nhà xuất bản nên ông Mạnh không kịp “tiếp thu”.


Hà Phương
nguồn:http://www.tienphong.vn

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

Kẻ tự vẫn - Lưu Thuỷ Hương

“ Mì dây thun, hà hà, mì dây thun. Chỉ nhai đi nhai lại, rửa tới rửa lui, sau năm năm là thành kỹ sư. ”
Hắn chán nghe tiếng nhạc xập xình, tiếng hát lập lờ, tiếng tâm sự ỉ eo. Hắn bò ra khỏi tấm áo quan mục rữa, đi lang thang trên đồi.
Mấy thằng sinh viên đàn em của hắn, bây chừ là giảng viên đại học. Thằng nhỏ sinh viên ngày mô ném nắm đất xuống huyệt cho hắn, hiện là trưởng phòng đào tạo. Buổi sáng tụi nó lên giảng đường dạy đạo đức, cho sinh viên ăn cơm cao su, ăn mì dây thun. Buổi chiều tụi nó ra ngồi quán uống bia, ôm gái. Sinh viên quán bên này, thầy giáo quán bên kia. Thỉnh thoảng thầy trò cũng xuề xoà ngồi chung một bàn nhậu, là để tâm sự chuyện thi cử. Những bàn nhậu thức ăn ê hề. Những đứa bạn cũ cố phình bụng ra nuốt. Mấy con nhỏ sinh viên dỏm ỏn ẻn rót thêm bia cho thầy. Mặt thầy phệ. Bụng thầy phệ. Một thầy xơ gan. Một thầy ngộ độc thực phẩm. Một thầy ngộ độc rượu. Phải đi xa như hắn, xa thật xa rồi, quay lại nhìn mới thấy xót thương. Ăn. Ăn. Ăn. Ăn nữa. Ăn mãi. Để trả thù những ngày đói khổ. Bây chừ không ai nhắc đến cái đói. Bây chừ cái đói không còn nằm trong bao tử. Cái đói chui vô nằm trong não, vô cảm mà ám ảnh không nguôi.
Câu chuyện bắt đầu vào một ngày mùa mưa, năm đói.
Hắn hoá điên. Chỉ có người điên mới nhận diện được nhau trong thế giới người điên. Khi điên rồi hắn mới biết, những đứa sinh viên đồng khoá đã điên trước hắn rất lâu. Người điên thường sợ sự thật, sợ hình ảnh của chính mình trong gương và ghét tắm rửa. Những thằng điên tìm đến nhau, tụ tập thành nhóm, chúng mang một khuôn mặt, một nụ cười, một giọng nói. Chúng nói rất nhiều, nói rất to, vừa nói vừa vuốt đuôi nhau. Chúng rất sợ bị phát hiện mang bệnh điên, cứ phải giấu giấu giếm giếm, sơ hở lung tung. Hắn điên trễ nhưng điên nặng hơn bất cứ đứa nào. Và hắn quyết định, điên không giống ai, điên công khai. Hắn bỏ học đi lang thang suốt đêm trên đồi, sục vô từng góc giảng đường tối tăm, leo lên những góc sân thượng chênh vênh. Đám nữ sinh đi học ban đêm thấy hắn đều bỏ chạy. Hắn cười sằng sặc, đuổi theo. Răng mà chạy. Chạy đi mô. Đừng chạy, mình hiền lắm mà. Đừng chạy. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Buổi sáng, hắn bò về cư xá, ngủ vùi trong góc nhà đầy rác, thoi thóp giữa cơn đói. Hai lá bao tử ép dính vô nhau. Một đàn kiến đang tìm cách chui qua. Tụi nó bò nhột nhạt, thỉnh thoảng cắn lên thành bao tử một nhát đau điếng. Hắn ôm bụng quặn thắt. Mồ hôi tướp ra. Còn hơn hai tiếng đồng hồ nữa thì tới giờ ăn cơm trưa. Lại nhắm mắt thiếp đi. Con chuột mẹ làm tổ trong chiếc giày vải của hắn, đẻ sáu con. Hắn cắt mũi giày, làm cửa cho mẹ con chút chít chui ra chui vô. Sinh viên còn đói, chuột lấy chi mà nuôi con. Hắn chép miệng, răng mà tội nghiệp, cho tụi bây luôn chiếc giày. Mấy con chuột chút chít. Hắn cười sung sướng, lại thiếp đi trong cơn đói tràn ngập tình yêu thương. Còn hai tiếng đồng hồ nữa thì tới giờ ăn cơm trưa. Mấy đứa điên vỗ tay reo hò ầm ĩ ngoài cửa sổ. Mấy con chuột thức giấc. Hắn thức giấc, chửi tán loạn rồi lại cười sằng sặc, đuổi theo mấy thằng điên, đuổi theo đoàn múa lân lên hội trường. Vui, vui hè. Hắn thập thò dựa cửa ngó vô, con tim bỗng nghẹn ngào xúc động. Cha mạ ơi, trong nớ, đại hội đoàn trường.
Người điên cũng có lúc tỉnh, chớ sao. Một cán bộ đoàn ưu tú như hắn, lẽ nào nhìn cái sân khấu kia mà không tỉnh lại. Hai lá cờ đỏ thắm. Một tấm hình. Một bình bông cúc. Một tấm bảng viết tên các ứng cử viên.
Chỗ của hắn là ở trên nớ, sau cái bục gỗ có bình hoa cẩm chướng, có cái micro màu đen. Hắn phải lên sân khấu, đứng đúng vô chỗ của mình. Hắn đã từng nhiều lần leo lên sân khấu, đứng ngay sau micro, hăng say ca ngợi những điều đẹp đẽ tuyệt vời.
Hắn trong bộ dạng còm ròm, xanh xao, áo quần bèo nhèo, râu tóc luộm thuộm. Có răng mô. Lý tưởng cao đẹp toả sáng ở trong tim mà. Hắn không cần hàm hồ gào thét như những diễn giả khác. Để làm chi. Một cán bộ đoàn xuất sắc như hắn luôn biết cách truyền đi ngọn lửa. Hắn vừa lên tới nơi liền cất giọng nói, mạnh mẽ và tự tin. Phải đi ngay vô vấn đề trước khi một thằng ngu nào khác nhảy ra cắt ngang.
“ Kính thưa các đồng chí lãnh đạo đảng bộ, kính thưa ban giám hiệu trường, kính thưa đại diện các ban ngành đoàn thể, kính thưa ban chấp hành đoàn thanh niên đương nhiệm, cùng các bạn sinh viên đoàn viên thân mến. Lần cuối cùng các bạn ăn hủ tiếu mì là khi mô ? Còn ai nhớ được hương vị của nó không ? Mì trứng ? Hành phi ? Nước lèo tôm khô ? Bây chừ là mười một giờ trưa. Còn một tiếng đồng hồ nữa, cửa nhà ăn tập thể sẽ mở. Bữa ăn trưa của sinh viên có thứ chi ? Cơm gia súc, canh đại dương, nước mắm toàn quốc. Ăn vô no cồn cào, đói rã rượi, chất lượng học tập giảm sút. Còn một tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ ăn. Các bạn cứ bình tĩnh, ngồi im ở đây. Đúng một tiếng đồng hồ nữa thì đi ăn cơm. Tôi mạn phép xin chút thì giờ quý báu còn lại này để báo cáo trước đại hội đoàn trường một phương án.”
Chống đói để nâng cao chất lượng học tập.
Hắn cười hiền lành. Người điên thường có nụ cười trong sáng, thánh thiện. Có thực mới vực được đạo. Với một lực lượng trí thức ưu tú, một đội ngũ những nhà khoa học xuất xắc, một tầng lớp lãnh đạo sáng suốt, trường đại học của chúng ta có thể đạt được những thành tích chống đói mà không nơi nào trên thế giới đạt được. Đơn cử một biện pháp nhỏ, phân khoa Cao Su có thể kết hợp với phân khoa Hoá Thực Phẩm nghiên cứu ra một loại cơm cao su. Cơm cao su dĩ nhiên phải trắng rời như cơm không cao su. Cơm cao su phải mềm dẻo thơm ngon như cơm không cao su. Nhưng cái đặc biệt là, loại cơm cao su này ngày hôm trước ăn vô bụng, ngày hôm sau thải ra còn nguyên xi. Sinh viên chỉ cần mỗi buổi sáng đem theo lon hứng lại phần cơm đó, rửa sạch, buổi trưa, buổi chiều hấp lại ăn tiếp. Mỗi sinh viên vô trường được phát hai lon cơm cao su. Nhai đi nhai lại, rửa tới rửa lui, sau năm năm thì tốt nghiệp đại học. Bụng lúc nào cũng đầy, tinh thần lúc nào cũng khoai khoái. Rứa là an tâm, chuyên chú học tập. Dĩ nhiên là hương liệu chế tạo cơm cao su phải có độ bền tối ưu, để đảm bảo độ ngon miệng. Hắn cười hiền lành thánh thiện, chậm rãi thuyết trình về các loại hương liệu. Hương cơm gà quay, hương cơm tấm bì, hương cơm cà ri… Hương cơm gà quay phải sực mùi ngũ vị hương, mùi xì dầu. Hương cơm tấm bì phải đượm mùi thính bì, mùi mỡ hành… Không ! Không ! Phải có đủ cả mùi nước mắm tỏi ớt, mùi đồ chua dưa kiệu, mùi thịt sườn ram... Hắn chép miệng nhai ngon lành. Cảm giác thèm khát và ghê tởm quyện vào nhau, trôi đi mê muội. Cái mùi vừa béo mỡ, vừa đằm thính, vừa thấu chua cay… Tươm ra trên từng muỗng cơm. Ăn vô bụng rồi ợ lên ba tiếng. Ọt. Ọt. Ọt. Cái mùi vẫn còn nguyên rứa, quyện trên đầu lưỡi, xốc lên vòm mũi. Vừa nói hắn vừa nuốt nước miếng. Tóp tép. Tóp tép. Đôi mắt hắn sáng rực. Cặp mắt người điên thường rất sáng, tưởng như cả nguồn sức sống cạn kiệt dồn hết vô đôi mắt. Hắn nói say sưa, giọng khàn đi. Thỉnh thoảng hắn dừng lại, đưa ngón tay trỏ quẹt quẹt ngang đầu mũi. Hít hà. Hít hà. Hà hà. Đẩy bớt mùi cơm gà để hửi mùi cơm sườn. Ăn vô cũng mùi nớ, thải ra cũng mùi nớ, bất biến. Hà hà, bất biến. Không đổi. Hắn nhặt mớ giẻ lau ở góc cánh gà, định nhổ phẹt phẹt phẹt…mấy bãi nước miếng lên túm vải rách. Nhưng cổ họng hắn khô quắt. Khẹt khẹt. Hắn chạy tới bên bình bông cúc, túm chùm bông liệng ra góc sân khấu. Chùm bông vàng rực rơi tả tơi. Răng mà phí của ‒ bình bông ni đáng giá hai tô hủ tiếu ‒ nhưng hủ tiếu là hủ tiếu, hoa là hoa ‒ ăn được và không ăn được. Hắn bưng bình bông lên uống ừng ực. Nước cắm bông thúi lum lủm nhưng mát lạnh ‒ nước mát như nước giếng nông trường ‒ mình đưa sinh viên xung phong về nông trường cuốc đất với thanh niên xung phong ‒ vừa ăn khoai mì, vừa cuốc đất, vừa hát hò ‒ sướng ngất ‒ lý tưởng chói ngời ‒ bụng vẫn đói ‒ có răng mô ‒ ta đốt lửa cho đồi hoang ấm mãi ‒ hẹn người lên tìm lại dấu chân xưa. Phẹt phẹt phẹt. Hắn cầm mớ giẻ lau tẩm nước miếng, lau lên tấm bảng ghi danh sách ứng cử viên ban chấp hành đoàn trường nhiệm kỳ mới. Tấm bảng nằm chễm chệ giữa sân khấu. Nước miếng của hắn kéo ngang kéo dọc qua những cái tên ứng cử viên được viết hoa nắn nót. Đám nước miếng nhầy nhụa kéo qua những cái tên mà đám sinh viên ghét cay ghét đắng. Mấy cái bao tử bỗng giãn ra khoái trá. Ừa, bôi đi, bôi hết mấy cái tên chết tiệt vô tích sự đó đi. Sự hả hê lồ lộ ra trên những bản mặt. Cả đám ứng cử viên trang trọng ngồi phía bên kia, cũng có khối đứa đang sung sướng, hí hửng nhìn tên đối thủ của mình bị nước miếng chà quẹt. Niềm sung sướng ti tiện hèn mạt khi có người khác làm dùm cho mình cái điều mình muốn. Dù chỉ là một thằng điên. Hắn khoái trá nhận ra điều đó. Người điên thường khôn ranh. Hắn lau chậm rãi, kéo dài khoái cảm cho mọi người, dù là thứ khoái cảm giả tạo. Những thằng đau khổ vì tên mình bị lau cũng vẫn sung sướng nhìn tên mấy thằng khác bị quẹt nước miếng. Nước miếng dây dưa trên bảng đen thành những vệt trắng vằn vện. Hắn viết chồng lên mặt bảng lem nhem một đám công thức hóa học có những nối carbon nhằng nhịt và những nhánh hydro lòng thòng ‒ để loè đám cán bộ giảng viên miền Bắc cờ lo, hy đờ rô. Nếu chế tạo thành công món cơm cao su, chúng ta có thể nghiên cứu thêm món phở dây thun, hủ tiếu dây thun, bánh canh dây thun, mì dây thun… Dĩ nhiên màu sắc, độ đàn hồi của từng loại sợi phải tương ứng với đặc tính từng loại bột. Bột gạo ‒ bột mì ‒ bột năng. Bột năng làm từ khoai mì ‒ dưới chân đồi khoai mì xanh ngắt ‒ dân quanh vùng cũng đói vàng mắt ‒ sinh viên mò xuống đào trộm khoai mì bị đánh què chân ‒ khoai mì xay, chắt thành bột năng ‒ bã khoai mì nấu cháo cho heo ăn ‒ heo chê ‒ sinh viên xin bã khoai mì về nấu cháo ‒ không mập được như heo ‒ đêm nằm mơ thấy toàn ma quỷ ‒ xanh xao rã rượi. Hắn thôi nói về những món cao lương mỹ vị, hắn đổi giọng, nói về cái đói của sinh viên. Hắn nói về những buổi trưa nắng ở giảng đường đói cồn cào gan ruột. Về những giờ học trôi qua rã rượi, những giáo trình học nhai đi nhai lại dai nhách như mì dây thun. Về những đêm chong đèn biết sinh lực mình đang tàn dần, thoi thóp như ngọn bấc cạn dầu… Hắn nói bằng chất giọng hư hao của một thằng nhịn đói đã nhiều ngày. Thỉnh thoảng hắn ngừng lại, chăm chú nhìn những cái ngón tay đóng ghét đen đủi, để khán giả ngậm ngùi tự nhận ra, may quá, đôi bàn tay của mình vẫn còn đủ cả mười ngón. Cả hội trường lặng im xốn xang. Đã gần mười hai giờ trưa, ai cũng đói rã. Những cái bụng vừa được ăn no lại trống rỗng. Cảm giác bị lừa bịp, hoang mang mê muội, đói no lẫn lộn. Tiếng cái bụng rỗng sôi rồn rột trên sân khấu. Rồn rột. Rồn rột, chui qua lỗ tai. Rồn rột, chui vô bụng mình. Rồn rột kêu réo ở trong nớ. Có đứa mô đưa tay lên xoa cái bụng lép kẹp. Hắn xoa bụng hắn. Bàn tay dơ hầy đặt lên lớp vải áo đen đúa bèo nhèo. Đám sinh viên nhìn hắn xót xa thương cảm. Hắn thấy mừng vì mặc bộ đồ cũ lên sân khấu. Ban lãnh đạo nhìn hắn khinh bỉ, miệt thị. Hắn thấy buồn vì không mặc đồ mới lên sân khấu.
Hắn thều thào hết hơn một giờ đồng hồ. Đứa mô chịu đựng nổi thì đờ đẫn ngồi nghe. Đứa mô không chịu đựng nổi thì đã ngủ khò khò. Đó là nghệ thuật. Ban lãnh đạo trường nghẹo đầu ngủ sau mấy bình bông cẩm chướng. Ai cũng đói, ai cũng mệt. Mười hai giờ ba mươi. Thầy hiệu phó bỗng giật mình, tỉnh ngủ. Thầy ngơ ngác nhìn quanh, lơ mơ hiểu được tính chất đểu cáng của sự việc. Thầy nhìn đồng hồ, giận dữ phát hiện ra mình ngủ quá lâu. Thằng ốm đói vẫn thều thào ghê rợn trên sân khấu. Bụng thầy rồn rột kêu réo. Đâu phải sinh viên mới biết đói. Lãnh đạo mà không ăn thì cũng đói. Thầy la lên, mấy đứa cán bộ đoàn đâu, lôi cái thằng bầy hầy này xuống sân khấu. Hắn cười sằng sặc, mấy thằng cán bộ đoàn đều là đàn em của hắn. Một phần lý tưởng trong đầu tụi nó là do hắn cấy vô. Hắn không thèm chống cự, cứ lả người ra để mấy đứa đàn em dìu đi. Đi ngang qua hàng ghế sinh năm thứ nhất, cặp mắt ranh mãnh của hắn bỗng hé mở và hắn bắt gặp nó. Một thằng nhỏ, bản mặt hiền khô bấm ra sữa. Tấm huy hiệu đoàn cài ngay ngắn trên ngực áo. Hắn hứng chí cười, đôi môi hắn nhấp nháy nhắn nhủ.
“ Mì dây thun, hà hà, mì dây thun. Chỉ nhai đi nhai lại, rửa tới rửa lui, sau năm năm là thành kỹ sư. ”
Thằng nhỏ co rúm người lại. Mấy đứa sinh viên khác cũng co rúm người lại, ruột gan thắt lại, bụng đói cồn cào. Hắn biết, hiệu ứng một giờ diễn thuyết của hắn để lại sẽ rất quái gở. Cái cảm giác được ăn đầy bụng mà không no. Cảm giác sung sướng mà không khoái cảm. Cảm giác cồn cào, xót xa không nằm trong thể xác mà hành hạ đay nghiến tinh thần. Cảm giác trống rỗng ngu muội bất lực hèn hạ. Cảm giác thèm khát mà ghê tởm. Mấy đứa con gái quẹt mồ hôi trán. Những đứa con gái suốt những kỳ đại hội đoàn, chỉ ngồi đệt mặt chờ người ta xỏ mũi dắt đi. Bọn con trai lơ láo nhìn nhau. Những đứa con trai suốt mấy năm đại học đầu óc chỉ tằn mằn chuyện gạo mắm. Cả hội trường hối hả kéo ra nhà ăn.
Hắn ngồi trước phần ăn, cười sằng sặc. Một dúm cơm gạo mốc vàng lẫn hạt cỏ hạt sạn. Một chén lưng canh đại dương, lỏng bỏng mênh mang nước biển. Một muỗng nước mắm toàn quốc, chỉ toàn là nước. Hắn cười sằng sặc, bọn sinh viên tụi bây cứ ngồi nhìn những thứ ni mà nghĩ tới cao lương mỹ vị.
Hai tuần sau, một buổi tối, hắn leo lên sân thượng giảng đường. Hắn đứng thật lâu ở đoạn thoát nước cho mái nhà. Chỗ này mùa mưa rêu đóng trơn tuột. Bám lên thành xi măng, đu qua máng xối là tới một khoảng sân rộng. Cảm giác hụt hẫng chơi vơi, chực té lộn cổ xuống bao giờ cũng căng thẳng thắt tim. Hắn sẽ giả bộ quên bám lên thành xi măng, sẽ lảo đảo, sẽ “ á ” lên kinh hãi. Hắn sẽ vội vàng đưa hai tay chụp lấy thành xi măng, sẽ giả bộ trịnh trọng lắc đầu như tự trách mình bất cẩn. Tim hắn sẽ thắt lại cảm giác mạo hiểm mơ hồ, bên dưới sâu chênh vênh. Hắn đứng trên mái nhà, ngước đầu lên, vũ trụ đầy sao. A ha, chào 61, đỉnh cao muôn trượng. Hắn cúi nhìn xuống, cánh đồng tối đen đom đóm lập lòe. Hắn cười sung sướng, quê mình kìa, đất cày lên sỏi đá, quê mình ở dưới đó thôi. Sảy chân là rớt về quê.
Hắn định sảy chân thật. Người chết vì lý tưởng có quá nhiều, những bài ca tụng cứ dài dằng dặc ra mãi. Hắn muốn khác họ, muốn đảo ngược mệnh đề. Hắn sẽ chết vì không lý tưởng. Chân hắn đứng mấp mé thành máng xối trơn trợt. Khoảng không bên dưới sâu thẳm, tối tăm. Hắn bước về phía trước, chợt nhận ra hai bàn chân để trần đen đúa. Bậy quá ‒ mình quên nói với con chuột ‒ còn một chiếc giày giấu sau kẹt cửa ‒ chao ôi ‒ không còn dịp nữa rồi ‒ bậy quá. Thân hình hắn chúi về phía trước. Hắn dang tay ra, cười sằng sặc. Cảm giác trượt từ đỉnh lý tưởng vào vực sâu không lý tưởng thật là tuyệt diệu. Chỉ tiếc là nó quá ngắn ngủi, cảm giác bồng bềnh chưa kịp tận hưởng, cơn chấn động dội ngược từ phía sau làm hắn kinh hãi. Hồn hắn vọt ngược lên không trung. Thân xác nằm bất động bên dưới. Dòng máu rỉ ra lặng lẽ. Hắn tò mò quay lại nhìn thân xác mình, nó nằm đó, hiền lành như đất cát.
Hắn sảy chân vào ban đêm, nằm chết thẳng cẳng trước sân trường. Hai tay dang rộng, mắt nhìn thẳng lên trời, đôi môi mỉm cười. Cả trường náo động, sinh viên nườm nượp kéo lên xem. Gia đình hắn ở quê nghèo tơ xơ mướp, đành gửi xác con lại trường. Ban giám hiệu muốn đưa hắn ra chôn sau đồi, nhưng không ban ngành đoàn thể nào chịu bỏ tiền sắm áo quan. Mấy thằng sinh viên cùng lớp kéo lên giảng đường, tụi nó chẻ bộ bàn học ra đóng áo cho bạn. Hắn ngồi bên cạnh, nhìn bạn bè gõ búa, nhớ từng kỷ niệm nhỏ nhặt chia sẻ với nhau. Những ngày mưa nắng ở nông trường ‒ thằng mô té ở cầu cá ‒ những buổi chiều gánh phân đi qua cánh đồng lầy lội ‒ thằng mô tuột dép tìm hoài không ra ‒ những cánh đồng mía ngập mặn ‒ những đêm đốt lửa trên đồng nghe câu hò vọng cổ ‒ mấy con đỉa no tròn bám ở bắp chân ‒ mấy thằng bạn nghèo nước mắt mồ hôi nhễ nhại, gõ từng nhát búa lên tấm áo quan ‒ vì mình mà bạn bè cực khổ ‒ vì mình mà thế hệ đàn em mất một bộ bàn học ‒ mình bỏ cuộc rồi ‒ không đi tiếp nữa đâu. Hắn đưa tay lên chùi nước mắt, bỗng ngỡ ngàng nhận ra, mình đã hết điên từ bao giờ. Chết là hết. Cơn điên ngắn ngủi đi qua đời hắn và chấm dứt bằng cái chết.
Cả trường lũ lượt đi đưa. Bạn quen và bạn không quen. Những cục đất tống tiễn ném xuống huyệt, như dội vô tim hắn. Mấy đứa con gái xô vô nhau mà khóc. Mấy đứa con gái ban đêm lên thư viện học hay bị hắn đuổi chạy. Tội nghiệp ‒ khóc cái chi ‒ chẳng lẽ mình chết rồi cuộc đời ni bớt vui ‒ khóc cái chi ‒ choáng váng ‒ ngậm ngùi ‒ dằn vặt ‒ cảm thông ‒ đau thương ‒ tự vấn – ai mà biết tụi con gái nghĩ gì ‒ nhưng thôi, mấy đứa về đi ‒ đừng nghĩ gì nữa.
Đừng nghĩ gì nữa.
Hắn nằm đó giữa lòng đất, hai bàn tay thong dong đặt lên cái bụng lép kẹp. Hắn chờ bạn bè lấp huyệt để thanh thản yên giấc. Chết vì lý tưởng hay chết vì không lý tưởng ‒ tất cả đều về hư vô.
Hắn mở mắt nhìn lần cuối khoảng trời trong xanh, định bụng sẽ phiêu diêu chìm vào giấc thiên thu. Giữa lúc đó, hắn lại nhìn thấy nó, thằng sinh viên năm thứ nhất đang lò mò ra đứng bên bờ huyệt. Bàn tay nó đưa ra trước, run lẩy bẩy. Nắm đất nằm yên trong tay nó, không rơi xuống. Hắn ngóc đầu nhìn nó, con tim bỗng quặn đau. Chết rồi răng vẫn còn đau ‒ hư vô là cái chi chi. Thằng nhỏ kia là hình ảnh của hắn những ngày đầu náo nức bước chân vào trường đại học. Có bao nhiêu thằng như vậy. Có bao nhiêu những đứa trẻ tuổi tâm hồn trong sáng tràn đầy niềm tin yêu như vậy. Tấm huy hiệu đoàn cài thẳng thớm trên ngực áo. Hắn thở dài, ném nó xuống đi, mày ném nó xuống cho tao, còn chờ chi nữa. Thằng nhỏ nhìn xuống lòng huyệt đôi mắt mở to hoang mang. Hắn lại gắt, mày thả nắm đất xuống cho tao, còn giữ làm chi nữa. Chỉ là cát bụi ‒ nắm đất này không ném lại đây, phải mang theo suốt cuộc đời, làm răng mà sống nổi ‒ phải biết bỏ lại để mà đi tiếp ‒ đừng bỏ cuộc. Thằng nhỏ vẫn giữ chặt nắm đất trong bàn tay tướp mồ hôi. Mấy đứa sinh viên khác chen tới, đẩy nó qua một bên. Hắn nạt lớn, phải biết bỏ lại để mà đi tiếp, nghe chưa. Nó giấu bàn tay ra sau lưng, cúi đầu len lét lùi lại. Hắn giận dữ bò ra khỏi huyệt, tới bên cạnh nó, thổi cơn gió lạnh chạy dọc qua sống lưng thằng nhỏ. Hắn thì thào ghê rợn.
Trường đại học nằm trên đỉnh đồi. Mộ của hắn nằm cô quạnh dưới hàng dương liễu. Ngày bạn bè tiễn hắn ra đây, cả triền đồi còn ngút ngàn màu xanh. Chiều chiều trên cánh đồng xa, có đàn cò trắng bay đi bay về. Hắn không sợ cô quạnh. Hắn chỉ sợ sự ồn ào, khi màu xanh quanh chỗ hắn nằm cứ mất dần đi. Quán nhậu, quán net, quán ôm, quán cá, quán đề thi nhau mọc lên lố nhố. Cánh đồng cuối cùng rồi cũng bị san bằng. Cây dương cuối cùng rồi cũng bị đốn bỏ. Người ta đổ beton lên chỗ hắn nằm. Quán karaoke ôm phía trên rèm che kín mít, nhạc xập xình, đèn nhí nháy, ngày cũng như đêm. Hắn nằm ngay dưới dàn karaoke, không cách chi ngủ được. Mấy thằng vô quán karaoke ôm thường là mấy thằng không biết hát. Chữ nhảy hai ba hồi, tay chân bắt nhịp loạn xạ mà vẫn không vô đúng nhịp. Vừa hát vừa rượt theo chữ, té lên té xuống mấy bận mà cứ ham té. Mấy con nhỏ bán quán ôm cũng không phải là ca sĩ. Có một con tóc dài, giọng khoẻ hung, nhưng hắn ghét con nớ. Gặp ai nó cũng ôm, cũng kể lể, em là sinh viên, vì hoàn cảnh khó khăn phải ráng làm thêm, để kiếm tiền đóng học phí.