Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2009

Bác Sĩ riêng của Mao






 Lý Chí Thỏa

  
Lời nói đầu
 Andrew Natan Giáo sư Đại học Tổng hợp Colombia


Không có một nhà độc tài nào trong lịch sử nhân loại có uy quyền lớn như vậy đối với quần chúng như Mao Trạch Đông. Không ai trong số những người cai trị trong quá khứ đã mang đến cho dân tộc mình nhiều sự đau khổ bần hàn cho nước Trung quốc chia rẽ.

 Sự khát vọng uy quyền và mơ ước nắm giữ ngai vàng với bất kỳ giá nào đã buộc Mao phải cai trị đất nước trong sự thối nát cùng cực. Những ý tưởng điên rồ và hàng loạt mưu đồ đã đưa Trung quốc tới vực thẳm. Hàng chục triệu người đã chết vì đói trong những năm chính sách đại nhảy vọt, và vì sự trả thù hàng loạt và hỗn loạn diễn ra trong thời kỳ Cách mạng văn hoá – đấy là kết quả của một thí nghiệm bệnh hoạn do một ông vua mới xuất hiện trên một đất nước vĩ đại có hàng nghìn năm lịch sử.

 Sự thú nhận thẳng thắn của một con người từng sống bên cạnh Mao trong thời gian suốt hai mươi năm và nghiên cứu tận gốc rễ không những tổ chức mà còn thế giới bên trong người cầm lái vĩ đại, là độc nhất trong việc mô tả sinh hoạt của một trong số những bạo chúa của thế kỷ XX. Những chi tiết trong cuốn Về cuộc sống của các Xê-da đã mô tả những ảnh hưởng thối nát của uy quyền tuyệt đối với khuyết tật, sự tham lam, khát máu và giết người man rợ.

Tuy nhiên, khi tả lại cuộc sống của các tù trưởng bộ lạc, người Tây Tạng và bạo chúa Neron, tác giả chưa phải là một con người gần gũi với họ như bác sĩ Lý Chí Thỏa với bệnh nhân Mao Trạch Đông. Về tiểu sử Hit-le ông Speer biết chưa đày đủ về đế chế của mình, nhưng trong tiểu sử của lãnh tụ Nazi, chỉ giới hạn đến mặt chính trị và quân sự của Hitle.

 Con gái Stalin viết nhiều về bố mình, dù cô ta cũng gặp bố không nhiều. Nhật ký của bác sĩ riêng Napoleon và Hit-le chỉ thuần tuý là quan sát về y học. Hồi ký của Moran về Sớc sin, của Herndon về Lincon chỉ là về những sự kiện lịch sử mà ảnh hưởng của cá nhân đến quá trình lịch sử là không đáng kể.

Cái gì liên quan tới triều đại Trung hoa, thì theo truyền thống trong đó chỉ mô tả chuyện ma chay, chôn cất, bói toán, chiến tranh và các sự kiện đáng ghi nhớ của việc lên ngôi của hoàng đế. Trong tiểu thuyết cổ Trung quốc Tam quốc diễn nghĩa mô tả sự chia rẽ Trung hoa thành ba quốc gia thù địch Ngụy, Thục, Hán và về sự thống đất nước dưới sự che chở của triều đại Tần năm 280, người ta chỉ kể lại các cuộc chém giết, sát phạt và các thủ đoạn trong thời kỳ này.

 Dưới sự soi sáng của các sự việc nguyên bản và sự mổ xẻ tâm lý Mao một cách sâu sắc đã làm cuốn sách của Lý Chí Thỏa là hiện tượng hiếm trong văn học. Thật là khó hiểu rằng trong những năm 90 thậm chí người ta vẫn mô tả Mao Trạch Đông là một con người nhân hậu thông minh, và bất cứ sự chỉ trích nào nhắm vào ông ta lại gây sự phẫn nộ trong người Trung quốc.

Tất cả những ai có vinh dự gặp lãnh tụ không có thể quên được cuộc gặp đầu tiên khi đó Mao là lịch sự, khiêm tốn và nhân từ với người đối thoại và điều này tạo cho ông ta là người ngay thẳng. Tuy nhiên càng về sau Mao không giữ được đức tính như thế nữa, ông thường xuyên giận dữ, dọa dẫm và cai trị thuộc hạn trong sự sợ hãi triền miên. Mao chẳng khó khăn gì lôi kéo đám cận thần và tất cả nhân dân Trung quốc.

 Và không còn nghi ngờ gì nữa trong trường hợp này, giúp ông ta chính học thuyết Khổng tử, học thuyết đó trong suốt nhiều thế kỷ đã ăn sâu trong tâm khảm dân thường Trung quốc. Một trong năm điều răn dạy của Khổng giáo là lòng tin của thần dân vào kẻ thống trị dựa trên sự tín, nghĩa, trung quân, không chống lại vua. Vây quanh ông ta là những người dễ bảo, Mao dần dần bày ra trò tự phê bình để mà nghe từ họ bao lời ca tụng và thờ phụng ông ta. Mao bắt chước Tần Thuỷ Hoàng và khéo léo điều khiển đám người quanh ông.

Bác sĩ Lý Chí Thỏa xuất thân từ một gia đình dòng dõi, thời trai trẻ đã được đào tạo trong một trường đại học ở Quý Châu, sau khi tốt nghiệp ngẫu nhiên tham gia tổ chức thanh niên chống cộng của Quốc dân đảng. Điều đó cho phép Mao bằng thủ đoạn hăm doạ lành nghề buộc Lý trở thành người đầy tớ tin cẩn của mình.

 Dưới thời Mao, sự thối nát thịnh hành và ông ta cũng biết rõ điều này. Cái đó tạo cho Mao cai quản đám người của mình trong vòng cương tỏa. Ông thường xuyên nhắc đi nhắc lại rằng cá không thể sống thiếu nước, và ông rất thích bơi lội trong các hồ nước bẩn hoặc là ban đêm đi đến các nơi tối tăm của cánh đồng lúa.

 Tất cả những người quanh Mao đều bị cơ quan mật vụ theo dõi. Trong nhiều năm trời, nhiều người trong số chiến hữu của Mao đã bị nằm trong các trại cải tạo hoặc bị xử tử. Trong những năm chiến tranh và cách mạng, Mao đã mất con, anh em và một người vợ, nhưng ông lại hoàn toàn thờ ơ trước những đau đớn của những người khác.

 Trong chính trị cũng như trong đời tư, ông không hề ngần ngại tiêu diệt những người mà ông coi là không có lợi đối với ông, và khi cần thiết thì ông lại nhẫn tâm kéo họ về phục vụ cho ông, nếu lúc ấy họ vẫn còn sống. Bác sĩ Lý thường đặt Mao trong sử sách Trung quốc. Vị lãnh tụ rất thích các tiểu sử đầy mưu mẹo ranh ma và xảo quyệt của các kẻ thống trị đời trước. Họ đã dạy Mao Chủ tịch cả về chiến thuật lẫn chiến lược đấu đá với kẻ thù của mình. Mao đã nổi bật về mưu mô xảo quyệt và một kịch sĩ. Thậm chí chiến hữu thân cận cũng không thể hiểu nổi Mao đồng ý với họ hay chuẩn bị giáng cho họ đòn bất ngờ.

Hình mẫu cuộc sống của Mao là sự kết hợp chủ nghĩa khổ hạnh và xa hoa, sự lười biếng đến lạ lùng và khả năng làm việc đặc biệt. Phần lớn thời gian Mao nằm trên giường hoặc trên trường kỷ trong bể bơi. Ông ta có thể cả ngày đi lại trần truồng, thích thức ăn béo ngậy, thay cho việc đánh răng, ông xúc miệng bằng nước chè và bồng bế lên giường những cô gái thôn dã chanh cốm.

Năm 1958, trong thời gian thăm tỉnh Hồ Nam, đi theo xe Mao là một chiếc xe tải chở đầy dưa hấu mà Mao ưa thích. Chủ tịch rất thích đi những đôi giày vải, và nếu phải xuất hiện trước một cuộc tiếp xúc ngoại giao thì ông chọn giày da, trước đó những cận vệ tin cậy buộc hoặc cởi giầy cho ông. Mao chẳng bao giờ thích tắm. Thay vì đó, các vệ sĩ lau mình ông ta bằng khăn mặt ướt, điều này – theo lời bác sĩ Lý – dễ tăng sự nguy hiểm lây lan chứng bệnh giang mai trong số nhiều tỳ thiếp của lãnh tụ. Mao chỉ ngủ trên chiếc giường gỗ lớn, không bao giờ được rời ông. Ông mang theo nó trong các chuyến đi riêng của mình, mang nó theo ra dinh thự ngoại ô. Chiếc giường thậm chí còn đi theo ông trên máy bay trong chuyến đi tới Moskva.

Chủ tịch là thời gian quyền lực và là một cuốn lịch.
 Toàn bộ dinh thự làm việc và sống trong một nhịp điệu của chủ nhân, hoạt động chính của nó bắt đầu theo thường lệ vào lúc nửa đêm. Mao có thể gọi người phục vụ vào lúc hai, ba giờ đêm. Ông rất thích chu du đất nước, vì thế các cuộc gặp gỡ với giới lãnh đạo cao cấp và cuộc họp Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc có thể diễn ra ở hang cùng ngõ hẻm của Trung quốc.

Trong số Luận văn đạo Lão cổ ông biết rõ là con đường dẫn tới tới sự bất tử nằm ở quan hệ tình dục và say sưa đắm mình trong trác táng tình dục hoan lạc với vô số các cô gái trẻ đẹp. Trong những ngày lễ chính thức ông chỉ công nhận kỷ niệm ngày quốc tế lao động 1-5 và ngày thành lập cộng hoà nhân dân Trung hoa và cũng chỉ mời khách nước ngoài cao cấp. Trong những ngày này ông ăn mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn

 Các phụ nữ chỉ được phục vụ ông một trong số các món ăn kiểm tra cẩn thận. Cuộc sống tình dục của ông phải chăng không rõ có phải trên cơ sở chăm sóc kiểu vua chúa hay không. Bên cạnh phòng rộng lớn cho hội nghị hiệp thương toàn quốc là một phòng đặc biệt dành riêng cho lãnh tụ để trong thời gian hội thảo mệt nhọc ông được xả hơi bằng tình dục.

 Các quan chức quân đội và đảng, những người luôn giữ nghiêm ngặt đạo đức xã hội đã kiếm cho Mao các cô trinh nữ duyên dáng xuất thân từ thành phần vô sản và nông dân. Mao rất thích khiêu vũ, và thường tổ chức vũ hội, để sau đó các bạn nhảy của ông được vinh dự vui vầy với lãnh tụ trên giường. Những cô gái thạo ngón có quyền dẫn em gái trẻ của mình tới phòng Mao.

Mỗi bí thư đảng ở các địa phương đều xây cho Mao một vi-la tráng lệ. Mao không thích ngồi một chỗ và thường xuyên du ngoại trên đoàn tàu riêng. Mọi đoàn tầu trên đường đi của lãnh tụ đều bị ngừng lại, tại các ga mà tàu đi qua, công an canh chừng hành khách và dân buôn thúng bán mẹt. Trong những năm đại nhảy vọt người ta bắt nông dân trồng lúa dọc theo đường tầu để lãnh tụ từ trong toa nhìn ra tận mắt có thể nhìn thấy vụ mùa bội thu, mặc dù nó chính nó rất tồi. Mao rất thích ra ngoài dạo chơi ở vi-la của mình xây ở đảo nằm trên sông Châu Giang gần Quảng Châu.

 Thức ăn của lãnh tụ được trồng ở những trại đặc biệt cách Bắc Kinh không xa và được kiểm tra bằng những chuyên gia lành nghề. Trong những ngày nóng nực, căn hộ của Mao được làm lạnh bằng những chậu nước đá. Quyền lực tuyệt đối đã ảnh hưởng tới thể lực và tinh thần của nhà độc tài và cướp đi sở thích đơn giản của ông là giao tiếp. Có lúc hàng tháng ông không rời khỏi giường, mặt tỏ ra lo âu mơ hồ.

Tuy nhiên khi xảy ra biến cố chính trị nghiêm trọng thì ông tỏ ra hoạt bát lên, lấy đi sự thanh thản và thậm chí không ngủ nữa. Trong thời kỳ ấy cho lãnh tụ dùng lượng lớn thuốc ngủ barbiturat. Căng thẳng chính trường thời gian ấy đã không làm yếu khả năng tình dục của Mao và đôi khi ngược lại còn tăng lên.

Khi mà trong những năm đại nhảy vọt hàng chục triệu người chết đói, Chủ tịch để chuộc lỗi trước đảng, tạm thời ngừng ăn thịt, nhưng đàn bà thì ông không bỏ. Một trong số những thứ như thế đã mở mắt bác sĩ Lý là người cầm lái thực là vĩ đại về mọi phương diện, bao gồm thậm chí cả tình dục. Chính sách nhà độc tài phụ thuộc vào tính cách cá nhân của ông.

Trong thử nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội Trung quốc duy nhất Mao đã tạo ra một đất nước nghèo khổ, lạc hậu dở sống dở chết chẳng giống với ai cả, lề lối quản lý kinh tế xã hội khác thường. Đối mặt với sự thù địch của phương Tây, Mao bắt đầu chơi với Moskva. Dù thế các thành tựu khoa học kỹ thuật của Mỹ và Châu Âu luôn luôn làm Mao ngưỡng mộ. Có thể là chính vì vậy Mao chọn Lý làm bác sĩ riêng.

Trong đó lãnh tụ Trung quốc muốn tìm thấy những người đối thoại thông minh và có học, đặc biệt hiểu được tiềm năng của mức kinh tế và kỹ thuật của các nước phương Tây phát triển. Khi trao đổi với Lý, Chủ tịch nhiều lần nhấn mạnh rằng quan hệ của Mỹ với Trung quốc luôn luôn thiện chí, trong khi Liên-xô gọi cộng hoà nhân dân Trung hoa là người em trai của mình và xem đó là đất nước vĩ đại có triển vọng. Mao có xu hướng khắc phục những yếu kém của mô hình xô-viết nguyên thuỷ của chủ nghĩa xã hội và xây dựng ở Trung quốc chủ nghĩa xã hội kiểu mới, đưa đất nước đến mức các nước văn minh trên thế giới.

 Ông cho rằng nhờ đó có thể trở thành kinh điển chủ nghĩa Mác-Lê Nin và đóng góp nhiều bài học bởi sự sáng tạo nguyên bản mới. Một trong những ý tưởng hiệu quả là chính sách đại nhảy vọt, và để cứu nó phải quay sang Cách mạng văn hoá.

Theo Mao, phát triển kinh tế của đất nước có thể chỉ đạt được bằng chủ nghĩa nhiệt thành của quần chúng. Mao Trạch Đông tin thành tâm vào hiện thực thực hiện kế hoạch lớn lao của mình. Điều này không khó vì chính lãnh tụ từng sống trong vùng cộng sản. Vào thời kỳ khi mà nhân dân Trung quốc đói, lãnh tụ vẫn ngoan cố khẳng định về sự giàu có của đất nước, mà các nhà lãnh đạo đảng đã thông báo cho ông ta. Đảng kiểm soát kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá và mọi cuộc sống của nhân dân…

Đảng lãnh đạo đã bác bỏ cách đi tiếp của lãnh tụ theo ý tưởng điên rồ để đẩy mạnh đất nước. Khi đó Mao ngừng lại, để chấp hành quyết định của Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc. Tuy nhiên lúc đó có cuộc đấu tranh dữ dội trong nội bộ, Mao ngoan ngoãn nghe lời đa số. Giải quyết vấn đề cơ bản của đất nước là một nhóm ủy viên Ban chấp hành trung ương gồm 30-40 người. ảnh hưởng của họ đến ý kiến đa số trong lãnh đảng cộng sản Trung quốc phụ thuộc nhiều vào quan hệ qua lại với Mao Trạch Đông.

 Trong cuốn sách của mình, bác sĩ Lý mô tả tỷ mỷ cấu trúc hệ thống chính trị của Trung quốc bao gồm những người sáng lập và các cơ quan thuộc Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc: bộ máy thư ký, bộ máy an ninh, bệnh viện, giao thông, cung ứng và những cái khác.

 Đối với giới chức cao cấp của đảng, người ta xây các thành phố ngầm, để các nhà lãnh đạo có thể chạy một cách dễ dàng từ nhà họ ra tới bất cứ điểm nào của Bắc Kinh. Giống nhiều nhà thống trị, Mao không có bạn thực sự và chiến hữu tin cậy. Vây quanh ông là cả một đội ngũ thuộc hạ ngoan ngoãn, những thư ký… và những vệ sĩ lực lưỡng. Dù rằng có bộ sậu đông như thế, Mao vẫn cảm thấy đơn độc.

Tại đại hội VIII đảng cộng sản Trung quốc năm 1956, nhân báo cáo Khơ-rút-sốp về tệ sùng bái cá nhân Stalin, người ta đã cố gắng hạ uy thế Mao Trạch Đông. Mao thẳng thừng chống lại vì ông hiểu quá rõ rằng làm thế ông sẽ mất ngai vàng mà ông giành được từ ngày cộng hoà nhân dân Trung hoa ra đời.

 Nhiều năm trôi qua, hàng triệu sinh mạng bị thiệt hại. Nhiều người trong số chiến hữu người cầm lái vĩ đại đã chết trong các trong trại cải tạo và nhà tù, còn dân chúng như trước đây vẫn ca tụng lãnh tụ trong các cuộc mit tinh hàng ngàn người giơ cao những bìa đỏ trích dẫn lời thần tượng của mình. Trong số những người trước đây còn nắm chức vụ cao chỉ còn Lâm Bưu, từ 1969 chính thức trở thành trợ thủ duy nhất và người kế tục của Chủ tịch Mao.

 Năm 1971 Lâm Bưu bị buộc tội đảo chính phản cách mạng và mưu sát Mao. Sau khi bại lộ, Lâm Bưu cùng vợ và con bay sang Liên-xô. Nhưng máy bay của ông bị rớt trên vùng đất Mông cổ mà cho đến nay không rõ nguyên nhân. Sự phản bội và cái chết của Lâm Bưu đã giáng Mao một đòn nặng tới mức từ thời điểm đó bác sĩ Lý đã nhận thấy sự giảm đột ngột sức khoẻ của Chủ tịch.

Trong những năm cuối đời, Mao Trạch Đông cố gắng dàn xếp quan hệ với phương Tây. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi việc tiến hành cải cách kinh tế do Đặng Tiểu Bình khởi xướng. Sau khi Mao chết năm 1976, bác sĩ Lý bị đe doạ tính mạng – người ta có thể buộc tội ông giết lãnh tụ. Nhưng rất may mắn, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc biện hộ cho ông.

Dù vậy, không tin vào sự ổn định trong nước, Lý Chí Thỏa di cư sang Hoa kỳ. Sau đó tên của bác sĩ riêng của Mao đã bị xoá bỏ khỏi lịch sử chính thức của cộng hoà nhân dân Trung hoa. Năm năm sau cái chết của Mao, Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung quốc ra quyết định trong đó Mao được phong là nhà cách mạng vĩ đại đóng góp vào sự phát triển của Trung hoa và giảm lỗi của Mao đi đáng kể.

Trong cuốn sách này chứng minh ngược lại. Tác giả vững tin chứng minh rằng sự kết hợp quyền lực tuyệt đối với ý tưởng phiêu lưu chỉ đẻ ra tội ác vĩ đại. Không có một cuốn sách nào về tiểu sử người cầm lái vĩ đại lại tỷ mỷ và khách quan như hồi ký của Lý Chí Thỏa
(còn tiếp)
nguồn: Quê choa

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

Lại tiếp chuyện cóc




Chuyện con cóc là cậu ông Giời chưa phải đã hết.Thế kỷ 21,với công nghệ biến đổi gen người ta không chỉ tạo ra nhiều loại giống cây trồng mà còn sang đến sân sinh sản vô tính cho cả con vật. Cừu Đô-ly là đột phá khẩu khiến cả thế giới kinh ngạc về khả năng con người đột phá vào khoa học. Ở nước ta, trình độ khoa học còn khá khiêm tốn, nhưng không vì thế mà không có những phát triển “công nghệ” biến đổi, biến đổi không cần đén khoa học!
Đó là chuyện cóc vụ lợi. Cóc vụ lợi không đơn thuần là những con cóc thường. Có lúc cóc lại chính là những ông Giời. Đó là mối quan hệ ở giữa các ông Giời với nhau. Ông Giời nhỏ muốn cầu cạnh ông Giời lớn thì cũng phải tình nguyện biến thành cóc mới mong được việc. Một đời ông Giời mười đời làm cóc là như vậy. Những con cóc có quan hệ với nhiều ông Giời thành tinh rồi thì nó cũng có khả năng dễ biến thành ông Giời như bỡn. Đó là cóc biến đổi gen thành để thành thứ ông Giời rởm . Giời rởm cũng có sức mạnh giống như ông Giời. Những ông Giời này mới thực sự là đáng sợ. Có lúc nó cũng biến ông Giời từng quan hệ với nó thành cóc khi ông trót sa cơ lỡ vận, hoặc lo một chuyện mà ông Giời không thể trực tiếp ra tay. Thế mới biết trên đời này không có gì là tuyệt đối, không có chuyện gì là không thể xảy ra.
   Tôi biết một con cóc ở tỉnh nọ được ông Giời hùn vốn quyền lực cho đứng tên một công ty Vô trách nhiệm vô hạn, giữ vốn cho ông. Ông Giời  nào thì cũng chỉ được ngự trên ngai một thời gian rồi sau đó phải trả ngai cho các Hòang thái tử trưởng thành. Vậy nên ông Giowif nào cũng rất cần vốn dưỡng già. Thế là ông Giời tạo nhiều điều kiện để cóc đệ tử xâm nhập vào dự án này kia nọ và tranh thủ rút ruột càng nhiều càng ít. Bởi thế mà công ty của cóc lớn nhanh như thổi. Chẳng mấy chốc từ hơn một tỉ vốn đã phình ra vài chục tỉ. Các ông Giời bề trên ở các nơi về thăm thú đều khen công ty làm ăn giỏi, nêu gương điển hình dám nghĩ dám làm (liều). Họ đều được chiêu đãi xả phanh và ra về với phong bao trĩu nặng. Sau đó còn tiết mục ghi sổ cảm tưởng ở phòng truyền thống và chụp ảnh lưu niệm. Cóc cho phóng to các ảnh treo lả rả từ Văn phòng đến hội trường. Nhiều hôm nhìn ảnh mình đứng kề cùng các ông Giời thấy các ông Giời đều cười tươi tắn cóc thấy thật yên tâm.  Những từng ấy ông Giời họ hàng thì cóc còn sợ gì nữa. Những ảnh đó như đô-pinh liều cao cho ông Giời tỉnh và cóc kẹ. Thế là họ tiếp tục làm càn. Chẳng phải đợi qua mấy mùa trăng, việc làm hắc ám của cóc bị phanh phui. Ông Giời tỉnh lâm nạn vì Quan án sát phát hiện ra mối quan hệ bất lương của ông và công ty của cóc. Kết cục là ông phải rời ngai đi làm ông Giời nhỏ chỗ khác. May mà ông có nhiều hàm ơn phong bì với các ông Giời to hơn nên thoát nạn. Chỉ khổ cho cóc rơi vào cảnh tướng mất sĩ như đĩ mất váy, một mình nhao lên nhao xuống trong chảo gang nóng rực mùi pháp luật. Cuối cùng cóc chết thảm khi chưa kịp ra tòa với căn bệnh đột nhiên có. Trong đám ma cóc chẳng thấy mặt một ông Giời nào đưa tiễn. Các ông còn đang bận đứng trong ảnh cười vui vẻ tại nhà truyền thống và trên hội trường. Còn ông Giời nọ mất ngai được đặt lên ngai khác ít ngày thấy thiên hạ ì xèo chuế quá, rồi cũng phải lui dần xuống hàng cóc. Nhưng ông sống cũng không yên ổn lắm, bởi nhiều hôm oan hồn cóc cứ hiện về đứng ở góc giường nhìn ông oán hận. Thân bại danh liệt, ông Giời tỉnh mất cả chì lẫn chài. May mà ông đã kịp giấu đi một phần của cải. Vì dù sao ông Giời vẫn khôn hơn cóc, vẫn biết phòng bị gậy, không thì chết dở. Bởi từ đấy các ông Giời bề trên cũng biến đâu hết cả. Các ông không thích quan hệ với loại ông Giời mất ngai. Dù xuống hàng cóc, các ông cũng không thèm nhận làm cậu.Người thân thuộc mà như thế thì chỉ có xấu mặt thêm. Chả ông Giời nào dại.

http://dongngandoduc.multiply.com/journal/item/187/187

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

“Pê đê” khoả thân trong đám tang ở “Khu phố văn hoá” TP/HCM

 - Những tiết mục múa lửa, vũ sexy, thoát y... được nhóm “pê đê” biểu diễn công khai trong đám tang ở một khu dân cư ngay đầu hẻm có gắn bảng “Khu phố văn hoá”. 

Sự việc diễn ra vào tối 9/11, tại một con hẻm nhỏ trên đường Trường Chinh, P.13, quận Tân Binh (TP.HCM).

Đám đông phấn khích với những màn biểu diễn của các "nghệ sĩ" chuyển giới.
Một lực lượng vệ sĩ khoảng 5 người được huy động để làm công tác an ninh đồng thời dọn lối đi lại trong con hẻm, nơi "show tạp kỹ" diễn ra. 

Mô tả ảnh.
Mô tả ảnh. Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Khó ai có thể tin được đây là những hình ảnh trong đám tang chứ không phải là ở quán bar hay sàn diễn.
Chương trình được mở màn bằng những ca khúc từ buồn đến vui, từ nhạc nhẹ đến nhạc mạnh, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc... Không chỉ có hát, các "ca sĩ" mang những cái tên "quen quen" như H.T, N. T.V hay T.N... còn liên tục ngỏ lời xin xỏ đám đông xung quanh bằng cái giọng ồ ồ, ngai ngái nửa trai nửa gái: "Lì xì đi anh", "Cho con đi má", hay thậm chí là "10 ngàn bóp ngực thoải mái"...  
Và lần cởi các mảnh vải trên cơ thể.
Và lần cởi các mảnh vải trên cơ thể.
Tâm điểm của biểu diễn xuất hiện sau đó, khi đám đông hiếu kỳ đã đứng kín cả con hẻm nhỏ. Một "nghệ sĩ" trong trang phục hai mảnh từ từ bước ra, thể hiện những động tác vũ đạo sexy như để làm nóng mình trước màn trình diễn.

Tiết mục đầu tiên của “cô nàng” là dùng miệng để giữ thăng bằng cho... vòng hoa tang. Khán giả ồ lên thán phục.

Sự thích thú của đám đông làm cho các "nghệ sĩ" càng "hăng máu".
Sau đó, cô tiếp tục với một bài múa lửa khá nóng bỏng. Mọi người vỗ tay ầm ầm. Cánh mày râu thi nhau lên nhét tiền "bo", không quên tranh thủ “nghịch ngợm". "Cô" ra giá 500 ngàn đồng cho hai mảnh vải cỏn con còn lại trên người, tiền tươi là cởi bằng hết. Ngay lập tức, đám đông trở nên ồn ào hẳn. Vài người đàn ông khích nhau: "Chơi đi ông, có 500 ngàn đồng!". Một trong số đó mở bóp, rút tiền... 
Không ít "khán giả" thưởng bằng cách đút tiền vào áo ngực cho những "nghệ sĩ" chuyển giới.
Sau tiết mục này, trật tự được vãn hồi. Lúc này cũng đã khuya, và nhóm "nghệ sĩ" tiếp tục chương trình với một vở cải lương cây nhà lá vườn vô cùng tục tĩu trước khi nói lời kết.
Màn giữ thăng bằng hoa tang.
Màn giữ thăng bằng hoa tang.
Đúng 0h, chương trình kết thúc. Gia chủ hỉ hả ra mặt như thể mình là một “bầu sô” vừa tổ chức được một show diễn thành công; khán giả lục tục ra về với những lời bàn tán đầy thích thú.
Màn múa lửa.
Màn múa lửa.
 
Những hủ tục trong đám tang, đám cưới tại TP.HCM không phải là hiếm. Thế nhưng, tục tĩu, kệnh cỡm và diễn ra công khai trước mặt chính quyền sở tại như đám tang nói trên ở P.13, quận Tân Bình quả thật “bó tay”.
  • Bài, ảnh: Linh Phạm
  • Vietnamnet

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Siêu dự án và cái bẫy nợ nần



 TS Nguyễn Quang A


Đi vay để đầu tư là tốt, song nếu không khéo có thể rơi vào cái bẫy nợ nần. Chúng ta còn có quá nhiều các đại dự án dự kiến thực hiện trong 10-15 năm tới. Đã có ai thử cộng tổng dự toán của tất cả các đề án đó chưa? Và lấy đâu ra tiền để làm?
LTS: Tại kỳ họp này Quốc hội sẽ thảo luận và biểu quyết thông qua một số vấn đề trọng điểm quốc gia. Để có cái bấm nút chuẩn xác là cả một nỗi lo lắng lớn về sự đúng – sai. Điều đó đòi hỏi các vị đại biểu Quốc hội phải có đủ thông tin và lý lẽ để phân tích cho thấu đáo. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu một góc nhìn riêng của TS Nguyễn Quang A qua bài viết với tựa đề: Siêu dự án và cái bẫy nợ nần để mọi người cùng tham khảo.
Quốc hội đang thảo luận về chủ trương xây dựng các nhà máy điện hạt nhân. (Tôi chưa gọi là đề án, bởi vì có lẽ chỉ sau khi Quốc hội thông qua chủ trương thì mới thực sự bắt tay vào làm đề án). Các tài liệu chuẩn bị trong thời gian qua và được trình ra Quốc hội có lẽ mới là nghiên cứu tiền khả thi. Chính vì thế vẫn còn thời gian để góp ý, để xây dựng và chỉnh sửa đề án một cách liên tục.
Điều mà GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia đầu đàn về điện hạt nhân, một trong số ít người được tiếp cận đến tài liệu nghiên cứu khoảng ngàn trang, bản cô đọng vài trăm trang và bản tóm tắt vài chục trang lo ngại là có lẽ các đại biểu Quốc hội có trong tay bản cô đọng và các dữ liệu (chẳng hạn dự báo nhu cầu về điện) của các bản này cũng được “cập nhật” liên tục theo các phiên bản báo cáo. Và với tâm lý thông thường của người soạn thảo cần nhấn mạnh thông tin có lợi cho mình, các ĐBQH có thể được nhận thông tin không đầy đủ và hầu như chỉ nhấn mạnh các thông tin làm cơ sở cho sự ủng hộ.
Tôi chia sẻ các ý kiến của GS Phạm Duy Hiển, cựu Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt, trong các bài viết của ông về xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam.
Mới đây, TS Phùng Liên Đoàn, một cựu nhân viên Viện hạt nhân Đà Lạt, một nhà khoa học, một chuyên gia có uy tín, có rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn về hạt nhân và điện hạt nhân ở Mỹ cũng cảnh báo 15 rủi ro liên quan đến các nhà máy hạt nhân, mà tôi cho rằng, các ĐBQH, những người ra quyết định cũng cần lưu tâm.
Chia sẻ với những trăn trở của 2 chuyên gia hàng đầu về hạt nhân và điện hạt nhân, tôi muốn gợi ý để suy ngẫm về rủi ro nợ nần mà các các siêu đề án của nhà nước có thể tạo ra.
Sơ bộ, dự kiến và… thực tế
Theo Bộ trưởng Bộ Công thương, tổng mức đầu tư sơ bộ được dự kiến theo 3 phương án tính toán dựa trên các suất đầu tư 2600, 2800 và 3000 USD/KW công suất. Tương ứng (với công suất dự kiến 4.000MW), thì các mức đầu tư khoảng 10,4 tỷ USD, 11,2 tỷ USD và 12 tỷ USD. Dự kiến, 75% nguồn vốn xây dựng là vốn vay nước ngoài.
Hãy lưu ý các từ “sơ bộ” và “dự kiến” đối với các con số trên. Thông tin của những người trình đề án luôn có thiên hướng nêu nhiều cái hay, cái thuận lợi, có cái dở nhưng đều trong “tầm kiểm soát” và trong “giới hạn cho phép”. Đấy là một hiện tượng không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà ít nhiều cũng có ở các nơi khác. Cũng vậy những người phản biện thường nêu ra các khuyết tật, thiếu sót và đôi khi cũng cường điệu không kém các nhà ủng hộ. Vấn đề chỉ là ở mức độ khách quan, không có khách quan tuyệt đối, luôn luôn có thiên kiến. Đấy là chuyện thiên kiến con người mà những người ra quyết định cần lưu ý khi xem xét các ý kiến ủng hộ và ý kiến phản biện.

thicong-dgHCM.jpg
Chỉ riêng giai đoạn 1, dự án đường Hồ Chí Minh thực tế đã chi gần 3 lần so với dự toán ban đầu. Ảnh cienco5.vn

Chúng ta không ai ngạc nhiên khi con số “sơ bộ”, “dự kiến” khác xa con số thực hiện (có khi gấp rưỡi gấp đôi).
Thí dụ, Nhà máy lọc dầu Dung Quất (Theo Quyết định đầu tư số 514/TTg ngày 10/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ) ban đầu dự trù tổng mức đầu tư là 1,5 tỷ USD, thực hiện 1997-2001. Đến cuối năm 2009 mới có thể bàn giao và tổng mức đầu tư thực hiện là 3,054 tỷ USD (gấp 2 so với ban đầu).
Dự án đường Hồ Chí Minh ban đầu dự toán 5.300 tỉ đồng (giai đoạn 1: 2000-2005), đến cuối 2004 Quốc hội điều chỉnh lên 15.468 tỉ (gần 3 lần dự toán ban đầu); đó là chưa nói đến giai đoạn 2 với dự trù kinh phí 18.168 tỉ đồng.
Đấy là các số liệu lấy từ báo chí, tôi chưa có các số liệu của các dự án khác, nhưng tình hình chắc cũng tương tự. Đã có nghiên cứu nào tổng kết đầy đủ các dự án lớn (điện, giao thông, cảng, các nhà máy lớn) do Nhà nước đầu tư chưa? Nếu có họ rút ra những bài học gì? Nếu chưa, rất nên có 1 đề tài nghiên cứu như vậy.
Tất nhiên kinh phí tăng do dự án mở rộng, do giá cả biến động, do công nghệ thay đổi và vì 1001 lý do “rất thuyết phục” khác nữa. Đây là căn bệnh khát đầu tư cũng như các thủ thuật rất quen thuộc của các nhà đầu tư trong hệ thống xã hội chủ nghĩa mà các học giả đã đúc kết trong các công trình kinh điển. Có ai làm những nghiên cứu như vậy ở Việt Nam, tính cả những thiệt hại do chậm tiến độ, và các thiệt hại cơ hội khác? Tôi tin là chưa.
Bẫy nợ nần
Ở đây chỉ muốn nói đến kinh phí dự trù ban đầu và kinh phí thực hiện, nên hãy quay lại vấn đề điện hạt nhân. Kinh phí dự kiến không phải quá lớn do người ta tính mua nhà máy thế hệ II cho rẻ.
Nếu vì an toàn của nhà máy thì suất đầu tư có thể lên đến 4.800-5.000 USD/KW và khi đó mức dự toán đầu tư sơ bộ có thể lên đến 19-20 tỷ USD.
Đó là chưa nói đến việc mở rộng lên 8.000 MW cho đến 2025, khi đó dự toán tổng đầu tư có thể lên đến 38-40 tỷ USD; tôi không dám tính đến con số phát sinh. Nếu lấy kinh nghiệm của Lọc đầu Dung Quất và Đường Hồ Chí Minh mà suy đoán với giá rẻ do Bộ Công thương đưa ra ban đầu thì tổng đầu tư có thể lên tới 30 đến 50 tỷ USD. Hãy tạm giả thiết con số 40 tỷ USD.
Hãy quay lại cái bẫy nợ nần. Nợ nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua ở cỡ 30-33% GDP (theo WB năm 2009 nợ nước ngoài của Việt Nam là 26,8 tỷ USD chiếm 30,2% GDP).
Nếu từ nay đến 2025 Việt Nam đạt mức tăng trưởng trung bình 7,2%/năm (ở mức này GDP tăng gấp đôi sau 10 năm), thì vào năm 2020 GDP bằng 2 lần GDP năm 2010 và năm 2025 gấp 2,805 lần của năm 2010 (tức là GDP vào cỡ 300 tỷ USD năm 2025).
Đi vay để đầu tư là tốt, song nếu không khéo có thể rơi vào cái bẫy nợ nần. Chúng ta còn có quá nhiều các dự án (metro Hồ Chí Minh, sân bay Long Thành, Cảng Container Văn Phong, đường cao tốc, đường sắt cao tốc, đề án tăng tốc phát triển Công nghệ thông tin Viễn thông,…) đều dự kiến thực hiện trong 10-15 năm tới. Đã có ai thử cộng tổng dự toán của tất cả các đề án đó chưa? Và lấy đâu ra tiền để làm?
[a f ="http://tuanvietnam.net/assets/images/DQuat.jpg" c ="Dự án lọc dầu Dung Quất cũng vượt kinh phí dự toán khoảng 2 lần." r ="420px" t ="ceter"]
Theo thông tin từ báo chí, tổng mức đầu tự dự án của metro Hồ Chí Minh giai đoạn đầu là 17.387,655 tỷ VNĐ tương đương 1 tỷ USD, trong đó nguồn vốn vay từ JBIC chiếm 83%. Dự án đường sắt cao tốc được dự trù là 33 tỷ USD (Liên hiệp đường sắt dự trù 56 tỷ USD). Đề án “tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về Công nghệ thông tin” có dự trù kinh phí gần 150 ngàn tỷ đồng (khoảng 8 tỷ USD) chủ yếu từ vốn ngân sách và vốn vay. …
Vốn của hầu hết các siêu dự án này đều nhắm vào tiền vay nước ngoài. Với tình hình như vậy, chưa tính đến dự án điện hạt nhân, thì nợ nước ngoài của Việt Nam cũng không thể dưới 30-33% GDP trong tương lai, nếu không phải là cao hơn nhiều (40-45%). Bây giờ tính thêm 75% vốn vay cho các nhà máy điện hạt nhân (hãy tính với 75% của 40 tỷ USD là 30 tỷ) thì riêng khoản vay nước ngoài (tính đến 2025) sẽ chiếm khoảng 10% GDP!
Và nếu những suy đoán ở trên là có căn cứ thì nợ nước ngoài của Việt Nam khi đó sẽ lên 40-45% GDP (mức khá cao và nếu lên 50-55% thì rất nguy hiểm). Đấy là một khía cạnh mà các nhà quyết định cần tính toán kỹ hơn và cân nhắc.
Nếu không tránh được các rủi ro mà TS Phùng Liên Đoàn và GS Phạm Duy Hiển nêu ra thì rất có thể dự án điện hạt nhân có khả năng góp phần đẩy Việt Nam vào cái bẫy nợ nần.
Cân nhắc các lựa chọn
Theo Bộ Công thương, nếu có được công suất 4.000 MW điện hạt nhân như dự kiến thì nó đóng góp được khoảng 8% nhu cầu khi đó.
Để đáp ứng được 8% này có thể có nhiều cách hiệu quả hơn, thí dụ tăng hiệu quả sử dụng, giảm tổn hao. Một cách là tăng giá điện lên đúng mức thị trường. Hiện chúng ta còn bao cấp giá điện và chính việc bao cấp này khiến cho việc sử dụng chưa hiệu quả (mà bài báo của GS Phạm Duy Hiển đã nêu).
Giả như mức đàn hồi giá của điện là 0,4 (các nghiên cứu của nước ngoài cho con số từ 0,2 đến 0,7) thì tăng giá 10% làm giảm cầu 4%, với mức tăng giá 20% (với mức tăng này có lẽ giá điện của Việt Nam vẫn thấp hơn của khu vực) là có thể bù cho đúng 8% nhu cầu mà 4.000MW điện hạt nhân dự kiến cung cấp. Đấy cũng có thể là một giải pháp cần cân nhắc.
Cần cân nhắc kỹ lưỡng các rủi ro, các chi phí và lợi ích cũng như các phương án khác nhau trước khi quyết định xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Rủi ro rơi vào bẫy nợ nần cũng là một trong nhiều yếu tố cần xem xét.
NQA

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Bauxite và… những điều trăn trở của một công dân




Vũ Ngọc Tiến
Sau khi bài viết “Bauxite Tây Nguyên đôi lời thưa lại” công bố, mỗi ngày tôi nhận được rất nhiều cuộc điện thoại hoặc Email gửi đến đến ủng hộ. Nhiều bạn bè trong giới chuyên môn địa chất, địa vật lý, khai khoáng, tuyển quặng… còn góp ý, bổ khuyết kiến thức cho tôi vì đã 19 năm tôi bỏ nghề đi viết văn, làm báo, không tránh khỏi vài sai sót. Lại có những bạn văn gọi đến nhắc nhở rằng, hình như văn phong tranh luận của VNT lần này quá dữ dội, không đúng với phong cách điềm đạm, lịch sự trước đây. Về điểm này, anh Nguyễn Trí Huân và Ban thư ký báo Văn nghệ nên hiểu tôi viết trong tâm thế phản ứng gay gắt thay cho cả một tập thể mấy ngàn trí thức, văn nghệ sĩ bị ông LTT xúc phạm. Lẽ ra tôi đã hồi âm, bày tỏ lòng biết ơn đến bạn đọc, nhưng vì muốn đợi bài phản hồi của ông LTT hay BBT báo Văn nghệ ở số báo 45 (7/11/2009). Sáng nay báo ra, không thấy hồi âm. Theo yêu cầu của bạn đọc, tôi tự trả lời những câu hỏi đặt ra lần trước cho ông LTT để bạn đọc hiểu sâu thêm bản chât vấn đề cần tranh luận.
Bức tranh toàn cảnh về tài nguyên đất nước

Trước khi tự trả lời những câu hỏi về Bauxite, tôi thấy cần phác qua vài nét về tài nguyên khoáng sản nước nhà. Theo hiểu biết của tôi, trên bản đồ sinh khoáng thế giới, Việt Nam nằm ở nơi giao nhau giữa vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và vành đai sinh khoáng Địa Trung Hải. Vì vậy khoáng sản nước ta phong phú, đa dạng về chủng loại, nhưng đa phần là mỏ nhỏ, đặc biệt nhỏ là vàng và kim loại màu thuộc tổ hợp sulfua đa kim. Từ ngày đổi mới, các mỏ nhỏ được giao cho địa phương quản lý đã xảy ra tình trạng hỗn loạn trong khai thác vàng, gây tổn thất tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tội phạm hoành hành. Với các mỏ nhỏ thuộc nhóm sulfua đa kim hoặc Titan ven biển cũng vậy, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc đang ồ ạt khai thác, bán quặng thô chủ yếu cho Trung Quốc. Đã đến lúc Chính phủ cần xiết chặt quản lý, có kế hoạch dừng khai thác một số mỏ quặng kim loại màu quan trọng, làm của để dành cho đời sau.

Có 4 loại mỏ lớn, giá trị kinh tế cao, được thế giới quan tâm thì tình hình không mấy khả quan: Các mỏ Bauxite tôi sẽ nói kỹ ở phần sau. Dầu khí ở thềm lục địa phía Nam triển vọng không lớn như hồi đầu mới giải phóng miền Nam có người ảo tưởng ví những mỏ dầu lớn của thế giới so với thềm lục địa Nam Việt Nam chỉ như “con tem dán trên lưng con voi”! Thực tế ta mới chỉ khai thác chủ yếu ở mỏ Bạch Hổ, chiếm 70% sản lượng cả nước và đang có dấu hiệu cạn kiệt. Các mỏ dầu khác trữ lượng còn đang phải tiếp tục nghiên cứu, khai thác cầm chừng mà thôi. Sau dầu khí, than là lĩnh vực khai thác mỏ có tầm quan trọng với quốc kế dân sinh, nhưng vùng than Quảng Ninh đang có dấu hiệu suy kiệt. Các mỏ than khai thác lộ thiên như Đèo Nai, Cao Sơn, Cọc Sáu mới thực sự có lãi, chiếm phần lớn sản lượng khai thác hàng năm thì đang xuống quá sâu dưới mực nước biển nên lợi nhuận giảm, môi trường bị tác động nghiêm trọng. Các mỏ khai thác hầm lò từ Mạo Khê, Uông Bí đến Mông Dương đa phần là lỗ, công nghệ cực kỳ lạc hậu, tai nạn lao động xảy ra thường xuyên. Gần đây rộ lên vấn đề khai thác than nâu ở đồng bằng sông Hồng, với trữ lượng 210 tỷ tấn. Ngoại trừ những quan ngại về môi trường ra, con số 210 tỷ tấn còn là dấu hỏi lớn về độ tin cậy (?!). Trong các năm 1985 – 1987, tôi là chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu liên kết các vỉa than nâu đồng bằng sông Hồng” do tôi đề xuất từ việc nghiên cứu bức tranh sóng phản xạ nhiều lần khi ta thăm dò địa chấn dầu khí nên hiểu rất rõ vấn đề này, hẹn một dịp khác sẽ trình bày kỹ hơn. Cuối cùng là các mỏ sắt, có thể chia hai loại quặng Li-mô-nit và Ma-nhê-tit. Quặng Li-mô-nit chủ yếu là mỏ nhỏ, nhưng công nghệ luyện kim đơn giản nên dùng cung cấp cho khu gang thép Thái Nguyên trước đây là phù hợp với quy mô nhà máy và trình độ công nghệ nước ta. Giờ đây, Tập đoàn Thép chỉ ham nhập phôi thép về chế biến kiếm lời nhanh, thả nổi các mỏ quặng Li-mô-nit cho tư nhân khai thác bừa bãi, bán sang Trung Quốc. Quặng Ma-nhê-tit ta có hai mỏ lớn ở Hà Tĩnh và Cao Bằng, nhưng đòi hỏi công nghệ luyện kim tiên tiến, hiện đang có dự án liên doanh với nước ngoài ở Thạch Khê (Hà Tĩnh) vẫn còn nhiều điều phải quan ngại, còn mỏ Nà Dụa (Cao Bằng) nên chăng cũng giữ lại làm của để dành cho thế hệ mai sau?
Bức tranh toàn cảnh về tài nguyên đất nước là như vậy. Xét trong cơ cấu sản phẩm quốc nội, theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007, ngành khai thác mỏ (khoáng sản rắn) chỉ chiếm 4,9%, ngành công nghiệp chế biến (dệt may, da giày, hải sản, café, hồ tiêu…) chiếm 24,5%, dầu khí và các ngành kinh tế khác (xây dựng, giao thông, du lịch, dịch vụ…) chiếm 70,6%. Điều này chứng minh rằng, dù ta giảm sản lượng khai thác than và ngừng khai thác một số mỏ kim loại màu quan trọng sẽ không ảnh hưởng gì đến tốc độ tăng trưởng GDP, nếu ta giữ được sản lượng khai thác dầu khí và tập trung nguồn lực phát triển mạnh công nghệ chế biến, du lịch. Đến đây đã hé lộ một định hướng phát triển kinh tế Tây Nguyên không cần đến Bauxite mà tôi sẽ lần lượt tự trả lời các câu hỏi đã đặt ra cho ông LTT vì hợp tác với Trung Quốc khai thác Bauxite lợi bất cập hại.
Đánh giá thế nào về công nghệ Bauxite của Trung Quốc?
Gần đây, trên mạng bauxitevn.net công bố bài viết “ABC về khai thác Bauxite và sản xuất alumin” của Đinh Xuân Hùng (xem đây). Tác giả có lẽ là một chuyên gia sâu trong nghề, đã có thiện ý cung cấp cho bạn đọc kiến thức sơ đẳng về Bauxite và sơ đồ nguyên lý công nghệ Bayer. Đó là những thông tin quý, sách nào cũng viết thế, nhưng tôi thiết nghĩ mỗi quốc gia hay mỗi tập đoàn nhôm đều có bí quyết riêng ứng xử với quy trình Bayer và đó mới đích thực là công nghệ của họ.
Nhiều chuyên gia trong nước cho rằng Trung Quốc không có công nghệ nguồn, phải nhập công nghệ của nước ngoài nên đang lạc hậu, chỉ xếp vào công nghệ hạng hai trên thế giới về lĩnh vực nhôm. Nghe nói vừa qua ta tổ chức một đoàn cán bộ cao cấp đi tham khảo kinh nghiệm ở Brazil, có quặng Bauxite cùng loại như ở Tây Nguyên. Chính các thành viên trong đoàn đã có dịp mắt thấy tai nghe và phát hiện ra có rất nhiều bí quyết công nghệ mà chúng ta chưa biết hoặc không nghĩ tới. Công nghệ Trung Quốc mang sang ta lộ rõ nhược điểm tiêu hao vật tư, năng lượng lớn nên chi phí sản xuất cao hơn Brazil (?!). Hơn nữa, tổn hao tài nguyên trong dây chuyền của họ rất lớn. Theo tính toán của TS Nguyễn Thanh Sơn thì tổn hao sau tuyển rửa là 37%, còn nếu tính cả khâu tuyển tinh là cỡ 50%. Họ đang cho đóng cửa hàng trăm nhà máy sản xuất alumin, phải chăng một phần vì ô nhiễm môi trường, một phần khác vì họ muốn đổi mới công nghệ nên mang đống thiết bị cũ tân trang lại rồi chở sang ta? Bài học về nhập thiết bị xi măng lò đứng vào những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước chẳng đã cho ta nếm mùi cay đắng, thất bại ê chề đó sao?
Vì sao Võ Đại tướng nhắc lại lời khuyên của khối SEV?
Sau chiến tranh, ta nợ đầm đìa khối SEV, suốt 10 năm liền chỉ có thế xuất sang họ nông sản, khoáng sản, đồ thủ công mỹ nghệ để trừ nợ dần. Nếu khai thác Bauxite Tây Nguyên có lãi lớn thì Liên Xô hoặc Hung-ga-ri đã nhảy vào ngay rồi, đâu có đến lượt người Trung Quốc! Lý do khối SEV đưa ra là rất thuyết phục vì hai lẽ:
Thứ nhất, quặng Bauxite Tây Nguyên chất lượng thấp, phải qua tuyển rửa hay còn gọi là tuyển thô, trước khi đưa vào tuyển tinh theo quy trình Bayer nên hao tốn nguồn nước vốn đã khan hiếm ở Tây Nguyên và ô nhiễm môi trường vì thành phần xút (NaOH) tồn dư trong bùn đỏ.
Thứ hai, quặng nằm xa bờ biển nên phí vận chuyển đội giá thành lên cao, không có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Vấn đề phí vận chuyển đã quá rõ, tôi không phân tích thêm. Ở đây có vấn đề tế nhị về chất lượng quặng. Bạn bè trong giới chuyên môn nói rằng tôi đã sai khi đưa ra hàm lượng alumin trong quặng chỉ đạt 9-11% theo lời ông chuyên gia họ Lỗ người Trung Quốc. Thật ra tôi biết rất rõ hàm lượng TKV công bố là 35-39%. Tôi còn biết TKV đã mời Tập đoàn Alcoa của Úc sang Việt Nam lấy mẫu của mỏ Gia Nghĩa về phân tích tại phòng thí nghiệm của họ, kết quả đạt 40,3%. Tôi không tin người Trung Quốc vì có thể họ tung hỏa mù về hàm lượng là có ý đồ sâu xa. Song tôi cũng hồ nghi kết quả phân tích của TKV vì nhiều lý do. Bauxite Tây Nguyên có nguồn gốc phong hóa, thuộc thành tạo La-tê-rit, tuổi Kai-nô-zôi – Nhân sinh, do đó trong cùng một thân quặng, nhưng hàm lượng thay đổi vô cùng phức tạp theo bình diện và theo chiều sâu. Việc lấy mẫu phải đảm bảo phân bố đều theo không gian 3 chiều, mật độ đủ dày, số lượng đủ lớn để đáp ứng yêu cầu của bài toán xác suất và độ dung sai phải nhỏ hơn hoặc bằng 3 lần độ lệch quân phương. Đó là quy tắc “3 xích-ma” phổ biến trong xử lý số liệu ngành địa chất và khai khoáng. Tôi có những lý do để chưa yên tâm TKV làm được như vậy. Còn kết quả phân tích của Tập đoàn Alcoa cũng đáng nghi ngờ bởi ta mất công mời họ sang Việt Nam lấy mẫu, sao không bố trí cho họ đi mỏ Gia Nghĩa, trực tiếp lấy mẫu tại thực địa theo quy trình nghiêm ngặt của họ? TKV chỉ đưa họ vào đoàn địa chất 5 ở Quy Nhơn nhận mẫu trong kho, liệu có khách quan, trung thực hay đã cố tình tập trung các mẫu chất lượng tốt nhất rồi cho họ chọn lấy lệ? Với mối hoài nghi đó, tôi đưa ra hàm lượng như lời ông Lỗ để thăm dò phản ứng của TKV và cảnh tỉnh dư luận. Cần nhấn mạnh, vấn đề hàm lượng quặng vô cùng quan trọng, nếu sai số lớn thì mọi thông số kỹ thuật và kinh tế trong luận chứng trở thành vô nghĩa. Từ thực tế trên, tôi càng kính phục Võ Đại tướng, ủng hộ quan điểm của khối SEV, chưa nên khai thác Bauxite, tận dụng thế mạnh của Tây Nguyên là đất đỏ Bazal để tập trung phát triển cây cao su, chè, café, điều… là hợp lý nhất. Hãy để dành Bauxite Tây Nguyên cho đời sau. Khoáng sản là thứ tài nguyên chỉ vơi cạn đi chứ không tái tạo được. Dân gian có câu: “Cơm không ăn thì gạo còn đó”!…
Sao không thí nghiệm lập nhà máy ở Lạng Sơn hay Cao Bằng?
Tôi đồng ý với các nhà chuyên môn ở TKV rằng, quặng Bauxite ở Lạng Sơn, Cao Bằng thuộc dạng diaspore nên trong quá trình tinh luyện đòi hỏi nhiệt độ cao (tới 250 độ C), tiêu tốn năng lượng hơn khi tinh luyện quặng thuộc dạng gibbsite ở Tây Nguyên. Nhưng nhược điểm này lại được bù đắp bởi nhiều nhân tố thuận lợi khác. Theo lời chuyên gia Hung-ga-ri nói với tôi, Bauxite ở đây có hàm lượng alumin khá cao, ít sét, môdul silic (Al2O3/Silic) đủ cho phép đưa thẳng quặng vào tinh tuyển alumin, không cần qua giai đoạn tuyển rửa nên giảm thiểu được ô nhiễm môi trường do bùn đỏ gây ra. Hung-ga-ri có ngành công nghệ luyện nhôm lâu đời hàng trăm năm, có công nghệ nguồn khá tiên tiến, hơn hẳn Trung Quốc phải nhập công nghệ của nước ngoài. Từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, họ đã giúp đoàn địa chất 49 thăm dò tỉ mỉ các mỏ ở Lạng Sơn, Cao Bằng. Quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Âu thuộc khối SEV cũ đang có nhiều triển vọng tốt đẹp. Nếu ta thật lòng muốn gây dựng nền móng cho ngành công nghiệp luyện nhôm sau này của đất nước thì theo tôi, tốt nhất hãy hợp tác với Hung-ga-ri lập một nhà máy công suất 300-500 ngàn tấn/năm. Trong chiến lược phát triển, nhu cầu nhôm cho công nghiệp và tiêu dùng ở ta không lớn, muốn xuất khẩu e trình độ của ta chưa đủ tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh. Vì vậy, với sản lượng trên và với trữ lượng 91 triệu tấn ở Cao Bằng, Lạng Sơn đủ cho ta duy trì nhà máy 70-100 năm. Khi ấy tiềm lực về kinh tế và công nghệ của đất nước đã mạnh lên, con cháu ta đã có kinh nghiệm, muốn quay lại Tây Nguyên khai thác Bauxite vẫn chưa muộn và hãy tin rằng lúc đó con cháu ta đủ sức cạnh tranh ngang ngửa với các đại gia ngành luyện nhôm trên thế giới, “con hơn cha là nhà có phúc” là thế…
Công nghệ Trung Quốc có an toàn môi trường cho Tây Nguyên?
Tôi xin trả lời ngay rằng KHÔNG! Bùn đỏ sau tuyển rửa là vấn đề dư luận quan tâm, lo ngại. Xử lý vấn đề này có hai “công nghệ khô” và “công nghệ ướt”, là hai công nghệ có quy trình hóa lý rất khác nhau, tôi không tiện trình bày dài dòng ở đây. Chỉ biết khái niệm ướt ở đây gắn với NaOH chứ không gắn với nước thông thường nên ông LTT biện hộ cho TKV bằng chu trình hoàn lưu nước khi tuyển rửa là chuyện nực cười! Bãi thải bùn đỏ theo “công nghệ khô” rất khó bị mưa lũ cuốn trôi, ít có nguy cơ bị vỡ đập và bản thân ít độc hại. Bãi thải bùn đỏ theo “công nghệ ướt” dễ bị mưa lũ cuốn trôi kể cả khi đã tháo khô, tiềm ẩn khả năng vỡ đập rất lớn vì phải chịu áp lực thủy tĩnh và bản thân rất độc hại, nhất là khi nó chưa được tháo khô. Trung Quốc không đủ trình độ áp dụng “công nghệ khô”, đưa vào Tây nguyên “công nghệ ướt” là rất đáng lo ngại về hiểm họa môi trường.
Hoàn vốn đầu tư sau 10 năm có là bánh vẽ?
Chẳng hiểu TKV báo cáo lên Chính phủ và Quốc hội đã phù phép thế nào mà Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải gần đây yên tâm tuyên bố, khi đi vào họat động, lãi ròng ở nhà máy Tân Rai là 12,45%/năm, còn ở Nhân Cơ là 10,59%/năm. Có lẽ vì thế mới xuất hiện khái niệm “10 năm hoàn vốn”, chứ không còn khái niệm “5 ăn 5 thua” như ông cựu Chủ tịch TKV từng tuyên bố trước đây. Thật ra, khi tổng hợp các thông số từ TKV, kết hợp với cập nhật thông tin thị trường và thông tin từ các cơ sở sản xuất alumin trên thế giới, các chuyên gia trong nước, chuyên gia người Việt ở hải ngoại đều tính toán trùng hợp ra hai khả năng: một là nếu công nghệ Trung Quốc khá tốt sẽ lãi 6 USD/tấn, hai là công nghệ Trung Quốc tồi sẽ lỗ 64 USD/tấn (?!). Bài toán kinh tế này khá phức tạp, nếu trình bày kỹ phải hết vài trang, ở đây tôi chỉ nêu kết quả cuối cùng. Hiệu quả kinh tế của dự án có là bánh vẽ hay không tự người trong cuộc rút ra kết luận.
Triển vọng hợp tác với Căm-pu-chia hay cái bẫy của Trung Quốc?
Trung Quốc đã mua đứt 99 năm một phần lãnh thổ Căm-pu-chia có quặng Bauxite, tiếp giáp với tỉnh Đăk Nông là một sự thật. Con đường sắt nối Lâm Đồng xuống Bình Thuận ra cảng Kê Gà còn ở thì tương lai xa vời, chưa kể vốn đầu tư lớn và hiệu suất sử dụng thấp cũng là sự thật hiển nhiên. Một số chuyên gia lo ngại vì TKV chủ động hạ thấp tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm alumin để tạo điều kiện cho Trung Quốc dễ dàng thắng thầu giá rẻ bằng công nghệ lạc hậu liệu có là sự thật thứ ba? Ở đây cần nói rõ thêm về độ vênh giữa con số 83,6% của tôi và 98,6% của TS Nguyễn Thanh Sơn. Trong trường hợp này có lẽ tôi sai vì khi nói chuyện với 2 ông bạn Trung Quốc người Liêu Ninh thì ông Lỗ nói tiếng phổ thông rất chuẩn nên tôi nghe rõ hàm lượng quặng, còn ông Vương nói tiếng phổ thông rất nặng, tôi chỉ nghe rõ được mấy âm tiết cuối cùng là phẩy sáu (tẻn liêu), các âm tiết ở trên không tách biệt được là 83 (pa sứ san) hay 98 (chiểu sứ pa). Vì vậy, tôi thừa nhận con số 98,6% về chỉ tiêu sản phẩm, đồng thời cám ơn TS Nguyễn Thanh Sơn và thành thật xin lỗi bạn đọc. Song vẫn còn một sự thật nữa là 1,2% tạp chất còn lại trong sản phẩm alumin kia thành phần vô cùng phức tạp, quyết định khả năng tiêu thụ và giá bán trên các thị trường thì thỏa thuận giữa TKV với Trung Quốc lại rất mập mờ. Tất cả những sự thật phơi bày ra như tôi vừa nêu, sẽ dồn ta vào thế bí chỉ có thể bán sản phẩm cho Trung Quốc qua con đường Căm-pu-chia. Họ cho ta giá nào được giá đó và khi họ trở mặt thì ta chỉ còn nước đắp chiếu dây chuyền và sản phẩm! Đây phải chăng là cái bẫy, dưới vỏ bọc ngọt ngào “hợp tác quốc tế với nước bạn Căm-pu-chia” mà ông LTT hết lời ca tụng?!…
Lời kết
Vấn đề Bauxite có viết cả trăm trang vẫn không hết. Tôi cố gắng viết sao cho ôn hòa, cô đọng, dễ hiểu nhất để bạn văn và độc giả cả nước đồng cảm với những người phản biện. Bài viết đồng thời gửi đến 2 trang Web đường hoàng, chính trực của giới trí thức (www.bauxitevn.info & www.viet-studies.info ) mà tôi tin tưởng, gửi đăng bài kỳ trước và cũng gửi đến báo Văn nghệ với hy vọng theo thông lệ của nghề báo và tinh thần cầu thị, quý báo sẽ đăng toàn văn trong số 46 (14/11/2009) sắp tới. Là người trong văn giới, các anh chị có nhớ câu thơ của Vích-to Huy-gô, khi ông bị lưu đày ngoài đảo: “Ôi, nhân dân tôi sẽ không mãi bị lừa mỵ, khi mắt của người đăm đăm, ngẩng đầu trên mũi đá linh thiêng và suy nghĩ đợi giờ nổi sóng triều dâng…”
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn bạn đọc xa gần, nhất là các chuyên gia đã cung cấp tư liệu, bổ khuyết thiếu hụt về kiến thức cho tôi hoàn thành bài viết này!
Hà Nội 6/11/2009
VNT
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Bác Son




Chẳng biết lúc trẻ bác làm gì. Chỉ nhớ khi gặp bác lần đầu thì thấy bác ngồi bơm xe xó đường. Thời buổi đồng tiền khó kiếm, nhà nào cũng sắm sẵn cái bơm, nên bác ngồi bơm xe mà mặt dài như cái bơm vì không có việc, cho dù tên bác là Son có nghĩa là vận may. May cái gì, lúc có người dắt cái xe bẹp lốp đến là để vá thì bác lại chưa có đồ nghề vá xăm!

 
    Đói xanh rờn trên mảnh đất cạnh đường quốc lộ chỉ có thể là chuyện ngu ngốc. Tôi bảo bác, đất rộng chỉ vơ vất có mấy cây xoan, ngoài vài bụi mùng tơi lớt nhớt, còn lại thì cỏ mọc rậm rì, hay là bán đi một phần vườn lấy ít tiền làm nhà rồi mua hẳn bộ đồ nghiêm chỉnh mở hiệu chữa xe thì mới kiếm được, chứ phọt phẹt cái bơm mài đít xuống cát sỏi thế này thì khi nào bác mới ngáp được con ruồi? Nghe tôi, bác dụt dè thử bán đi cái thẹo đất nhỏ cuối vườn thế mà không ngờ mó được cả đống tiền. Bác kêu lên: Ồ, hóa ra tiền ở ngay trong đất mà mình không biết. Bác hể hả bảo tôi: kể ra ra kiếm tiền cũng không khó, mà bán đất là dễ nhất, lại cũng nhanh nhất chú ơi, thế mà không bảo anh sớm.

 
   Từ hôm ấy bác khoe vung với mọi người là đã biết cách làm kinh tế như thế nào rồi. Cách kiếm tiên của bác vừa nhàn vừa nhanh, chỉ đá cái thẹo nhỏ dăm chục mét thôi mà bằng cả nửa thế kỉ bơm xe, khó gì đâu!

 
   Tưởng bán được tiền thì vợ con nở mày nở mặt. Nào ngờ khi có tiền bác mắc bệnh huyếnh. Đi đâu mặt bác cũng vác lên hất hất, cái mồm bành ra quay sang phải, sang trái khoe mẽ. Từ chỗ ru rú ở xó nhà bây giờ bác đi khắp nơi mọi chốn. Trời lụt đầm đìa, nhà ngập tới mái, bác vẫn cứ lên xe đi chơi tỉnh xa, mặc cho vợ con ông bà ở nhà dầm nước.


 
   Bác ôm tiền bán đất tiêu pha như tiền như của riêng bác, chỉ đưa vợ mấy cắc lẻ. Ông bà vợ con vẫn núp trong cái nửa túp nửa nhà, cơm cà rau rệu, bác chẳng cần biết. Bác đang tự huyễn hoặc bác là người làm kinh tế giỏi. Bác có những chủ trương lớn.

 
   Mấy cây xoan lão niên trong vườn bố bác trồng bảo để sau này cho thằng con làm cột nhà. Khi này bố già, bác lên làm chủ, thấy soan bán được giá, thế là cưa gốc bán luôn chẳng cần hỏi ai. Lão lang ê bạn hàng xóm lại mò sang tìm mua rễ xoan, bảo đem về để làm thuốc (có dễ là thuốc độc). Chỉ đào gốc mấy cây xoan đã chặt mà bán cũng được kha khá. Hóa ra trên đất nhà bác, mọi thứ đều là vàng. Nên những lão xoan cụ chưa có ai hỏi mua bác cũng cho bới lấy rễ bán trước cho lang ê. Vườn tược ngổn ngang, bố mẹ cằn nhằn, vợ kêu con khóc như ri, bảo bác là thằng điên, bác chỉ cười khẩy: Ông bà già rồi, còn đàn bà thì biết cứt gì. Lời kêu la của con cái thì bác chẳng bao giờ để vào tai.

 
  Cái vườn hoang của nhà bác thế là thành bãi chiến trường, giống như một trọng điểm trên đường Trường Sơn thời đánh Mĩ, loang lổ các hố sâu hoắm, òm õm nước. Nhưng bác Son không biết điều ấy nên bác không buồn. Người ta khi trong túi rủng rỉnh tiền thì nhìn mưa thành nắng, nhìn đá hóa vàng, chuyện buồn thành vui, nhìn điếm thành vợ, Nhìn thằng đểu thành đứa tốt, chuyện rủi thành may, nghe chửi lại nghĩ là lời khen, thì cũng chẳng phải chuyện lạ. Bác luôn ở trạng thái lâng lâng như thằng phê thuốc. Đi đâu thì thôi, về nhà là bác rung đùi pha trà, mặt hất hất đắc ý, lại bành cái mồm ra. Để nuôi cái đắc ý ấy, bác xẻ dần miếng đất vườn, mỗi ngày một tí, mỗi năm một ít. Mỗi lần có tiền, bác ngồi dỡ tiền đếm rất to. Mỗi âm thanh bác nhả ra như sét đánh: tỉ! tỉ! tỉ! ỉ ỉ ỉ ỉ ỉ ...Chẳng bao lâu bác mắc bệnh ù tai và rồi dần điếc đặc. Điếc, chỉ vì hai vành tai quá gần miệng bác, nó phải hứng tất cả niềm vui và nỗi buồn của bác mỗi khi bác khạc ra. Đã từ lâu ông bà bó tay, vợ con không còn gần bác nữa.  Rau cháo họ đã tự lo. Mỗi khi buồn, bác thì thụt sang hàng xóm phê pha  với mấy anh giàu.


Đám ấy có những thằng cự phú phất lên từ lưu manh, có thằng xuất thân từ lục lâm thảo khấu, nên giàu có lắm mà lưu manh cũng chưa dứt nọc. Hóa ra lưu manh chúng có nòi. Mỗi lần bên đông tây nam bắc xây tường sửa rào chúng đều tìm cách lấn sang đất nhà bác, khi nửa viên gạch, khi thì cả viên. Khi trước có đầy đủ ông bà vợ con bên cạnh thì bác không hãi  lắm. Chẳng gì ông bà cũng dạy rồi, vợ con đã cảnh báo bác rồi,  bảo phải cẩn thận với cái đám giòi bọ ấy. Nhưng rồi dần nghe chúng ngọt nhạt, bác không nghe ông bà, không nghe vợ con nữa, cứ tự cho là mình khôn ngoan: “Tao có cách của tao!”.

Bác thanh minh đó là cách ứng xử nhân ái tuân theo lối cổ ngày xưa: tránh voi chẳng xấu mặt nào. Thiên hạ thì không nói thế, thiên hạ lại bảo bác là thằng “ già dái non hột”, ngu! Biết chuyện bác vẫn mặc, bảo ông bà lú lẫn, vợ con nhiễm máu đa nghi ở đâu, thiên hạ chọc gậy bánh xe, biết đếch gì nào. Bác vẫn cứ làm theo ý bác.
 
   Bây giờ thì ông bà vợ con xa cách rồi, mỗi lần thiếu gì thì bác cầu hàng xóm giúp đỡ. Mỗi lần giúp là một lần nó lấn sang một tí theo chính sách học được của đế quốc: củ cà rốt và cây gậy. Bác biến thành thằng lu tí mẹt từ lúc nào không hay. Năm tháng trôi qua, miếng đất  cha bác để lại thênh thang, thì bây giờ tươm tả. Mấy thằng cự phú, mỗi thằng thiến một mảnh, trong đó lão lang ê hàng xóm cũng kiếm một khoảnh kha khá với những lời ngon ngọt dự án. Chúng mua bòn với giá rẻ hều, rồi cắm các dự án lên mảnh đất nhà bác tính chuyện lâu dài. Bao nhiêu năm rồi mà căn nhà xiêu vẹo của nhà bác vẫn chẳng thay đổi được bao nhiêu.

 
  Thế mà bác vẫn chưa biết. Đi đâu chuyện trò hàm bác vẫn hất hất, miệng vẫn
bèm ra, rất tươi: Làm kinh tế khó đếch gi!
Chẳng biết bao giờ bác mới tỉnh để vợ con được nhờ. Khốn nạn cho nhà bác.

nguồn: http://dongngandoduc.multiply.com/

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009

Con cóc là cậu ông Giời



1* Truyện con cóc là cậu ông Giời chứa đựng hàm của người xưa ca ngợi tầng lớp thấp nhất trong xã hội là nơi tụ khí của Nhân Nghĩa. Con cóc là giống thấp cổ bé họng nhất mà còn không chịu nổi bất công do ông Giời gây ra, nên nó đã khởi xướng kêu gọi tất cả các loài vật đã vùng lên. Sau trận hỗn chiến, Giời không thắng nổi đội quân cóc, đã phải nhận cóc là cậu cho yên chuyện. Cậu là chỗ người trong nhà chả nhẽ lại cứ gây chuyện mãi.
Truyện cổ tích này có nhiều chuyện để ngẫm.
Tại sao hạn nặng, muôn lòai đang chờ chết mà các con vật có sức mạnh như hổ báo gấu voi, hoặc linh hoạt như loài kiến ong, rắn, rết...lại không con nào đi phát động cuộc chiến chống lại nhà Giời mà lại là con cóc. Đơn giản là các loài trên chưa hẳn đã bị đẩy vào chỗ chết, còn có thứ để mất. Hoặc là ham ăn, ham sống cho riêng mình mà chưa thấy nguy cơ. Còn chú cóc thì chẳng có... cái cóc gì. Chú chỉ còn mỗi cách tập hợp mọi con vật khác cùng vùng lên. Đó là sức mạnh của kẻ cầm đầu.
Kết cục cái danh vị Cậu ông Giời được ban ra cốt để nhà Giời thoát hiểm, chứ cóc thì vẫn là cóc. Câu chuyện này là lời nhắc nhở với kẻ bề trên nên biết cách ứng xử bị khi lâm vào thế đổ vỡ một cơ hội cuối cùng.


2* Cậu ông Giời là người thân ở bên cạnh ông Giời. Dù chỉ là chuyện hão thì vẫn được thiên hạ nể vì.
Cóc xấu xí trong cổ tích ngày xưa được áp vào hạng dân đen, nhưng ngày nay thì không hẳn thế. Ngày nay cóc khác lắm, dân đen không dễ gì làm được cóc. Cóc bây giờ ở đẳng cấp khác và có rất nhiều loại, từ cóc cụ cóc kẹ đến các loại cóc nhái trong khắp các tầng lớp. Lại cũng có rất nhiều ông Giời ở mọi vị trí từ cao đến thấp
Ngày nay những chuyện ỷ thế là người nhà của ông Giời hoặc vin cớ ông Giời là người thân quen để làm càn, hoặc đem ông Giời nọ bà Giời kia ra để giải cứu thân mình trong những cơn nguy biến thì đám ấy chẳng phải là lũ cóc nhái thì là loại gì? Trong đám cóc nhái đó, có con là cóc thật, béo mẫm, có con chỉ là cóc giả chứ chẳng có quan hệ với ông Giời nào cả. Nhưng để được việc thì nó cứ dùng đòn gió thì đã sao nào. Đấy là những bọn lừa đảo đầy rẫy trong cuộc sống ở mọi môi trường.
3* Cuộc đời thì ngắn mà con người lại nhiều ham hố. Để chộp giật sao cho nhanh thì phải kiếm cách nhanh chóng len vào hàng cóc. Đã là cóc, cậu của ông Giời thì làm mọi việc kể cả hắc ám cũng dễ hanh thông, nên kẻ xấu thường ham. Đã có một số người như thế. Nhưng len chân được vào hàng cóc cũng đâu phải chuyện dễ dàng. Người ta phải tranh thủ đủ nơi đủ chốn tiếp cận bằng được vào chốn các ông Giời, giành chộp cơ hội để được nhận làm con đỡ đầu, cha nuôi, mẹ nuôi, chị nuôi, em nuôi, cháu nuôi chẳng hạn. Còn thấp hơn là đồng môn, đồng tuế. Thấp nữa là quen biết, là hàng xóm.
Cóc thời nay không phải là cóc ở trong cổ tích. Ở cổ tích, con cóc tử tế an bài với cái danh hão. Sau đấy nó chẳng hại ai. Con cóc thời nay thì không thế. Con cóc ngày nay tinh ranh hơn nhiều. Nó là giống cóc vụ lợi. Lại có nhiều ông Giời ở nhiều tầng thứ, nên Cóc tính toán dùng mỗi ông Giời vào một việc, để được việc cho mình. Tôi có một người bạn từng được làm ông Giời, là ông Giời nhỏ thôi, nhưng vừa rời ghế về hưu không làm ông Giời nữa thì đám cóc nhái cũng biến luôn.
nguồn: blog họa sỹ Đỗ Đức

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2009

Những linh hồn rỗng


Hắn
       Kể từ đêm ấy hắn trở thành đàn ông, ngay trong căn nhà mặt phố có ông bố làm quan. Cho tới tận bây giờ, hắn vẫn chưa hiểu điều gì đã xãy ra với mình. Vì mọi chuyện đã diễn ra quá nhanh, sau khi cánh cửa đóng lại hai mẹ con họ đã cùng nhau bóc từng mãnh vải trên người hắn, rồi họ lại cùng nhau vầy vò thân xác hắn, họ đói tình……đến 4h sáng hắn bị đẩy ra cửa với nửa triệu trong túi và lời dặn khi cần họ sẽ gọi.
     Có khi một tuần hắn bị gọi những năm lần, có khi chỉ 1,2 lần, đó là những khi ông ấy đi công tác vắng. Trong những lúc đầu óc còn tỉnh táo, hắn cũng mơ mơ hồ hồ nhớ lại….Nhà hắn ở con hẽm ngay phía sau nhà họ, cửa cái chỉ cách cửa hậu chỉ chưa đầy 2 m, hôm đấy hắn đi làm phụ hồ về hơi trễ hơn mọi bửa, lại ghé làm vài ve với ông cai nên về tới nhà thì đã 12 giờ đêm, trong lúc còn chưa mở được cửa thì một cái gì đó mềm mại, thơm tho ôm chầm lấy hắn, một thoáng ngạc nhiên, nhưng cơn say và cả sự động dục của con đực đã làm  mờ lý trí của hắn. Cô ta, người con vừa ôm vừa dìu hắn về nhà của mình, chỉ với vài bước chân.
    Bố mẹ hắn đã qua đời trong một tai nạn giao thông, để lại cho hắn ngôi nhà nhỏ trong hẻm, nhỏ hẹp nhưng cũng đủ chổ cho hắn đi về. Hắn bắt đầu nghĩ học để gia nhập đội quân phụ hồ, kiếm miếng cơm chén rượu qua ngày, thói quen nầy là của bố hắn tập cho hắn năm hắn 8 tuổi. Cứ mỗi lần ông nhậu đều cho hắn uống vài ly.Từ năm lên chín là hắn đã không thể sống thiếu rượu, y như ông già hắn vậy.
    Mười lăm tuổi, hắn to khỏe như một con trâu mộng, chỉ có cái đầu là không phát triễn gì thêm được nửa. Định mệnh đã bắt hắn làm đàn ông chính vào năm đó.
    Và giờ thì hắn chả làm gì sất, làm gì khi trong túi đầy tiền. Lúc nào người hắn cũng lơ mơ, nửa tỉnh nửa say. Không đi làm thì hắn còn biết làm gì cho hết thời gian?
Nhưng nói gì thì nói hắn cũng phải công nhận, hắn khoái trò chơi nầy, hay nói cho đúng hơn là hắn ghiền, ghiền mùi đờn bà, mùi mồ hôi lúc nào cũng nồng nặc của cả hai mẹ con, ghiền cái cách mà họ ăn nó, hít hà, liếm láp, cào cấu, nhai nghiến một cách cuồng loạn. Và sau mỗi lần họ ăn nó xong là người hắn bầm dập, thế mà hắn vẫn cứ thích được như thế, như một niềm hoan lạc bất tận.
Nhưng cuối cùng thì điều gì đến cũng phải đến, đêm hôm ấy khi vừa len qua cánh cửa hẹp hắn bị một vật gì đó, đen đúa bẩn thỉu chụp vào đầu, ngay sau đó là một trận đòn thừa sống thiếu chết. Hắn xỉu lên xỉu xuống mấy lần, vào lần tỉnh lại cuối, hắn nghe một giọng nói lạ, tuy nhỏ nhưng rõ từng tiếng một: lần sau mà tau gặp lại mầy  thì không toàn mạng nghe chưa con. Nghe xong là hắn chịu thêm một trận đòn cho tới khi không còn biết gì nữa.
Ông ta
Sau khi cho đàn em đánh cho hắn một trận nhừ tử, rồi quẳng ra sau nhà thì đã nữa đêm, ông cho bọn đàn em về nốt rồi khóa trái cửa lại lên lầu.
Họ đang chờ ông ta ở trển, chờ sự trừng phạt của ông mà họ biết là không thể tránh được. Nhưng cả hai mẹ con đều không ngờ khi nghe ông bảo: Làm đi, làm như chúng mầy đã làm với hắn ấy. Rồi ông cởi đồ ra, nói cũng tội, thân hình một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, thì làm sao bằng của một thẳng nhóc mười sáu tuổi.
 Và cả hai mẹ con họ đều đang sợ hãi, giờ phút nầy mà nói chuyện ân ái thì thật nực cười. Nhưng có điều họ biết là ông nói thật, và họ phải làm thôi nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Trong lúc họ còn mãi suy tính thì ông đã đi lấy một cốc rượu thuốc mà người ta biếu đã lâu nhưng chưa dùng đến, sau khi uống hết như sợ chưa đủ, ông ta lại rót thêm một cốc đầy uống cạn rồi đến salon ngồi đợi.
    Trong suốt cuộc đời làm quan từ Bắc chí Nam rong ruổi, ông vẫn thăng tiến đều đặn theo những con đường, những cây cầu mà ông xây dựng. Cho đến khi ông dừng bước ở cái thành phố nầy, cái thành phố lắm thầy nhiều ma.
     Bằng một bước đi lão luyện mà trong dân gian vẫn gọi là mua chức. Với hơn một nửa tài sản để đổi lấy cương vị bây giờ, lão bước vào một chương mới của đời mình. Nước cờ trúng phóc, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Chỉ trong ba năm lão, đã lấy lại gấp mười lần những gì đã bỏ ra.
     Nhưng cái sự đời thì không phải cái gì cũng chiều ý mình, tiền vô nhiều bao nhiêu thì người nhà lão lại ra đi bấy nhiêu. Đầu tiên là thằng con trai cả, vừa mới ra trường bảo về Sở của bố làm cho khỏe lại không chịu. Còn cãi bố rằng con phải về vùng sâu, vùng xa để phục vụ nhân dân. Thế là ngày ngày chạy xe máy ra ngoại thành làm việc, cho đến một hôm hắn tự vấp ổ gà, té xuống và đi luôn không lời trăng trối.
    Đứa thứ hai thì còn nhanh hơn, đang học lớp 12 mà hắn cứ đòi mua xe con, lại mua xe 2 cửa mới ghê chứ. Lão cẩn thận cho lính xuống dạy kèm hắn học lái, trong một đêm học như vậy cả hai thằng đã tông thẳng vào một trụ điện ven đường ở Vũng Tàu.
   Lần nầy thì lão hốt thật sự, chỉ còn thằng thứ ba mới học lớp 9. Giờ đây nó là thằng con thừa tự duy nhất, một chế độ bảo vệ nghiêm mật được đặt ra. Lần nầy lão không cho lính của lão làm nữa vì sợ huông, và vì một phần sợ tin tức lọt ra ngoài. Lão thuê hẳn một công ty bảo vệ chuyên nghiệp, nhất cử nhất động của thằng con trai đều có người giám sát. Đi học cũng có người ngồi canh tại trường, thậm chí khi nó vào nhà vệ sinh cũng phải đi theo để phòng ngừa bất trắc.
   Tất cả những biện pháp nầy đều do tư vấn của một ông thầy phong thủy người Trung quốc mà lão đã sang tận bên Quảng Đông để rước về. Cửa nẻo ở trong nhà, bàn bếp đều được kê kích lại cho đúng từng milimet theo sự chỉ dẫn của ông ta. Còn chổ làm việc của lão thì khỏi phải nói, mọi cái đều rối tung lên.
    Phòng lão trước đây rất rộng, giờ đã bị những thứ theo chỉ đạo của ông thầy mà sắp xếp làm cho nó trở nên chật chội. Cô thư ký là người bực mình nhất nhưng cô tự hiểu chớ dại mà trêu vào thầy. Giờ thì cô bị tống ra ngoài trông giống như người gác cửa, chứ không còn oai phong như thưở nào.
   Sau tất cả những thay đổi bước đầu ấy, mọi việc có vẻ đã có kết quả. Cuộc sống của lão bắt đầu trở lại bình thường. Những cuộc mua bán đổi chác lại được tiếp tục, càng ngày lão lại càng kiếm được nhiều tiền hơn.
    Lão đã vạch ra một kế hoạch mới, kiếm thêm một người để sinh con cho lão. Và trong thời buổi tiền là Tiên là Phật, thì người ta không thể không bán mình cho lão. Lão mua thêm một căn nhà mặt phố ở ngoại thành, không xa lắm chỉ độ nửa giờ ô tô cho hai mẹ con người mà lão chọn.
Cái cách mà lão chọn cũng khác người, mấy đại gia thường chọn hoa hậu, người mẫu để làm bồ nhí cập kè. Nhưng tiêu chuẩn đầu tiên của lão là phải mắn đẻ. Khi người môi giới đưa lão đi gặp cô ta thì lão lại chọn mẹ chứ không phải con, người mẹ lúc nào cũng theo sát bên con gái mình như sợ mất.
      Nhưng lão không nói ra điều ấy vội, chỉ đưa ra bản hợp đồng cho cả hai mẹ con ký vào. Những điều khoãn hậu hỉnh và cả ngôi nhà nữa đã làm họ mê mẩn. Thế là xong hậu cứ của lão đã thành hình.

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009

TỪ “VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ VIỆT NAM ” ĐẾN HÀNG LOẠT NGHI VẤN HỌC THUẬT KHÁC

VÀ HÀNG LOẠT NGHI VẤN HỌC THUẬT

Tiếp bài “Sách của Viện trưởng Viện Hán Nôm có nguồn gốc bất minh”:

TỪ “VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ VIỆT NAM ”
ĐẾN HÀNG LOẠT NGHI VẤN HỌC THUẬT KHÁC


Trong khi dư luận đang xôn xao về cuốn sách Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam của ông Trịnh Khắc Mạnh (PGS.TS, Viện trưởng Viện Hán Nôm) có nguồn gốc bất minh (xem TPCT số 42), mặc dù không thể liên lạc được với ông Trịnh Khắc Mạnh, nhưng nhóm PV đã tiếp tục tìm hiểu và nhận được những thông tin về một số cuốn sách khác của ông cũng có nghi vấn về học thuật.

Mắc nhiều lỗi trong dịch thuật

Cuốn sách đầu tiên của ông Trịnh Khắc Mạnh là cuốn sách dịch Ô châu cận lục, làm chung với ông Nguyễn Văn Nguyên, in năm 1997. Các nhà chuyên môn (xin được giấu tên) ở Viện Hán Nôm cho biết nhà nghiên cứu Hán Nôm Trần Đại Vinh (ĐH Sư phạm Huế) đã có bài phê bình cuốn này trên tạp chí Văn hóa dân gian số 2 năm 2000, chỉ ra rất nhiều lỗi sai, từ khâu giám định văn bản, đến phiên âm, dịch chú (mặc dù sách này từ năm 1961 đã có bản dịch của Bùi Lương, NXB Á Châu, Sài Gòn). Những lỗi sai của bản dịch mới này đã được ông Trần Đại Vinh qui thành 5 dạng như sau: Hiểu lầm từ chỉ phương hướng thành ra từ chỉ tên riêng; hiểu sai một số từ chỉ sản vật; có những câu đơn giản nhưng dùng những từ không sát khiến cho câu dịch không chỉnh; bỏ những từ quan trọng không dịch chỉ ghi lại phiên âm; nhận thức sai từ ngữ hoặc cú pháp từ đó dịch sai lạc. Như vậy cuốn sách dịch sau đã không có đóng góp gì mới, mà còn cho thấy công việc dịch thuật đáng ngờ.

Năm 2008, cuốn sách Một số vấn đề về văn bia Việt Nam của ông Trịnh Khắc Mạnh được Nxb Khoa học xã hội ấn hành. Theo Lời giới thiệu của tác giả thì “đây là một tập chuyên luận được hình thành dựa vào nội dung cơ bản của luận án Phó Tiến sĩ về văn bia của chúng tôi bảo vệ tại Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô vào ngày 7 tháng 12 năm 1990 tại Matxcơva”

Nhưng ngay trong phần thứ hai về “Quá trình phát triển của văn bia Việt Nam” đã bộc lộ ra cung cách làm việc của tác giả. Theo Thư mục văn bia, Viện Hán Nôm có tổng cộng 11.651 đơn vị bản rập văn khắc, bao gồm các văn bản khắc trên bia đá, chuông đồng, khánh đá và đồng, biển gỗ, v.v…Ông Mạnh viết: “Do chưa phân loại trong số 11.651 đơn vị này, bao nhiêu là văn bản bia, bao nhiêu là văn bản chuông và bao nhiêu là văn bản biển gỗ, v.v…; nên chúng tôi gọi chung là văn bia vì loại văn bản này chiếm đa số và chủ yếu”(tr.47). Việc gọi chung tất cả các bản rập là văn bia đã cho thấy ông Mạnh đã bỏ qua việc thực hiện thao tác sơ đẳng đầu tiên của bất cứ người nghiên cứu nào là làm thống kê, phân loại trước khi đi cụ thể vào các vấn đề. Tất nhiên cũng có một vài con số thống kê được nêu lên trong sách, nhưng phần lớn lại là sự phân loại của người khác được đưa vào.

Cuốn sách này dày 387 trang, với 121 trang (từ trang 228 đến 348) là Giới thiệu văn bản văn bia, bằng nguyên bản chữ Hán Nôm kèm theo bản dịch, chú thích. Trong đó có 20 tư liệu được giới thiệu, gồm 8 bài thơ (phần lớn các bài này đã được công bố ở trên sách hoặc tạp chí), 2 bia tiến sĩ Văn Miếu Hà Nội (thuộc cuốn Văn miếu – Quốc Tử giám và 82 bia tiến sĩ), 7 văn bia ông lấy từ cuốn Tuyển tập văn bia Hà Nội, 2 văn bia từ Thơ văn Lý Trần, 1 bia chữ Nôm tham khảo bản dịch của Nguyễn Thị Hường. Trừ 2 bia tiến sĩ do ông Mạnh có tham gia nhóm biên soạn nên ông đã không đề nguồn dẫn, còn các bản khác đều được ghi nguồn rõ ràng. Như vậy, trong số 12 văn bia được giới thiệu ở đây, thì 9 bia là ông dùng bản dịch của người khác, 1 bia ông tham khảo, còn 2 bia Văn Miếu là “của ông”. Điều này có nghĩa tác giả Trịnh Khắc Mạnh chỉ tập hợp chứ không công bố được bản dịch mới.

Mập mờ tên tuổi những người hợp tác với mình

Năm 2002, cuốn Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của Trịnh Khắc Mạnh được in. Sách liệt kê 23 tài liệu tham khảo chính chủ yếu bằng tiếng Việt: Lịch triều hiến chương loại chí, Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Nam, Lược truyện các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (2 tập), Thư mục Hán Nôm – mục lục tác giả, Di sản Hán Nôm – thư mục đề yếu, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Thơ văn Lý Trần, Tổng tập văn học Việt Nam…Trong số này chỉ có 2 cuốn Các nhà khoa bảng Việt NamThơ văn Lý Trần là có in tên các tác gia bằng chữ Hán bên cạnh chữ Việt, mà cuốn đầu cũng chỉ in kèm tên thật của các tiến sĩ, mà không có tên hiệu, tên tự. Ở cuốn Thơ văn Lý Trần cũng không cung cấp được nhiều về vấn đề này.

Vậy để có được tên tự, tên hiệu của 700 tác gia Hán Nôm, thì chỉ có cách lục tìm trong các tài liệu gốc các tập thơ văn nguyên bản chữ Hán Nôm. Và thế là các đồng nghiệp (cũng là học trò) của ông là Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Đức Toàn phải vào thư viện để giúp làm công việc vô cùng tỷ mỷ này. Đã có 1016 tên tự, tên hiệu được liệt kê, nhưng trong lời cám ơn của cuốn sách, Trịnh Khắc Mạnh đã ghi một cách đơn giản là “Ths. Nguyễn Hữu Mùi và CN. Nguyễn Đức Toàn tham gia làm đối chiếu với các nguyên bản sách Hán Nôm”(tr17). Trên thực chất công việc “đối chiếu” này chính là nội dung quan trọng nhất của cuốn sách tên tự, tên hiệu, bởi các tài liệu tham khảo kia chỉ là tài liệu tiếng Việt. Hơn nữa, theo sự đánh giá của giới Hán Nôm, thì cuốn sách ngoài giá trị viết ra được các tên tự tên hiệu bằng chữ Hán Nôm, thì ông Trịnh Khắc Mạnh cũng không cung cấp được thông tin gì mới về thân thế và tác phẩm của các tác gia Hán Nôm đã được nêu trong các sách của các tác giả đi trước. Thật đáng tiếc cho những cộng sự rất vất vả của ông, lẽ ra phải được đứng tên theo cách: Trịnh Khắc Mạnh (chủ biên) Nguyễn Hữu Mùi, Nguyễn Đức Toàn (có thể là cả PSG. Trần Lê Sáng người đã tham gia làm một số phiếu), chứ không thể đề tên của một mình tác giả Trịnh Khắc Mạnh.

Hà Phương
Nguồn: Tiền Phong Cuối tuần số 43 (24-30/10/2009), tr. 5.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

Sao thương trường lại là chiến trường?


Không biết câu khẳng định thương trường là chiến trường lọt vào thành câu cửa miệng của doanh nhân và cả một số những nhà chính trị của ta từ bao giờ. Nhưng chắc chắn cái gốc của nó xuất phát từ Phim Trung Quốc. Không biết có phải do thói quen học mót không mà câu nói  trong phim đó đã  trở thành thời thượng cho một số người khi nói đến nền kinh tế thị trường ở ta. Cho đến bây giờ, đi đâu cũng thấy nguời ta nói đến “ thương trường là chiến trường” như một phát hiện mới mẻ. Thật thảm hại cho cái phông văn hóa phập phè như áo giấy của mấy vị như thế mà tập tọng làm kinh tế, chỉ một cơn gió nhẹ nó đã bị chao đảo như đồ hàng mã.

Tôi không phải người cố chấp, nhưng thấy câu nói đó thật sự phản cảm. Có thể việc ấy khá đúng với người Trung Quốc. ở góc độ cạnh tranh. Họ đã từng nói đến chuyện kinh tế đi đến đâu thì có quân đội đi theo để bảo vệ. Kể cũng khiếp cho một triết lí kinh tế thị trường của họ.

Với người Nam ta thì sao?. Cha ông ta đã có câu: “buôn có bạn, bán có phường”, một triết lí mềm dẻo, lấy sự kết nối làm sức mạnh. Kinh tế thị trường không phải mua tranh bán cướp. Ở đây đã thấy cái đạo lý kinh doanh của ta khác hẳn. Nó nhân ái dựa trên một nền tảng đạo đức của cộng đồng. Đó là nét văn hóa đặc biệt về thương trường của ta. Mà tôi nghĩ đó là cái gốc của đạo lí kinh doanh có căn cơ để bền lâu. Còn chiến trường ư? Đó là triết lí của kẻ mạnh, chỉ biết mình. Trong câu nói đã hàm chứa sự vô đạo, sẵn sàng chôn sống kẻ cạnh tranh của minh để tiến lên. Vậy có đáng thành câu cửa miệng và thành định hướng cho các nhà kinh doanh của chúng ta?

Lời nói đọi máu, cha ông ta đã dạy thế, cất lời phải thận trọng;
Nếu khẳng định thương trường là chiến trường thì người ta băm chém nhau để mưu lợi. Ở thế giới ấy, kẻ mạnh lấy thế lực đè người, lấy “súng ống” làm phương châm giải quyết. Sẽ sa vào sự cướp bóc vô đạo. Hình như trong kinh doanh ở ta  đang có việc đó xảy ra ở nhiều ngành, xin miễn dẫn chứng.

Còn nếu xác định buôn có bạn, bán có phường thì thương trường phải biết lưu chứa sự nhân hòa, cho phát triển bền vững. Các nhà nghiên cứu kinh tế chắc hiểu điều này hơn tôi
Còn tôi, tôi vẫn chắc một điều là cha ông mình nói không sai.
16/10/2009.

http://dongngandoduc.multiply.com/journal/item/166?mark_read=dongngandoduc:journal:166#replyform