Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2010

Nước như nước mắt - TTCT - Đừng sợ hãi, dù vì nó mà người ta sống, chết... (*)



1. Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai.

2. Nhà chức trách nói rằng họ đang tìm sự thật nhưng có thể chồng Sáo đã lẻn lên bè rẫy Đại Thanh trộm tài sản của họ, lúc người ta bắt gặp đã xảy ra xô xát nhỏ, anh lao xuống sông định trốn, chết nước là chuyện rủi ro không ai ngờ... 

“Những người đầu tiên trông thấy xác chồng cô đều chứng kiến trên tay anh ta còn cầm một sợi dây chuyền vàng đã đứt” - nhà chức trách bảo vậy. Sáo nói không phải đâu, anh Thi chồng tôi chỉ muốn lén hái vài lá ngò. Nhà chức trách hơi xẵng giọng: chúng tôi dựa trên nhiều bằng chứng quan trọng. Sáo cãi không phải đâu, chồng tôi cần có chút ngò gai thôi. Họ kiên nhẫn kêu vài nhân chứng tới nói mấy câu chuyện ngập ngừng. 

Sáo cãi phăng đi. Ngay khi Sáo ôm siết chồng đang nằm thõng thượt trên cái bàn dài đặt giữa văn phòng nhà chức trách, ngay khi nó vùi mặt mình vào cơ thể lạnh lẽo chi chít những chỗ tím bầm, ràn rụa tìm kiếm hơi thở của anh núp trốn đâu đó, trong rún, trong mắt hay ở bên sườn. Khi lướt qua đôi môi giập nát nó nghe phảng phất mùi ngò gai. Trời đất ơi, chồng nó đã nhấm nháp thưởng thức mùi vị chúng ngay khi vừa hái được. Anh vẫn chưa nuốt trôi khỏi cổ, ý nghĩ đó làm nó nghẹt thở. Người ta đang nhâm nhi ngò gai thì không ngó ngàng tới vàng bạc đâu, Sáo nói và xốc ôm chồng tha về ghe.

Dưới sạp ghe hai con cá bạc đầu đã chết. Cặp cá này sáu tiếng đồng hồ trước vợ chồng Sáo giăng lưới bắt được. Cá bị nước đuổi ốm tong teo nhưng chồng Sáo sướng quên trời đất, và như con nít, anh đứng múa may quay cuồng ở đầu ghe, kêu hết sẩy hết sẩy, nói phước đức ông bà để lại. Chưa bao giờ Sáo thấy anh hạnh phúc, hân hoan đến vậy, đến nỗi nó đã chạnh lòng ngay lúc đó, anh đâu có từng tỏ ra quý mình như quý cặp cá này. 

Cá bạc đầu luôn đi thành đôi, là loại cá rất hiếm hoi. Sục sạo như chồng Sáo cũng chỉ một lần thấy chúng. Má chồng Sáo hồi còn sống thường thắt thẻo nói vợ chồng nào hiếm muộn con cái nuốt mật cặp cá bạc đầu thể nào cũng cấn thai. Bà hay ngồi ở cửa trước hóng coi trẻ con bên xóm đang chạy giỡn, tiếng thở dài của bà lững thững bay về phía Sáo nhoi nhói. 

Chồng Sáo cà rỡn: “Bắt được cá bạc đầu rồi vợ con sanh một lần bảy đứa, cho má giữ mệt nghỉ...”. Má chồng không chờ được, lúc bà chết bên vách vẫn còn giắt mớ vỏ tỏi - thứ đàn bà đẻ dùng để xông da thịt cho thơm. Chồng Sáo vẫn phấn khích quăng chài xuống sông Sắc nuôi hi vọng, không hoàn toàn vì khao khát trẻ con. Chồng Sáo đã được ăn cá bạc đầu một lần hồi mười lăm tuổi mà mỗi khi anh nhắc lại nồi canh cá nấu mẳn, Sáo lại thấy nước miếng rỉ ra rưng rưng bên mép anh. 

Người Châu Thổ hay nói bắt tao tả đau bụng đẻ ra làm sao chẳng khác nào kêu tả mùi vị con cá bạc đầu, tức là chẳng thể chia sẻ cảm giác với người khác nếu họ không tự mình trải qua. Sách Bi ký chép lại năm 813 đã có một làng chài bị tàn sát vì giữ lại cá bạc đầu mà không cống nộp cho vua. Một trăm ba mươi bốn người trong làng đã chết. Ba chồng Sáo quý cuốn sách đó như một gia tài nhưng nhà nó đã làm mất vào một bữa nước đột ngột dâng. 

Giờ con cá của những đồn đãi, con cá huyền thoại, con cá vì nó mà người ta sống, chết đang nằm trong ghe nhà Sáo, đuôi màu xám đậm rồi phai dần cho đến phần đầu thì trắng muốt tựa bông lau chín. Cái chết cận kề không làm cho chúng thôi quấn quýt. Chúng chạm râu vào nhau khẽ khàng, như âu yếm, như đờ đẫn, như dịu dàng lại như kiệt sức. Phải, nước đuổi đã quá hai tháng rồi, đến con người cũng phờ phạc bạc đi.

Gặp lại Nguyễn Ngọc Tư
“Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai”. Một câu thông báo ngắn gọn, như là dửng dưng, lại có vẻ như là phi lý. Nhưng truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư Nước như nước mắt bắt đầu bằng đúng một dòng như thế, để sau đó đưa ta đến một nơi xa vời vợi, gặp những con người nhỏ bé và lẻ loi giữa mênh mông mùa nước đuổi, chẳng còn thấy đâu là bến bờ... Không gian gợi người đọc nhớ tới Cánh đồng bất tận của chính chị trước đó. Thì sông nước vẫn bất tận vậy thôi, chỉ nỗi đau là có khác, những lo toan cũng hư hư thực thực đi rồi. Còn nếu bạn vẫn tò mò, cắc cớ hỏi nhà văn xứ Cà Mau lấy đâu ra cái ngã ba oan nghiệt của sông Sắc sông Mê, hay cái khắc khoải của con người, và con cá, trong cuộc kiếm tìm đất lành và nước sạch... thì có lẽ chỉ càng thêm thắc thỏm.
“Chuyện viễn tưởng về biến đổi khí hậu và con người chẳng còn gì để mất...” - Ngọc Tư quả quyết vậy. Và một nỗi buồn rất thật đã bước vào trang giấy.
Truyện ngắn, nhưng cũng hơi dài nên TTCT phải mời bạn đọc đọc thêm một kỳ thứ hai, để đi cho hết mấy cuộc đời buồn tủi.
THÚY NGA
3.
Mùa nước đuổi bắt đầu từ giữa tháng giêng. Ngó nước bắt đầu linh đinh bờ bãi, người ở xóm Rẫy thở dài ứ hự, chắc năm sau ăn tết trên ghe. 

Cứ mỗi năm nước đuổi lại tới sớm hơn, mùa mỗi năm mỗi dài hơn. Tết chưa tàn vợ chồng Sáo đã lụi hụi dọn đồ đạc lên ghe, bông vạn thọ trồng trong cái khạp lủng để trước hàng ba còn chưa bung nở hết. Chồng Sáo cứ tiếc là ghe chật quá, không rinh cái khạp đó đem theo được.

Anh còn muốn bứng cả cây cỏ quanh nhà theo, nếu có thể. Nên trên ghe lủ khủ những bụi hành hẹ, sả, vài cây ớt, ngò om... Mấy thứ cỏn con này hay làm chồng Sáo bận lòng, ăn cá chốt nấu cơm mẻ mà thiếu sả ớt, cá trê nướng mà không gừng... là anh băn khoăn lắm. Anh nói thà không ăn, chứ ăn vầy không đúng điệu.
Chồng Sáo ưa nói hai từ đúng điệu. Coi kìa, đêm nay trời trong nhưng trăng tròn quá nhìn không đúng điệu, phải khuyết chút ngó hay hơn. Nắng vầy mà có bóng cây để treo võng nằm chơi là đúng điệu. Con cá lóc này phải có rơm khô chất lên đốt nướng trui mới đúng điệu. Sống giữa trời nước bao la vầy mà không có nước để tắm cho đúng điệu, nghĩ mà tức.
Sáo nhớ chồng nó nói câu đó khi đang ngồi ễnh ra, xe miết mấy ngón tay da cổ làm đất rụng xuống lả tả, gọi là tắm khô, kỳ cọ bằng mồ hôi xong sẽ tắm ướt bằng hai gàu nước. Nhưng có bữa chồng Sáo tắm cả xô, tắm đúng điệu. Chữ đúng điệu nhiều lúc làm Sáo sợ. Nhất là khi nghe bảo “em nằm day lại tui gãi cho đúng điệu cái coi”. 

Đêm nào trước lúc ăn nằm với nhau bao giờ chồng cũng gãi lưng Sáo, trong một trình tự lớp lang đúng điệu, bắt đầu từ lúc những ngón chân cọ vào bắp chân Sáo, sau đó này sau đó kia, anh nhẩn nha đến nỗi nó thiu thiu ngủ luôn bỗng nghe cái gì đó xộc tới chới với. Nó không thích vậy nhưng không dám nói, biết đâu vì cái khoảnh khắc chới với đó mà trẻ con không chịu ra đời. 

Sáo còn hồ nghi vì hai chữ đúng điệu mà nhà nó nghèo. Gieo mấy giồng cải, chồng Sáo nói lá cải chưa mướt mà nhổ bán là không đúng điệu, nhưng chờ tới lứa cào cào ở đâu bay lại ăn đám rau rách nát. Có năm trồng dưa hấu, thấy dưa lớn trái lại đang được giá Sáo đòi bán cho thương lái. Chồng bảo chờ cho dưa chín thêm ít nữa, cho da trái dưa căng bóng mới đúng điệu. Ai ngờ trời trở mưa một trận, không kịp cắt dây dưa nổ lụp bụp như pháo, nứt vỏ hết. Trắng tay.

Mùa đó là mùa dưa cuối cùng trên đất nhà Sáo. Năm sau nước đuổi tới nơi, cứ nghĩ nước tràn quanh quẩn những vùng gần biển thôi, nhưng nước theo sông ngày càng vào sâu hơn, tràn bờ bãi, ngấm vào chân ruộng. Người ta kéo nhau đi đào đất đắp bờ, nhưng đắp tới đâu nước theo tới đó, cơi nhà tới đâu nước ngập tới đó, không lẽ ở trên mái nhà, thôi kéo nhau lên ghe ở cho rồi.Cây trái tàn rụi, chỉ còn cỏ đuôi mèo là sống được, đem bán rẻ mạt cho những người chăn nuôi bò ở bên kia biên giới chẳng được bao nhiêu tiền.

Chồng Sáo không lấy chuyện đó làm phiền, cả khi ôm cái lư hương cha mẹ rút lên ghe chờ qua mùa nước đuổi, anh vẫn làm mặt tỉnh queo. Cả xứ này bỏ đất mà đi chớ đâu phải chỉ nhà mình, chồng Sáo nói vậy. Chỉ một lần duy nhất chợt thèm ớt giữa bữa cơm, mà cây ớt đem theo đã chết queo, anh mới dựng đũa kêu trời. 

Trời im ắng ở trên cao, trong ngằn ngặt, trong như nước mắt. Nắng quay quắt như vắt như vo con người thành những hòn đá khô khốc có thể lăn cọc cạch. Vợ chồng Sáo neo ghe ngay trên đất vườn mình, cạnh mái nhà mình, lây lất sống nhờ chài lưới những con cá nước đục còn sót lại ốm ròm trên mình đầy ghẻ lở... sau đó thì tới đám cá nước trong len lỏi vào sâu trong đất liền, hai đứa kiếm được chút đỉnh tiền gạo và không đến nỗi cực ăn. Nhưng có bữa chỉ bắt được cá sầu ngư, đành ăn cơm với muối hột. 

Sầu ngư bình thường vẩy màu xám bạc chỉ nhẩn nha ăn bèo rong trôi dạt, đến nước đuổi thân cá trở nên đỏ thẫm. Chúng có thể sống tỉnh queo nhờ rỉa xác súc vật chết trôi, trong đó có cả xác người. Chồng Sáo vừa ghét vừa ghê sợ chúng, anh xỉa xói: “Cái thứ ham sống tới nỗi bất chấp tội lỗi...”. Sáo mắc cười quá, mắng cá mà như mắng người.

Sáo đâu có ngờ có ngày mình phải bảo vệ chồng khỏi miệng cá sầu ngư.

4. Chồng Sáo ốm teo, nằm gọn đeo trong cái hòm được ghép tạm bằng mấy tấm ván ngựa xóm giềng giúp mò lấy từ dưới nhà lên. Lúc lau rửa cho chồng, men tay theo từng tấc thịt da dường như đang tan chảy, Sáo thấy buồn quá. Không thể chôn xuống đất, người ta bày cách dìm hòm xuống nước, lấy dây buộc níu vô cột nhà, chờ nước rút mới đem âm thổ. Vị mặn của nước ngấm vào sẽ làm chồng Sáo lâu tàn rữa, họ nói vậy. 

Xóm giềng lặng lẽ tiễn chồng Sáo. Cũng mệt mỏi và đuối sức như những con cá nước đục khắc khoải sống với cái vị mặn mòi xa xót của biển, họ chới với khi bị bứng lìa khỏi đất, khỏi cái màu xanh rười rượi của cỏ cây. Cả cái chết cũng không phải xa lạ, nó diễn ra mỗi ngày, người ta chết đuối, chết vì khát, vì thèm tắm, vì nhớ vị của trái ổi chát, vì giành nhau cành củi trôi sông...

Riêng chồng Sáo thì chết vì thèm rau. Hàng xóm bảo không phải, nó chết vì nghèo đó chớ. Vì nghèo nên không đi ra khỏi cái xứ trần ai này được. Vì nghèo nên phải bỏ mạng vì gặp phải bọn cậy giàu coi sinh mệnh người như cỏ rác. Bứt mấy cọng ngò thôi mà, có phải thù oán gì cho lắm đâu mà nhẫn tâm quá thể! Sáo cũng muốn đi hỏi người của bè rau Đại Thanh câu đó. Sao vậy, tại sao, vì sao?
- Thời thế loạn rồi, đất không còn thì có thứ gì còn.  

Ông bán xôi dạo thở hắt ứ hự. Ông nói bữa trước đi ngang bè rau nghe có tiếng kêu cứu, nghe trên đó rầy sao mầy không chết đi, sống làm chi mà làm khổ người ta. Không biết “người ta” là ai, mắc mớ gì tới cái bọn sống sung sướng trên cái bè rau đó. 

Sáo nghe xong tưởng trong lồng ngực có thứ gì vừa đứt phựt, nó hức lên, anh ơi sao anh tới chỗ đó mà chết. Ủa, vậy chồng mình chết chỗ khác thì mình đỡ đau lòng hơn sao? Sáo giật mình nghĩ vậy khi vừa khóc dứt. Trong nỗi ân hận, Sáo ngồi dựa vách ghe, mong xóm giềng cứ ngồi chơi, nếu không muốn nhắc tới chồng nó thì cứ nói chuyện bâng quơ, chuyện những vùng đất cao cẳng xa xôi nước biển không bao giờ đuổi tới, chuyện ở đâu đó con chó đẻ ra con dê, cây dừa có chín đọt... Hoặc họ không nói gì cũng được, ca hát cũng được... Nhưng họ phải về, phải sống. Cuối buổi sáng là nhà chức trách xả nước ngọt ở các máy nước công cộng, không kịp chèo ghe đi lấy sẽ không có nước nấu cơm, tắm giặt...

Sáo chỉ còn một mình.

Một mình.

Sáo lết đi bắc xoong cơm lên bếp lửa. Cảm thấy tay áo giở lên còn không nổi. Bụng không đói, miệng thì đắng nhưng Sáo phải ăn, để chờ người ta trả lời tại sao chồng nó chết. Đợi chán Sáo lại chèo ghe tới chỗ nhà chức trách thăm chừng, khi thì thấy vài anh say sưa chơi cờ, khi thì thấy một anh ngủ gục bên bàn làm việc kệ ruồi o e trên mép. Hỏi thì họ chưng hửng nói cô còn đợi sự thật nào. Như thể có rất nhiều sự thật nằm nhấp nhổm trong ngăn kéo, và họ đang chọn một cái sự thật hợp với tướng tá xơ rơ, túi áo lép kẹp của Sáo.

Hơi thất vọng, Sáo chèo trong chảo nắng mặn trở về, bỗng nín thở nhìn thấy cái lưng dài nhằng của chồng mình trên mái nhà. Em chồng Sáo mang nó về, cả đôi chân mày rậm. Nó thảng thốt hỏi chị Hai làm gì vậy. Sáo nói chị đâu có làm gì. Trời ơi chị sởn tóc xơ cờ kìa. 

Em chồng nhìn Sáo như thể kêu Sáo nín đi, như thể Sáo sởn tóc là một cách khóc. Sáo chỉ gượng cười rồi luýnh quýnh đi nấu cơm cho em chồng ăn, bận bịu làm sự sống quay trở lại trong nó. Sáo đã quen sống và làm lụng vì ai đó. Như bà nội Sáo vì thương chồng mà bơi xuồng đi cưới hai bà vợ bé cho chồng, như má Sáo vì chuộc chồng khỏi núi nợ ở trường gà mà phải bán hết đất lên ghe sống lênh đênh. 

Năm mười chín tuổi, nghe má ao ước “lúc chết được nằm trên đất của mình”, Sáo lấy chồng. Lấy người má nó chọn, lý do “thằng đó có tới ngoài chục công đất”. Sáo nhìn thấy chồng lần đầu khi anh đang ôm con gà tre đi trên đường, miệng ngậm vung vinh cọng cỏ mần trầu, nó tự hỏi đây sẽ là chồng mình sao? Lễ ăn trầu uống rượu rồi, chồng vỗ mông Sáo, nó lại hỏi đây là chồng mình sao? Hôm cưới nghe chồng phả hơi rượu nóng rực vô vành tai, vẫn hỏi chồng mình đó sao? Nhưng lúc Sáo cài khuy áo lại, ngó cái người đang lật ra ngủ queo đó, nó nghĩ đây là chồng mình. Nghẹn căng ứ mũi.

Má Sáo vui lắm, gói ghém mấy lễ, bà mua hai công đất dành để chôn. Nhờ con gái hiếu thảo mà thím đổi đời rồi, má giả đò vu vơ khoe với một khách thương hồ quen, không lâu sau anh ta cũng lấy con gái nhà giàu dưới chợ. 

Nước đuổi vào sâu Châu Thổ, đất - thứ mà vì nó mà Sáo lấy chồng - trở nên vô nghĩa, như cái tên xóm Rẫy mà còn cái rẫy nào đâu.
Giờ đến cả chồng, Sáo cũng làm mất.

Em chồng rút trong túi xách ra bộ đồ tây mới cáu đặt cạnh đôi dép da mà nó đã mua cho chồng Sáo từ năm trước. Món quà còn nguyên niêm mạc, chồng Sáo chưa đi lần nào, anh nói chờ kiếm có quần áo đẹp mặc cho đúng điệu. Có lần đi chợ gặp em chồng, Sáo kể, nó buột miệng chửi thề: “Má, thằng cha cầu kỳ quá, con nhà lính tính nhà quan...”. Giờ thì em chồng im lìm ngồi vuốt mớ đồ của anh nó. Bao giờ chồng nhập thổ, Sáo sẽ chôn chúng theo.
Ngó cái cảnh đợi công lý của Sáo, thằng em chồng cười khào, con dao bấm trên tay cứ lè lưỡi ra tanh tách, sáng quắc. Nó nói: “Công lý ở trong tay mình mà, chị Hai...”.

Em chồng đi giang hồ từ nhỏ, lưng em giờ đã hai mươi hai cái thẹo, đó là những lần em thực thi công lý hay bị công lý của nhóm giang hồ khác thực thi. Không thẹo người ta không biết mình dân giang hồ, em khoe vậy, giống như ở chợ hay gắn chữ văn hóa cho người ta biết là có văn hóa vậy. Em chồng cũng thường khoe công lý của em nhanh hơn, luật của em công bằng, sòng phẳng hơn. Không tin không được, nhiều lần nó tìm lại những món đồ nhà Sáo bị trộm lấy đi, dù chúng đã bị thay hình đổi dạng, bị tháo rã ra bán đầu một nơi mình một nẻo. Nó còn dẫn thằng ăn trộm về biểu: “Xin lỗi anh chị Hai tao, mầy!”, và thằng kia cun cút cúi đầu.

Nhưng đó chỉ là thằng trộm nhỏ thó hom hem, giờ em chồng Sáo sẽ đối đầu với một bè rau đông người lắm của. Em chồng đi rồi Sáo nóng ruột bồn chồn quá, như thể chỉ cần vo gạo rồi ôm cái nồi vào bụng, gạo sẽ sôi thành cơm. Mấy bữa sau nghe ở mấy máy nước công cộng người ta hể hả bàn tán, nói xe hơi của nhà Đại Thanh dưới chợ bị đập phá, tụi giang hồ còn đánh thuốc chết mấy con chó, tưới xăng định đốt biệt thự, may mà nhà chức trách tiếp cứu kịp.

Bữa sau nữa, người ta rủ Sáo đi coi một bảo vệ của bè rau bị dìm chết. Sáo không đi, nó không chắc mình sẽ hả hê khi nhìn thi thể đó. Sáo sợ cái bàn lạnh ngắt giữa căn phòng lạnh ngắt, nơi hơi thở một con người bỗng dưng biến mất. Ở đó, biết đâu cũng có con đàn bà gột rửa da thịt chồng bằng nước mắt, mong gọi những hơi thở trở về. 

Nhưng buổi tối hôm đó Sáo đã phải xuôi ghe tới văn phòng của nhà chức trách, vì em chồng Sáo. May phước, em chồng không nằm trên bàn mà bị trói gô, khiến cái lưng dài thượt gần như cuốn tròn lại. Sáo thở phào nhẹ nhõm dù hoàn cảnh của thằng em hiện giờ rất cay đắng. Vậy mấy bữa qua Sáo đã bồn chồn lo lắng cho ai? Nó tự hỏi, người mướt mồ hôi lạnh. Ngó vẻ mặt đờ đẫn của Sáo, em chồng cố an ủi mà giọng nói cứ nghiến sít sìn sịt:
- Chị buồn con c. gì, tụi nó bắt tui như bắt cóc bỏ dĩa. Chỉ uổng là tui chưa kịp bẻ cổ thằng Giang.
Câu nói làm Sáo rúm ró. 

(*) Từ Bi ký
Truyện ngắn của NGUYỄN NGỌC TƯ
__________
Sáo biết người đàn ông đó. Sáo chỉ không biết việc truy tìm kẻ làm chồng mình chết rồi sẽ làm cô đau đớn và đưa cô đi xa đến vậy...

http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/382399/Nuoc-nhu-nuoc-mat.html

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

Nước như nước mắt

Đừng sợ hãi dù vì nó mà người ta sống, chết...(từ bi ký)
     "Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai "
Một câu thông báo ngắn gọn, như là dửng dưng, lại có vẻ như là phi lý.
Nhưng truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư Nước như nước mắt bắt đầu bằng đúng một dòng như thế, để sau đó đưa ta đến một nơi xa vời vợi, gặp những con người nhỏ bé và lẻ loi giữa mênh mông mùa nước đuổi, chẳng còn thấy đâu là bến bờ...Không gian gợi người ta nhớ tới Cánh đồng bất tận của chính chị trước đó. Thì sông nước vẫn bất tận vậy thôi, chỉ có nỗi đau là có khác, những lo toan cũng hư hư thực thực đi rồi. Còn nếu bạn tò mò cắc cớ hỏi nhà văn xứ Cà Mau lấy đâu ra cái ngã ba oan nghiệt của sông Sắc, sông Mê, hay cái khắc khoải của con người, và con cá, trong cuộc kiếm tìm đất lành và nước sạch...thì có lẽ chỉ càng thêm thắc thỏm.


"Chuyện viễn tưởng về biến đổi khí hậu và con người chẳng còn gì để mất". Ngọc Tư quả quyết vậy. Và một nỗi buồn rất thật đã bước vào trang giấy.
                                                                                                      THÚY NGA
Tuổi trẻ cuối tuần 6.6.2010


Thật là kì lạ cứ mỗi khi đọc xong một tác phẫm của Nguyễn Ngọc Tư là tôi lại cảm thấy đau đớn trong lòng. Một nỗi đau mà chắc chỉ có những người ly hương miền Tây mới hiểu được...nhớ quay quắt từ con cá, cọng rau cho tới tiếng thở dài mang âm hưởng địa phương đời mà....Dù có xa xôi gì cho mấy.
Và lại thêm một câu chuyện, một dự báo của Tư lại ra đời, một viễn ảnh có thật. Miền Tây vựa lúa của cả nước sẽ thôi không còn đất.


Trong lúc nầy đây những con người hôm trước hỹ hả làm lễ khánh thành cây cầu Cần Thơ, hôm nay chuẩn bị bấm nút biểu quyết những dự án năm sao với số vốn vay lên đến hàng trăm tỹ đô la, chắc không còn đầu óc đâu mà nghĩ tới chuyện nước đuổi. họ còn đang mãi mê toan tính, dự báo xem rồi đây đất sẽ còn lên tới bao nhiêu một mét vuông.


Rồi sẽ có bao nhiêu người ở lại với nơi không còn đất nữa, như chồng Sáo, như Sáo?

Hay lại có một cuộc di cư vĩ đại của hàng triệu người nông dân Nam bộ!

                                                                                                                      Xu Việt Nam

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2010

Mẹ ơi, tụi con biết tựa vào ai đây...


TTO - Dưới cái nắng trưa khô khốc, một người phụ nữ với bộ đồ cũ mèm, đầu đội nón lá rách bươm, dừng chiếc xe đạp cũ kỹ bên bãi rác dã chiến ở ven sông Sài Gòn. Chị không thể biết một tại nạn thảm khốc chuẩn bị đổ xuống đầu chị vì sự tắc trách của tài xế xe ben.
Một trụ điện đổ ngã lên xe ben gây ra tai nạn
Chị hì hục tìm kiếm những lon bia, mảnh vỡ thủy tinh, kim loại để kiếm mấy chục ngàn nuôi 3 đứa con ăn học… Bất ngờ một cây trụ điện đổ sầm xuống đè chết bên đống rác trước sự bàng hoàng của bà con ngụ cư ở xóm ve chai…
Theo biên bản ghi nhận, khoảng 12g45, ngày 1-6, chiếc xe ben mang biển số  57K-1782 do tài xế Nguyễn Thành Hưng điều khiển ra khỏi khu đất san lấp ở ven sông Sài Gòn, thuộc cầu Đúc Nhỏ, P. Hiệp Bình Phước, Q.Thủ Đức (TP.HCM) đã kéo đổ trụ điện hạ thế và đè chết người phụ nữ xấu số đang nhặt ve chai - chị Nguyễn Thị Huế, 41 tuổi, ngụ Đắk Lắk.
Nhiều nhân chứng cho biết xe ben vừa đổ đất san lấp ở khu đất công trình xong, chạy ra đã vướng vào sợi dây điện hạ thế. Chiếc xe ben tiếp tục chạy nên làm căng dây điện và kéo đổ hai trụ điện. Một cây đè lên chiếc xe ben còn một cây cách đó khoảng 40m đã đè chết chị Huế.
Muốn ngất lịm khi thấy xác mẹ, Yến Chi (17 tuổi) khóc nức nở: “Nhà nghèo, gia đình từ Buôn Mê Thuột tìm đến Sài Gòn để sống bằng nghề nhặt ve chai. Chị lớn lấy chồng nghèo cũng nhặt ve chai, mẹ thì suốt ngày đi nhặt đến 12g đêm mới về. Thương mẹ vất vả, tụi em ráng cố gắng học nhưng mẹ ơi…”.
Được biết, 3 chị em Yến Chi vừa học khá giỏi vừa phụ mẹ nhặt ve chai mỗi khi rảnh rỗi. Yến Chi học lớp 11, Đức Nghĩa học lớp 10 và bé Yên Nhi học lớp 5…
Yến Chi nức nở khóc mẹ ngay tại nơi mẹ ra đi
Trao đối với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Nam Hải, Phó Chủ tịch UBND phường Hiệp Bình Phước, cho biết đây là phần đất do ông Nguyễn Thành Trung làm chủ đầu tư. Năm 2008, khu vực này bị sạt lở và một căn nhà đã bị trôi sông. Công an phường đã nhiều lần xử phạt nhưng đơn vị thi công khi cho xe ben lén lúc vào san lấp mặt bằng trái phép ở đây.
Một trụ điện đè chết người phụ nữ nhặt ve chai xấu số
Xác của nạn nhân được mang ra đi khám nghiệm
Bài, ảnh: SƠN BÌNH

Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010

Tìm hiểu siêu tàu chiến lớp Mistral của Pháp

 

VIT - Các tàu thuộc lớp Mistral là loại tàu đổ bộ tấn công mới của hải quân Pháp, cũng còn gọi là tàu sân bay trực thăng. Đây là loại tàu đổ bộ tấn công, chỉ huy và cơ động lực lượng chớp nhoáng mới của Hải quân Pháp. Chúng sẽ được dùng làm tàu chỉ huy, đổ bộ tấn công, hỗ trợ hậu cần, di tản nhân đạo, bệnh viện dã chiến và thực hiện các sứ mệnh tác chiến hải quân khác.
Không vận

Trên boong tàu lớp Mistral có một sân bay rộng khoảng 6.400 m2, với 6 điểm đỗ cho máy bay trực thăng, một trong số đó có thể dùng cho máy bay nặng 33 tấn. Khoang chứa trên boong có thể bố trí 16 trực thăng, gồm cả khu vực bảo dưỡng có cầu trục. Trên tàu có một hệ thống radar DRBN-38A Decca Bridgemaster E250 và một hệ thống quang học hỗ trợ cất, hạ cánh.

Sân bay trên tàu Mistral
Tất cả các máy bay trực thăng đang được sử dụng trong quân đội Pháp, như NH90, Tigre, Puma, Écureuil, Panther…, đều có thể cất cánh từ các tàu này.

Kích thước sân bay cho phép số lượng  máy bay có thể hoạt động được lên tới 30 chiếc.

Máy bay trực thăng trên tàu Mistral

Vận chuyển đổ bộ

Các tàu Mistral có thể vận chuyển tới 450 quân, với các chiến dịch ngắn hạn có thể tăng gấp đôi lên 900. Khoang chứa xe có diện tích 2.650 m2 có thể chở một tiểu đoàn 40 xe tăng hạng nặng Leclerc, hoặc một thiết đội 13 xe tăng hạng nặng Leclerc và 46 xe các loại khác.


Tàu Mistral and Tonnerre mang đủ hàng cho 450 quân và thủy thủ đoàn
trong hành trình 45 ngày

Khoang chứa trên tàu rộng 885 m2 có thể triển khai được 4 sà lan đổ quân. Các tàu có thể mang 2 tàu đệm không khí (thủy phi cơ) LCAC, tính năng này là để tương thích với Thủy quân lục chiến Mỹ và Hải quân Hoàng gia Anh.


Tàu Mistral mang được 2 tàu đổ bộ đệm không khí

Thủy thủ đoàn của tàu được biên chế 160 người. Một hành trình trên biển thực hiện nhiệm vụ kèm theo vận chuyển quân và trang bị điển hình mất khoảng 2 đến 3 tuần lễ. Tàu Mistral và Tonnerre mang đủ hàng hóa cho thủy thủ đoàn và 450 quân trong 45 ngày giữa các đợt tiếp tế. Tốc độ tối đa là 19 hải lý/giờ và tầm hoạt động là 11.000 km ở tốc độ 14 hải lý / giờ.

Tàu đổ bộ đệm không khí Sabre

Chỉ huy và thông tin liên lạc

Các tàu lớp Mistral có thể dùng làm tàu chỉ huy và điều khiển với một trung tâm chỉ huy rộng 850 m2, có thể tiếp nhận 150 nhân viên công tác. Thông tin từ các thiết bị thu nhận của tàu được tập trung vào hệ thống SENIT (Hệ thống thông tin chiến thuật dùng cho Hải quân), một nhánh của Hệ thống dữ liệu chiến thuật hải quân (NTDS) của hải quân Mỹ.

Hệ thống SENIT 9 dùng trên tàu Mistral dựa trên radar 3 chiều đa chức năng MRR3D-NG của hãng Thales, hoạt động trên băng tần C và tích hợp các khả năng IFF (nhận dạng ta, địch). SENIT 9 cũng được liên kết với các định dạng trao đổi dữ liệu của NATO thông qua các thiết bị kết nối.

Trong chế độ giám sát bề mặt, MRR-3D NG có thể phát hiện các mục tiêu tầm thấp và trung bình ở các khoảng cách tới 140km và các mục tiêu ở khoảng cách tới 180 km ở chế độ cảnh giới không gian 3 chiều tầm xa; trong chế độ tự vệ, nó có thể phát hiện và theo dõi mối đe dọa bất kỳ trong vòng bán kính 60km.

Về thông tin liên lạc, tàu Mistral dùng hệ thống vệ tinh Thales Syracuse III, dựa trên các vệ tinh Syracuse 3-A và Syracuse 3-B của Pháp, chúng đảm bảo cung cấp 45% lượng thông tin liên lạc tần số siêu cao của NATO.

Hỏa lực

Tàu Mistral được trang bị 2 hệ thống tên lửa phòng không MBDA Simbad dùng cho tên lửa Mistral. Hệ thống này được tích hợp hệ thống ra đa dẫn đường hồng ngoại với tầm hoạt động hơn 6 km.

Tàu cũng được trang bị hai khẩu đội pháo phòng không hải quân Breda-Mauser 30mm và bốn súng máy 12,7mm.

Bệnh viện

Trên mỗi tàu trang bị một cơ sở y tế tương đương với một bệnh viện dã chiến cấp sư đoàn hoặc quân đoàn, hoặc bệnh viện đa khoa của một thành phố 250.000 dân, đồng bộ cả nha khoa, chẩn đoán, chuyên gia phẫu thuật và các khả năng y tế, vệ sinh thực phẩm và các khả năng tâm lý học.


Tàu Mistral được trang bị một bệnh viện với 69 giường

Một hệ thống điều khiển y học từ xa dựa trên vệ tinh Syracuse cho phép thực hiện các phẫu thuật chuyên ngành phức tạp.

Bệnh viện có diện tích 900 m2 cung cấp 20 phòng và 69 giường bệnh, trong đó 7 phòng để chăm sóc đặc biệt. Có hai phòng mổ với đầy đủ phòng chụp X quang và siêu âm số, và nó có thể được gắn với một máy quét CT điều khiển từ xa.

Ngoài ra còn có 50 giường bệnh được đặt trong nhà chứa máy bay trực thăng để tăng cường năng lực của bệnh viện trong trường hợp khẩn cấp.

Dẫn động

Mistral là loại tàu chiến đầu tiên của hải quân Pháp hoàn toàn chạy điện và được trang bị 2 bộ dẫn động phương vị điện hình hạt đậu, có khả năng thích ứng với bất kỳ góc độ nào. Công nghệ dẫn động này tạo cho các tàu có khả năng linh hoạt đáng kể, cũng như giải phóng không gian thông thường giành cho máy móc và các trục cánh quạt (chân vịt).


Tàu Mistral được dẫn động bằng 2 bộ dẫn động điện POD

Việc sử dụng các POD là một đột phá mới (thường được dùng trong chế tạo tàu chở khách và tàu thương mại), nhờ nó mà tàu Mistral với  vận tốc khá khiêm tốn là 19 hải lý/h vẫn có thể di chuyển dễ dàng trong điều kiện sóng to, gió lớn.

Hệ thống máy phát điện gồm 3 máy 16V32 và một máy 18V200 chạy diesel cung cấp công suất 20.8 MW.

Hai trong số các máy phát điện 16 V32

Không gian sinh hoạt

Việc dùng các POD cho phép bố trí các không gian sinh hoạt thích hợp mà không bị vướng bởi các đường ống hoặc máy móc. Được bố trí ở phía trước tàu, các khoang của thủy thủ đoàn có thể so sánh được với các khoang hành khách của các tàu du lịch về mức độ thoải mái

Khả năng tác chiến

Người đứng đầu lực lượng Hải quân Nga cho hay, trong vòng 40 phút, tàu lớp Mistral có thể đưa một lượng binh sỹ tới Gruzia mà Hạm đội Biển Đen Nga phải mất 26 tiếng để làm việc đó trong cuộc xung đột ngắn vào tháng 8/2008.

Các thông số cơ bản

Chiều dài:                            199m

Chiều rộng:                          32m

Mớn nước:                           6.2m

Trọng tải tối đa:                   21,300 tấn

Tốc độ:                               19 hải lý /giờ

Máy phát điện:                     3 máy phát chạy diesel 16 V32 (6,2 MW) + 1
                                           máy phát phụ trợ chạy diesel 18V200 (3 MW)

Động cơ đẩy:                      2 động cơ điện (2 × 7 MW) dẫn động
                                           các chân vịt 2x5

Phạm vi hoạt động:              10.800 km (5.800 hải lý) tại tốc độ 18
                                           hải lý / giờ (33 km / h), 19.800 km
                                           (10.700 hải lý) tại 15 hải lý /giờ

Chuyên chở phương tiện:     4 sà lan đổ quân CTM, 2 tàu đệm
                                           không khí (LCAC), 59 xe (bao gồm cả
                                           13 xe  tăng Leclerc) hoặc 1 tiểu đoàn
                                           40 xe tăng Leclerc hạng nặng.

Thủy thủ đoàn:                    160

Chở quân:                           450 (có thể lên 900 trong thời gian ngắn)

Hệ thống thu nhận và xử lý:    Radar cảnh giới MRR3D-NG,
                                          radar dẫn đường DRBN-38A,
                                          2 hệ thống điều khiển hỏa lực

Hỏa lực:                              2 hệ thống tên lửa phòng không MBDA
                                           Simbad, 2 khẩu đội pháo phòng không
                                           hải quân Breda-Mauser 30mm, 4  súng
                                           máy 12,7mm Browning M2-HB.

Máy bay:                             16 trực thăng hạng nặng hoặc 35 máy bay
                                           trực thăng hạng nhẹ; 6 điểm hạ cánh.
NVC (Tổng hợp)
Tin dịch

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2010

Thật - Giả Nhân đạo/ Tôi cần một người ném đá, tôi cần người chửi rủa tôi

Cả đêm tôi ko ngủ được, thật sự không ngủ được. Ngày hôm nay tôi có tiết học từ 8h30 đến 17h30 nhưng đến giờ tôi vẫn ngồi đây và gõ những dòng này

Tôi muốn có một ai đó vào nhà tôi, đọc và xem hình của tôi và chửi mắng tôi thậm tệ.
- Này cái con mụ khốn nạn kia sao lại viết sai sự thật như thế?
- sai thế nào ạ?


- Tại sao mày bảo trẻ em ở đây dơ bẩn. Tao mới đến đó đêm qua, ở đây sạch tưng láng lậy (và cho tôi xem hình ảnh, video ở đó)
- Em xin lỗi. Thế còn bữa ăn của các bé?


- Mày có mù ko chúng ăn toàn thịt cá nấu nướng đàng hoàng
- Em xin lỗi. Thế còn ruồi nhặng?
- Này nhé tao đã cho TT YT dự phòng đến xịt rồi nhé
- Thế còn tình yêu
- Mày thấy ko bé đang được nuôi dạy với 1 cô cho 5 bé và tất cả đều tốt nghiệp sư phạm
- Thế còn ... thế còn...
- Tất cả đều sạch sẽ, tốt đẹp nhá... Mày đừng có ăn nói lung tung nhá
- ..........



.... Cứ như thế. Họ chửi tôi, họ chụp mũ tôi và họ âm thầm thay đổi để lật lại những bằng chứng. Nếu được thì tốt quá. Tôi sẽ sẵn sàng nghe họ chửi bới, nhiếc móc và chỉ nhẫn nhịn "EM xin lỗi" để đổi lấy cuộc sống tốt hơn cho các bé.
Hãy chửi tôi và thay đổi đi


http://katygiahan.multiply.com/journal/item/117/117?replies_read=1

Phỏng vấn tại TTND QH

                            He he he, ảnh minh quạ của tui.( người post)

(tóm tắt thôi nhé, dài quá không có thời gian, đang nhớ con. tất nhiên hai bên hỏi và trả lời đều lịch sự, nhiệt tình và khéo léo chứ ko kiểu như viết dưới đây, và ko đúng thứ tự được - đếch nhớ hết, nhiều quá)

Tiếp đón mình từ đầu cổng (và sơ lược về tình hình) nên mình không tiếp xúc được với ai
- Ở đây có bao nhiêu cháu?
- 322 cháu
- Có bao nhiêu cháu sơ sinh ở phòng này ạ? (chỉ phòng 0-12m)
- Khoảng mấy chục cháu
- Còn phòng này
- Khoảng mấy chục cháu
- Còn phòng này
- Khoảng mấy chục cháu
- ...
- Có bao nhiêu trẻ khuyết tật?
- Mấy chục cháu
- đếm số giường để tổng kết các cháu được ko ?
- ấy, ko được, đông lắm, chúng ngủ dưới sàn
- mẹ hương có hay đến đây không?
- đến thường xuyên
- tại sao mình dùng bỉm cho các cháu 24/24 vậy? vừa tốn kém, vừa hăm đít, nóng các cháu
- ko thế thì ko có người chăm sóc
- các cháu uống sữa gì là chính
- ai cho sao uống vậy
- quần áo các cháu thì sao? ngta ủng hộ bằng tiền hay quần áo?
- Chủ yếu bằng tiền
- có xây dựng gì thêm?
- đang xây, chưa hoàn thiện (dẫn ra xem các công trình có móng và trong đó có một dãy nhà màu tím khoảng 3 phòng nhỏ đã xong nhưng chưa vào ở)
- ai đút cho các cháu bé ăn?
- đứa lớn đút cho đứa bé (thực tế lúc ra thì thấy 20 bé đang ngồi xếp hàng - máy hết pin ko chụp được nhiều, có một cô bé tay cầm que, tay cầm 1 tô và một muổng lần lượt xúc từng muổng đút từng đứa 1). phải đút như thế mới ko sót, chứ đông quá sót (OB)
- đứa bé này mấy tháng?
- (ko trả lời và nói lảng sang chỗ khác)
- ở đây có thống kê thu - chii gì ko ạ
- (không trả lời và nói lảng đi chỗ khác)
- ở đây có thống kê về các cháu không à?
- có cô hành chính nhưng cổ đau bụng và đã về sớm rồi
- dạy dỗ các cháu thế nào?
- đến 8 tuổi và gửi ra ngoài
- các cháu đi học có được miễn giảm?
- ko. một tháng hết 14tr tiền học
- có dạy nghề ko
- có chứ. có tiệm làm tóc nè


Phỏng vấn các cô bảo mẫu
- bé con này mấy tháng mà trông thích nhỉ
- em không biết
- bé này giống con em vậy?
- vâng, con em. cháu 3 tháng và được 6.7kg
- em lớn lên ở đây?
- ko em đi làm ở đây. em vào được 6 tháng. khi nào em bé được 2 tháng em sẽ được trả lương
- em ở đâu
- em ở thái bình vào
- chồng em có ở cùng?
- anh ấy làm ở ngã tư (đếch nhớ) và thứ 7, CN lên với mẹ con em (chỉ vào cậu đang bế nựng con - một đôi rất trẻ)
- thế còn những đứa bé này ở đâu? (giả ngố)
- dạ, ở đây

phỏng vấn bé hoàng (bé rất đáng yêu nhưng gầy giơ xương)
- con mấy tuổi
- dạ 8 tuổi
- sao con ăn sớm vậy?
- để con đi học
- con học ở đâu
- quận 9
- trường con tên gì?
- trường TH ĐInh tiên hoàng
- sao con học xa thế
- hì hì
- ai đưa con đi
- dạ cậu con

phỏng vấn bé làm nghề (tật. lùn. nhỏ xíu. em đang kết các hạt thành giỏ hoa)
- em ở đây lâu chưa
- dạ 8?
- từ năm tám tuổi hay 8 năm rồi
- dạ tám
- em bao nhiêu tuổi
- 25
- thế em k ở đây từ nhỏ?
- không ạ
- em ở đâu đến?
- phú yên ạ
- sao em biết đây để đến?
- ngày xưa các cô chú trong xã nói là có trung tâm này, rồi giới thiệu cho em
- em tự xin vào?
- ko ạ, em đâu có quen mà xin được
- em tên gì
- dạ cúc
- tên đầy đủ cơ
- hì hì
(có lẽ vì vụ PV này nên mình ko được phong bì do diễn xuất ẹ quá)

Khi về thấy OB ghé phòng hành chính bảo họ đưa cho 2 phong bì loại A4 và OB nhìn vào trong kiểm tra. Mình thầm nghĩ chắc ổng đưa cho mình (để mình về báo cáo tốt đẹp để công ty cho tiền) và mình đợi chờ... để khẳng định lại lời Khải đơn vì thấy ổng tận tình đưa ra đến xe. nhưng cuối cùng lại ko đưa. Có khả năng ổng đã nghi ngờ bọn mình (mình và nhỏ bạn đồng nghiệp). Sau đó thấy quay vào nói nhỏ gì đó với cậu bảo vệ.


http://katygiahan.multiply.com/journal/item/113

Thật-giả nhân đạo/ số phận những đứa trẻ tại TTNDQH

 Những tấm ảnh như thế nầy sẽ được dùng để đánh bóng tên tuổi và......?????


Tôi trăn trở và ko sao dứt khỏi hình ảnh về những đứa trẻ tại TTNDQH được. Rời khỏi TT lòng tôi rối bời, với những câu hỏi không lời đáp, với những suy nghĩ làm cách nào để các bé được sống tốt hơn.

Tâm trạng của tôi giống của chị HLH và cứ ước ao mình chưa bao giờ đến đó.

Cảm giác đầu tiên khi bước vào trung tâm là tôi muốn bỏ ngay chữ giáo dục mà trung tâm thường viết hoặc các bài báo viết về trung tâm. Ở đây chỉ có một từ duy nhất là nuôi trẻ, còn nếu muốn ghép từ nào vào với chữ nuôi thì phải là chăn nuôi chứ không phải là nuôi nấng, nuôi dưỡng, hay nuôi dạy được.

Tại thời điểm tôi đến, trung tâm có thể chia làm 3 nhóm:

- Sơ sinh: 0 đến 4 tuổi (chia như thế này chưa chuẩn nhưng các bé ở chung dãy nhà và có cùng đặc điểm chăm sóc như nhau
- Nhỡ: khoảng từ 6 đến 15 tuổi
- Trẻ em khuyết tật và những người khuyết tật: trong đó có một thầy giáo mù còn lại là các bé từ 6 đến 15 tuổi

Tôi không có điều kiện tiếp xúc với hai nhóm sau mà chủ yếu tiếp xúc với các bé nhỏ trong nhóm sơ sinh

Với mỗi phòng chừng 20m2 (cả hành lang) với 26 cháu bé thì quả là điều đáng thương cho các bé. Có khoảng 100 bé từ 0 đến 3.5 tuổi. Các cháu đều khỏe mạnh trừ một bé sứt môi và đã được phẫu thuật. Chữ khỏe mạnh của tôi không hàm ý sức khỏe của các bé tốt mà là các không bị những khuyết tật bẩm sinh.

Vệ sinh căn phòng thì tôi không thể tả được cái bẩn của các phòng các cháu (đặc biệt tại phòng của các bé 0 đến 12 tháng tuổi). Sàn nhà nhớp nhớp, dính dính khi đi chân không bới sữa, bánh kẹo, nước nôi đổ lên. Ruồi bay lung tung, đậu lung tung

Các bé nằm lăn lóc, bò, lê, trườn trên sàn nhà và vớ được cái gì là cho vào miệng. Có bé đưa nguyên cái bóng bay vào nhai nhóp nhép. Bình sữa cho các bé uống lăn long lóc. Các bé tự cầm mút, chán mút quăng ra, rồi lại lượm mút. Trong bình có thể là sữa hoặc có thể là nước. Bé này vứt ra, bé kia lượm mút.

Trên da các bé là những nốt côn trùng và muỗi cắn. Tất cả các bé đều có một màu da tái xanh như nhau và thân hình gầy ốm như nhau theo kiểu đầu to, bụng ỏng, đít beo…. Gân xanh xanh nổi trên tay các bé. Mũi dãi lòng thòng. Ẵm bé lên sẽ nghe được mùi tanh của mũi.

Vì thiếu người chăm sóc nên các bé phải mặc tã giấy 24/24. Điều mà những người chăm sóc bé phải hiểu là làm như thế bé sẽ bị hăm, bị mẩn đỏ, và dẫn đến lở loét. Lúc tắm cho các bé, bạn tôi phụ cởi tã giấy. Những chiếc tã nặng đến nửa ký lô nước đái, những chiếc tã dính đầy phân các bé đã khô. Tôi đoán chừng bé phải ị trước đó cả vài tiếng đồng hồ. Lột tã thấy những cái đít teo tóp, xanh như đít nhái với những đốm đỏ của hăm da làm tôi không khỏi xót xa.

Khi tắm cho các bé đều dùng chung một khăn mùng để chà tắm và dùng chung khăn để lau khô. Làm thế làm sao tránh khỏi dịch bệnh lây truyền. Mùa này là mùa hè, mùa nóng, mùa chuyển mùa, mùa của dịch bệnh. Với cái kiểu vệ sinh như thế các bé liệu có tránh khỏi nhiễm trùng và lây lan rất nhanh trong trung tâm?

Tôi muốn bỏ chữ dạy ra khỏi chữ nuôi bởi bảo mẫu ở đây dường như không được học đến cấp 2 chứ đừng nói được đào tạo về chăm sóc nuôi dạy trẻ. Họ cho trẻ ăn, bú, ngủ theo thói quen. Mà thậm chí có bé đã tự phục vụ được bản thân (tự bò đi lấy bình sữa để đút vào miệng). Họ có thể cũng quá mệt mỏi với cứt đãi sữa sần tắm giặt nên họ không còn biểu lộ được tình yêu với các bé. Tôi không nhìn thấy cảnh cưng nựng bé ở đây dù . các bé trông rất đáng yêu. Khi tôi đi ngang qua các bé các bé đều ôm chặt lấy cẳng chân tôi và nhìn tôi với ánh mắt thiết tha trìu mến và tha thiêt được cưng chiều. Tôi ẵm bé này lên, bé kia nhào đến. Có bé khi tôi lỡ ẵm lâu quá thì sẽ khóc thét lên nếu tôi đặt xuống.

Ở đây các bé (dù có bé lớn rồi 3-4 tuổi) đều ít nói hoặc không nói. Khi tôi ôm các bé và hỏi con mấy tuổi, con tên gì các bé chỉ ngơ ngác nhìn tôi rồi cười theo tôi khi tôi cười với bé. Các bé không nói chuyện ko phải vì các bé nhát mà có lẽ vì các bé không được giao tiếp hàng ngày. Ở tuổi này lẽ ra các bé phải học được khá nhiều thứ rồi chứ. Các bé không có lớp học, không có bàn ghế cho trẻ ngồi học (như con tôi đi học), không có cô giáo dạy học. Tôi nhận thấy ở đây các cô không nói chuyện với bé. Chỉ làm những bổn phận cơ bản để cho nhu cầu tối thiểu của một đứa trẻ là tồn tại. Tôi đồ rằng các bé chưa bao giờ được nghe một bài hát nào về thiếu nhi. Nghĩ đến điều này tôi chỉ muốn quay lại trung tâm ngay ngày mai, ở đó tập trung các bé lại, dạy cho các bé biết hát biết múa. ở cái độ tuổi tập nói này bé sẽ nói những điều rất dễ thương.

Các bé không được dạy tự đi vệ sinh nên dù đã trên 20 tháng vẫn phải mặc tã giấy.

Đọc những dòng canh cánh của chị HTH trên trang web của chị tôi cảm thấy có vẻ những canh cánh của chị không giống canh cánh của tôi. Bởi nếu thế các bé ở đây sẽ không giống như ngày hôm nay tôi nhìn thấy, ôm được, nghe thấy và ngửi thấy. Nghĩ đến con mình, nhìn lại các bé tôi cảm thấy như quên hẳn đứa con đáng yêu ở nhà của mình. Nó được hưởng nhiều quá so với những đứa trẻ ở đây (dù vợ chồng tôi cũng nghèo). Có một điều chị HTH lo lắng đó là tình yêu cha mẹ? Điều này không phải là khó vì TY ấy mình vẫn mang đến được. Đứa trẻ khi bị nhặt ở thùng rác lúc 1 ngày tuổi sẽ không bao giờ biết mẹ mình là ai. Với nó ai cho nó sự yêu thương, ấm áp thì người đó đã là mẹ của chúng.

“Nghèo cho sạch rách cho thơm” dùng cho nghĩa đen ở trung tâm này không có. Mọi thứ ở đây lôi thôi luộm thuộm, không ngăn nắp gọn gàng thì chắc chắn sau này các bé cũng không sống có nề nếp, tác phong , vệ sinh sạch sẽ. Cứ nhìn các phòng của các bé 6-15 tuổi sẽ biết, cứ nhìn gương mặt của các bé ấy sẽ biết. Có thể mọi người cho rằng đông quá lo không xuể. Không phải. Mình phải dạy chúng cách lo cho bản thân một cách tối thiểu chứ. Không lẽ các cô định đi hết đời phục vụ các bé đến khi trưởng thành? Nếu những đứa trẻ này không tự lo liệu cho chính bản thân chúng thì ra đời chúng làm được những gì? Cho ai?
Cái mà tôi thấy ở đây là cơ sở vật chất tuy chật hẹp những điều đó ko có nghĩa là ko cải thiện cho nó sạch sẽ được.

Những đứa trẻ ấy sẽ như thế nào? Tất nhiên chúng sẽ tồn tại. Nhưng chúng chỉ được hưởng thế thôi sao? Chỉ tồn tại lay lắt như thế? Tương lai chúng như thế nào? Chúng có thể được hưởng hơn thế nữa? Tôi nhìn thấy sự khác biệt 100% giữa những bức ảnh chụp chị HTH và những đứa bé tôi chứng kiến ngày hôm nay.

Tôi có nói oan cho trung tâm?
(Tôi tường thuật lại chuyến viếng thăm này với những mớ ngổn ngang trong lòng và viết để cho nó ra bằng hết nên tôi ko thể sắp xếp trật tự cho logic được. Nhớ đến đâu viết đến đó, nhớ chỗ nào viết chỗ đó và ko có thời gian chỉnh sửa lại)


http://katygiahan.multiply.com/journal/item/114/114 

Trên đây là tự sự của một bạn trẻ, cũng có con nhỏ như các cháu trong bài. Bạn đã cất công lên tận Trung Tâm Nhân Đạo quê Hương để đi tìm sự thật.

Phép tính về Huỳnh tiểu Hương

Chúng tôi đã mở hẳn chuyên trang để tìm hiểu thêm về Trung tâm Nhân Đạo Quê Hương của bà Huỳnh Tiểu Hương, nhằm tránh cho bà con bị lừa vì chiêu bài từ thiện. Xin xem tiếp ở đây:
http://caulongbachai.multiply.com/journal/item/3411/3411 
 
A- Thu :


- Ngày 24/11/2009 số liệu kiểm tra do chính bà Hương xác nhận là 14 tỷ 7
- Trung tâm có thu nhập từ nước đóng chai là 120 triệu đồng tháng .
Như vậy tổng thu nhập từ khi mở trung tâm là: 8 năm.
+ Thu từ các nhà hảo tâm : 14.7 tỷ
+ Nước đóng chai : 120 Tr x 12 x 8 năm x 80% = 9 tỷ 216 triệu
Tương thu nhập làm tròn 24 tỷ.

B- Chi :
1- Chi cơ sở vật chất :
- Mua đất bình dương 4.200 m2 x 150.000 đ.m2 ( thời điểm 2001)= 630.000.000 VNĐ
- Cơ sở hiện tại cho đến 2010 diện tích xây dựng :
+ Cũ 450 m2 x 800.000 đ/m2 ( thời điểm từ 2001-2006)= 360.000.000 đồng
+ Mới 120 m2 * 4 tầng * 1.800.000đ/m2 = 846.000.000 đồng
+ Nhà ăn, bếp 150 m2 * 650.000đ/m2 ( thời điểm 2010)= 97.500.000
- Hệ thống kỹ thuật, điện nước : 150.000.000
- Sân bãi : 1000 m2 * 120.000 đ/m2 = 120.000.000
Tổng hợp chi phi khái toán cơ sở vật chất : 2 tỷ 203 triệu
2- Chi ăn uống chăm sóc trẻ:
Giai đoạn 1 : 2001-2006 là 5 năm, quân số trên trang web của HTH là 120 cháu và 38 bảo mẫu.
Lương bảo mẫu : 38 người * 800.000/tháng * 12 tháng * 5 năm= 1.824.000.000
Chi ăn cho trẻ : ( Theo trang web của HTH xin ủng hộ 1500 USD/ tháng cho các cháu là 327 cháu) Quy ra là 3.333 đồng / ngày)
120 * 3333 đồng/ cháu * 30 ngày *12 tháng * 5 năm =719.928.000 VND
Chi phí khác ăn theo : 30% * 719.928.000 = 215.978.400 VND
Giai đoạn 2 : 2006-2009 : 3 năm quân số 320 cháu 56 bảo mẫu và bảo vệ .
Lương người lớn: 56 * 1.800.000 *36 tháng= 3.628.800.000 VNd
Chi ăn cho trẻ : 320 cháu *3.333 đ/ngày * 30 ngày *36 tháng= 1.151.884.800 VND
Ăn theo chi phí khác 30% : 345.565.440 VND
Tổng chi phí :
Cơ sở vật chất : 2 tỷ 203 triệu
Chăm sóc trẻ : 7 tỷ 886 triệu
TỔNG CHI PHÍ : 10 TỶ 089 TRIỆU ĐỒNG VIẾT NAM.
QUY RA LỢI NHUẬN : 24 TỶ - 10 TỶ 1 = 13 TỶ 900 TRIỆU
ĐÂY CHÍNH LÀ MẤU CHỐT CỦA VẤN ĐỀ CẦN PHẢI ĐƯA RA- THẾ NÀY RÕ RÀNG MÙI BUÔN BÁN TỪ THIỆN ĐÃ HIỆN HÌNH.
Tàm tạm khái toán như vậy- nếu thanh tra vào cuộc sẽ lòi ra nhiều hơn nữa.....liệu còn có phi vụ bán người buôn trẻ nào nữa không thì vẫn là một câu hỏi bị bỏ ngỏ.


http://holanhuong.multiply.com/journal/item/1015/1015

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

Bài phỏng vấn giáo sư Charles Montdrict


Vừa qua trước những bức xúc của bàn dân thiên hạ về tình trạng thấm nước của hầm ngầm Tê Tái. Chúng tôi đã thực hiện buổi phỏng vấn Phó chủ tịch Hội Cầu Hầm thế Giới, Chủ tịch hội Cầu Hầm VN ở hải ngoại, Giáo sư Tiến sỹ Chạt Lờ Mông Đít.
Thưa GS xin ngài cho biết lý do vì sao hầm ngầm bị thấm nước?
GS Mông Đít: Về vấn đề nầy chúng ta phải thấy rỏ là hầm bị nứt và có nứt thì nước mới vô được. Còn bị nứt và tại sao bị nứt thì ta phải quay về lại nơi đã sinh ra nó. Và đó cũng là nới đã sinh ra vết nứt!
Thưa GS tại sao ngài lại cho là vết nứt có từ thời còn ở Long Thanh, là nơi hầm được đúc ra?
GS Mông Đít: Ta có thể khẳng định một điều là có tới 2 nguyên nhân dẫn đến điều đã nói ở trên, đó là:
2/ nguyên nhân chính trị
Mà trong đó nguyên nhân chính trị là nguyên nhân then chốt!
Để thấy được điều nầy cho rỏ ràng chúng ta cần phải ngược thời gian 2 năm trước lúc vết nứt bắt đầu xuất hiện. Lúc đó rất dễ dàng xử lý. Đại để chỉ cần đập béng nó đi, làm lại cái mới theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật là được.
Nhưng đúng vào giai đoạn then chốt, quyết định, thì xuất hiện nguyên nhân chính trị: ông Sếp công trình bị bắt vì tội nhòm ngó tiền của nhà nước.
Thế là đám chuyên gia im thin thít, không ai dám lên tiếng, vì sợ bị liên lụy. Trước tình hình đó những quan thầy còn lại đã chửa cháy bằng phương pháp xịt keo theo công nghệ Nanô. Phương pháp nầy có cái lợi là nhanh gọn, rẽ tiền và quan trọng nhát là không làm chậm tiến độ thi công. Đồng thời theo các thầy dùi thì đây nhất định sẽ là lá bài tẩy để cứu Sếp.
Quả nhiên y như trong kinh, ngay sau khi lắp đặt, ráp nối thành công thì cũng là lúc nó bắt đầu rướm nước. Và hay ở chổ thấm từng ít một, ngày một tăng dần như để ngả giá: Thả Sếp tui ra cho ổng xử lý, nếu không tui sẽ thấm tới chừng nào sụm bà chè mới thôi!
Thưa GS: như vậy nếu thả ông Sếp ấy ra, ổng sẽ xử lý ra sao?
GS Mông Đít: đơn giản thôi ổng sẽ ra lệnh tháo hầm ra đem về Long Thanh để xử lý bằng phương pháp mặc áo giáp. Nghĩa là làm cho hầm một bộ áo giáp bằng thép, hàn kín xung quanh bằng công nghệ hàn kỹ thuật cao, chớ không chỉ hàn dính lại cho đẹp như mấy cha thợ dỏm đã làm lúc ráp 2 đốt hầm lại với nhau ở Thu Thiem.
Thế là xong, tuy có tốn thời gian và tiền bạc chút đỉnh, nhưng còn hơn đập bể làm lại từ đầu. Mà thời gian xử dụng cũng còn được 3,4 chục năm sau.
Thật tuyệt vời thưa GS, xin ngài cho được hỏi câu cuối: theo GS như vậy chúng ta có nên thả ông Sếp ấy ra cho mọi chuyện đều tốt đẹp không ạ?
GS Mông Đít: Vớ vẩn, giờ đã biết cách xử lý rồi thì còn thả ông ấy ra làm gì cho dân chửi.
Xin cám ơn Giáo Sư.
Xu Việt Nam thực hiện

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2010

Chào – không còn gặp lại một nơi lịch sử từng đi qua


SGTT - Quán cà phê Trieste (*) ở San Francisco cứ ám ảnh tôi mãi. Nó chỉ là cái quán nhỏ nằm ở góc phố Vallejo-Grant được mở từ năm 1956, bởi một người Ý nhập cư, nhưng từ đây lịch sử một địa chỉ văn hoá lừng lẫy được hình thành. Nó là nơi lui tới của nhiều nhà thơ, nghệ sĩ danh tiếng. Nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel Văn chương Joseph Brodsky gạch gạch xoá xoá những vần thơ của mình. Một chiếc bàn gỗ nhỏ góc phòng còn phảng phất bóng dáng Francis Ford Coppola ngồi gọt giũa kịch bản The Godfather những năm 70… Chính họ, những ẩm khách danh tiếng đã biến càphê Trieste thành một địa chỉ văn hoá mà bất cứ du khách nào quan tâm đến nghệ thuật đều mong muốn bước vào.
“Nhứt là đường Ca-ti-na
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
Bực thềm lót đá sạch tinh
Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều
...”
(Nam Kỳ phong tục diễn ca - Nguyễn Liên Phong).
Ảnh chụp trước Givral, năm 1956
Về Sài Gòn, tôi bỗng nhớ khôn nguôi những quán càphê của mình, những nơi lẽ ra cũng phải trở thành địa chỉ văn hoá, phải được gìn giữ và bảo tồn cho một thành phố thu hút du khách mọi nơi không chỉ vì cái danh xưng cố tình bị thu nhỏ – thành phố “kinh tế” – mà còn ẩn hiện đầy ấn tượng trong cuộc sống tinh thần của nhiều thế hệ thanh niên, những cánh cửa văn hoá tưởng như không toan tính nào đủ sức niêm phong, hay xoá mờ. La Pagode – quán cà phê “Cái chùa” từng nằm trên góc ngã tư Lê Thánh Tôn – Tự Do (trước nữa là d’Espagne và Catinat, nay là Đồng Khởi) đã mất đi từ lâu. Nó chính là nơi nhiều gương mặt danh tiếng nhất về văn chương, thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, cũng như những tên tuổi lớn trong các hoạt động văn hoá xã hội của Sài Gòn một thời thường có mặt. Hoà bình đã 35 năm, những ngộ nhận ấu trĩ – hay giả vờ nhìn nhận là ấu trĩ – có lẽ đã đi qua, hay ít nhiều không còn nặng nề như thời tiếp quản thành phố. Tiếc thay, La Pagode đã biến mất, biến mất vĩnh viễn. Brodard – một quán kiểu Pháp danh tiếng khác của Sài Gòn cũng không còn là Brodard nguyên thuỷ: nó đã thay tên và thay cả kiến trúc. Cái còn lại trong “bộ ba” danh tiếng ấy (nếu không kể một địa điểm danh tiếng nữa của Sài Gòn mà tôi chỉ nghe nói chứ chưa hề có dịp đặt chân tới vì còn quá nhỏ: La Croix du Sud, cũng trên đường Catinat), là Givral – nơi khi chọn làm bối cảnh một trường đoạn của bộ phim Người Mỹ trầm lặng, đoàn làm phim đã không ngại tốn kém, bắt buộc phải dựng lại đúng màu sơn, đúng hình dáng của nó ở thập niên 1960 – 1970. Ngay cả khách sạn phía đối diện, là Hotel Continental, một địa điểm khác xuất hiện trong bộ phim dựa theo tác phẩm văn học của Graham Greene, cũng phải trở lại kiến trúc thời ấy. Thật dễ hiểu: các nơi này vừa là địa điểm văn hoá, vừa là những địa chỉ có thật trong bước đi của lịch sử. Nhà báo và tình báo Phạm Xuân Ẩn ở Sài Gòn từng chọn Givral làm chỗ ngồi thường xuyên, cũng như vô số nhà báo trong và ngoài nước những năm chiến tranh Việt Nam: họ chọn địa điểm này để nhâm nhi, quan sát và thu thập tin tức báo chí mỗi ngày, muốn gặp nhau thường khi khỏi phải hẹn trước…
Những ngày Givral chuẩn bị đóng cửa, tôi thường ra đây kéo ghế ngồi một mình. Quy hoạch một thành phố, chỉnh trang một thành phố, phát triển một thành phố tất nhiên là việc cần thiết, nhưng có cách nào để bảo tồn những nơi chốn đã trở thành di sản tinh thần của cộng đồng.
Đất nước Cuba trải qua nhiều năm chiến tranh khốc liệt, đã khoác lên mình nhiều chiến bào khác biệt, đã kinh qua nhiều cuộc cải cách đầy “khí thế cách mạng” triệt để. Người Cuba, ngay cả giữa thủ đô La Habana, nghe nói là cuộc sống hãy còn nhiều thiếu thốn vất vả, với hình ảnh những chiếc xe bò chạy thay cho xe tải, nhưng không một địa chỉ văn hoá nào trên đất nước này bị cuốn theo cơn lốc đổi mới kiểu quê mùa giả tạo, và những ai thiết tha với không khí văn hoá Cuba vẫn có cơ may tìm lại nó dễ dàng, chẳng cần phải qua những lễ hội trống kèn nhang khói, mà chính trong cuộc sống ngày thường.
Ôi, hãy tưởng tượng một người Paris một sáng ra phố, bỗng thấy ở cái chỗ bao nhiêu năm là nơi có cái bảng hiệu Café des Deux Magots, hay Café de Flore, nay đã không còn.
Givral cũng như La Pagode, Brodard, hay La Croix du Sud trên đường Catinat ngày nào, là một trong những địa điểm mà vô tình, một cách nào đó, lịch sử đã đóng dấu ấn lên cả những chiếc ghế ngồi.
Givral. Xin vĩnh biệt cái quán góc phố nơi ngày còn nhỏ ta từng được mẹ nắm tay dẫn qua trên hè phố Sài Gòn…

Đỗ Trung Quân
SGTT Online