Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

KHI CÁC GIÁO SƯ TIẾN SỸ BỊ BÁC SỸ CHÊ....

VN phát triển kinh tế theo mô hình nào?

Theo GS Trần Minh Đạo, trong giai đoạn đầu xây dựng CNXH, cơ chế vận hành thích hợp nhất của nền kinh tế vẫn là cơ chế thị trường. Cụ thể là: “Kinh tế thị trường XHCN Việt Nam”


Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát được khẳng định tại Đại hội Đảng IX. Mô hình này đã phù hợp chưa? Nếu thay đổi thì thay đổi như thế nào? Làm thế nào để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội...?. Những câu hỏi này đã được đặt ra tại hội thảo khoa học quốc gia “Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN” do Hội đồng Lý luận Trung ương và ĐH Kinh tế Quốc dân tổ chức ngày 22-9.

Mô hình tăng trưởng hiện tại đã tới ngưỡng


Theo GS Lê Du Phong, nguyên hiệu trưởng ĐH Kinh tế Quốc dân, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN mà VN theo đuổi trong hơn 20 năm qua đã tạo những động lực hết sức mạnh mẽ, giúp VN thoát ra nhanh chóng khỏi khủng hoảng kinh tế và đạt được những thành tựu rực rỡ. Tuy nhiên, nó cũng khiến việc đổi mới tư duy kinh tế không được triệt để vì luôn phải đắn đo xem có chệch định hướng hay không. “Trong 10 năm tới, nếu vẫn duy trì mô hình kinh tế như hiện nay, chắc chắn nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển”- GS Phong nói.


GS-TS Nguyễn Văn Nam, Hiệu trưởng ĐH Kinh tế Quốc dân, cảnh báo yếu tố kinh tế thị trường đang lấn át định hướng XHCN khi khoảng cách giàu nghèo lớn, phân hóa giàu nghèo ngày càng dãn ra. Theo GS-TS Nguyễn Văn Nam, do nội hàm định hướng XHCN chưa rõ nên dẫn đến chưa có những đổi mới triệt để trong tư duy kinh tế và thể chế chính trị. 

Kinh tế VN thời gian qua dù tăng trưởng nhanh nhưng hiệu quả thấp. “Mô hình tăng trưởng đã đạt đến ngưỡng, dẫn đến khả năng cạnh tranh của quốc gia còn ở mức thấp. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, những nhược điểm trong mô hình tăng trưởng kinh tế của VN đã bộc lộ hoàn toàn”- GS Nguyễn Văn Nam “chốt” lại.


Một mô hình riêng của VN


Nhận xét về các mô hình phát triển kinh tế trên thế giới, GS Trần Minh Đạo cho rằng: “Kinh tế thị trường tự do Mỹ là nơi khởi nguồn của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản thì nhiều năm nay rơi vào vòng xoáy suy thoái vẫn chưa thoát ra được. Kinh tế thị trường XHCN đặc sắc Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu, luôn có tốc độ tăng trưởng cao kể cả trong khủng hoảng hiện nay nhưng cũng chứa nhiều khuyết tật...
Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trường xã hội Cộng hòa Liên bang Đức và mô hình kinh tế thị trường EU - gọi chung là mô hình CNXH dân chủ tỏ ra thành công nhất, phát triển ổn định nhất nhưng cũng không thích hợp vì trình độ phát triển kinh tế - xã hội và trình độ văn minh của VN còn thấp xa so với các nước đó”.


Đặc trưng của “mô hình kinh tế thị trường VN hiện đại” là nền kinh tế thị trường hiện đại nhằm bảo đảm dân giàu, nước mạnh... Trong ảnh: Người dân mua sắm tại siêu thị Co.opMart Cống Quỳnh - TPHCM. Ảnh: T.THẠNH


Do đó, theo GS Trần Minh Đạo, trong giai đoạn đầu xây dựng CNXH, cơ chế vận hành thích hợp nhất của nền kinh tế vẫn là cơ chế thị trường. Cụ thể là: “Kinh tế thị trường XHCN Việt Nam” – một nền kinh tế thị trường hiện đại, văn minh, bảo đảm công bằng xã hội hợp lý, quan hệ con người mang tính nhân văn cao, có chế độ phúc lợi phù hợp và tiến bộ, phát triển phù hợp, ổn định và bền vững.



Những luận cứ khoa học của các học giả tại hội thảo sẽ được tiếp thu để bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 và Báo cáo chính trị, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 trình Đại hội Đảng XI.
GS Nguyễn Văn Nam đề xuất đặc trưng của “mô hình kinh tế thị trường VN hiện đại” là dựa trên cơ sở nền công nghiệp tiên tiến, phát triển hài hòa và bền vững giữa kinh tế - xã hội và môi trường; khuyến khích sự sáng tạo và phát triển vì con người; lấy công bằng xã hội làm định hướng trong mục đích chính trị và kinh tế; kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế.

Còn theo GS Lê Du Phong, đặc trưng của “mô hình kinh tế thị trường VN hiện đại” là nền kinh tế thị trường hiện đại nhằm bảo đảm dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Không đưa ra mô hình cụ thể, PGS-TS Ngô Doãn Vịnh (Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch – Đầu tư) gợi ý gần đây Trung Quốc đưa ra khái niệm phát triển xã hội hài hòa. Đó là sự phát triển bảo đảm các mối quan hệ kinh tế - xã hội và môi trường vận động theo quy luật khách quan, đem lại hiệu quả cả trước mắt và lâu dài


Các nền kinh tế vẫn chưa thể hiện rõ mô hình phát triển
Theo Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, mô hình phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa thời gian qua là đề cao quá mức sức mạnh của thị trường, coi tự do hóa và thị trường tự điều tiết là trên hết, vai trò của Nhà nước chỉ là thứ yếu. Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới vừa qua chính là sự đổ vỡ của mô hình kinh tế thị trường tự do mới. Hiện tại, phần lớn các nền kinh tế vẫn chưa thể hiện rõ mô hình phát triển thời hậu khủng hoảng song việc tái cấu trúc nền kinh tế là bắt buộc.

CHÔNG CHÊNH?






id
Hôm nay đọc bài:VN phát triển kinh tế theo mô hình nào? trên báo Lao Động mà thấy buồn. Buồn vì các nhà khoa học tầm cỡ GSTS nhưng có những kết luận và ý kiến rất không chuyên nghiệp trong lĩnh vực họ đang đảm nhiệm. Tôi không hiểu tại sao những người có bằng cấp cao nhất và đang là những người có trách nhiệm truyền thụ kiến thức cho các thế hệ Trẻ tương lai đất nước này lại có những nhận định rất mất căn bản về học thuật và khoa học như thế?

Như tôi đã viết rất ngắn trong một bài về "Khủng hỏang kinh tế thị trường tư bản" là nguyên nhân khủng hỏang lần này cũng chính là nguyên nhân khủng hỏang của 1929-1933 của thế kỷ trước. Bắt đầu từ lòng tham và tham vọng của các cường quốc cũng như các thành viên trong cộng đồng chung của thế giới đã làm cung vượt quá cầu. Đây là mấu chốt của vấn đề khủng hỏang kinh tế tòan cầu. Từ đó, ngồi mà tư duy và đưa ra những kết luận và đường đi cho xã hội Việt.

Có vẻ như các nhà trí thức trường lớp đang sợ Quyết định 97 của TTg. Vì thế mà họ chỉ biết nói theo lề để mong muốn được nhờ ơn mưa móc nhiều hơn là nói với lương tâm và sự hiểu biết? Trong khi đó, quyết định 97 của TTg chỉ là một khẳng định lạihành lang pháp lý về mặt lãnh đạo của đảng Cộng sản Viện Nam đối với các tổ chức, hội đoàn ... chứ không phải là cấm phản biện của các cá thể độc lập và các tổ chức, tập thể có cơ quan đầu ngành quản lý về mặt chính quyền.

Đây là một vấn đề cần bàn và cần các nhà có học thức trong xã hội phải có tư duy độc lập để góp ý. Còn những góp ý và họp thảo luận như bài báo Lao động đưa tin thì xã hội và đảng CSVN chẳng cần. Vì một thực tế sinh động đã và đang chứng minh mô hình xã hội Việt Nam đang dùng là lỗi thời và không còn phù hợp với tiến trình phát triễn của nó nữa mà ai cũng thấy. Điều đáng nói nhất làGS Nguyễn Đức Bình đã tự mâu thuẩn với mình khi phát biểu rằng ông ủng hộ khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” nhưng không ủng hộ cách gọi đó là “mô hình tổng quát của thời kỳ quá độ”. Nhưng ông lại nhấn mạnh rằng: “Kinh tế thị trường tự bản thân nó không mang thuộc tính định hướng XHCN. Trái lại, thuộc tính tự nhiên của nó là tiến lên chủ nghĩa tư bản”. Và làm sao có cái gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa khi cơ sở hạ tầng của xã hội Việt Nam là nền kinh tế thị trường hả các GSTS, các nhà danh giá uyên thâm về lý luận của Việt Nam? Người ta đã từng duy ý chí rằng bỏ qua giai đọan phát triễn tư bản chủ nghĩa và đã sụp đổ. Cái gì thuộc về qui luật thì không nên làm trái. Làm trái với qui luật thì có bao nhiêu tai họa đổ lên đầu người dân lương thiện mà ai cũng đã từng trãi nghiệm chưa thấy sao?

Nên nhớ rằng:"Tất cả mọi phát minh của lòai người từ trước đến nay về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên đều là công việc đi tìm lại những cái đã có sẳn trong cuộc sống. Hay nói cách khác là con người chỉ chạy theo những gì tự nhiên và xã hội đã diễn tiến, chứ chưa ai có khả năng tiên đóan và làm ra cái có trước tự nhiên và xã hội sẽ đi đến". Vì vậy, các nhà xã hội học của Việt Nam hiện tại phải luôn khám phá và đưa ra các qui luật phù hợp với những gì xã hội phát sinh một cách kịp thời thì xã hội mới ổn định.

Thế mới thấy rằng câu nói của đại thi hào Đức Johann Wolfgang von Goethe: "Lý thuyết là một màu xám xịt, mà cây đời mãi mãi xanh tươi". 

http://bshohai.multiply.com

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Những ngộ nhận về học vị tiến sĩ


Hai tuần qua, dù bận đi công tác ở bên Mĩ, tôi vẫn thỉnh thoảng vào mạng đọc báo để theo dõi tình hình trong nước, và thấy nhiều sự kiện mà tôi rất muốn bình luận nhưng vì quá bận rộn nên đành “lực bất tòng tâm” do không có thì giờ. Hôm nay, việc phó hội cũng đã xong xuôi, nên lại có thì giờ để góp nhặt vài lời để gọi là “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Hôm nọ, đọc một tin rất lạ mà thoạt đầu tôi mỉm cười một mình vì nghĩ rằng phóng viên có trí tưởng tượng phong phú quá: đó là bản tin cho biết “Hà Nội mong 100% cán bộ Thành ủy ‘quản’ là tiến sĩ”. Nhưng tôi nghĩ sai: phóng viên tường thật hoàn toàn chính xác về chủ trương của chính quyền và đảng ủy Hà Nội, vì hôm sau có một quan chức của Sở nội vụ Hà Nội lí giải rằng cần phải “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”. Vị quan chức này, với danh xưng tiến sĩ, chính là tác giả của “Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền thành phố”.

Nếu xem chủ trương nâng cấp 100% cán bộ diện thành ủy có bằng tiến sĩ thì quả thật ông tiến sĩ này có tư duy đột phá. Nhưng chữ “đột phá” ở đây phải hiểu là phá hoại cái ý nghĩa của học vị tiến sĩ một cách đột ngột. Để hiểu cách diễn giải đó, thiết tưởng tôi có nhiệm vụ giải thích mục tiêu và ý nghĩa của học vị tiến sĩ.

Học tiến sĩ để làm gì ?

Học vị tiến sĩ thường dành cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Để dấn thân vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học, học vị tiến sĩ là một “giấy thông hành” quốc tế, cũng giống như muốn hành nghề kĩ sư thì phải có bằng kĩ sư. Cố nhiên cũng có một số người tham gia nghiên cứu khoa học dù họ không có học vị tiến sĩ, nhưng đây là những trường hợp ngoại lệ. Do đó, trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải làm quen với những kĩ năng cơ bản như phát hiện vấn đề, cách đặt giả thuyết, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu (kể cả đo lường), phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, v.v… Đây là những kĩ năng mà bất cứ một nghiên cứu sinh tiến sĩ nào cũng phải có sau khi xong chương trình đào tạo.

Do đó, để có được học vị tiến sĩ, thí sinh phải làm nghiên cứu khoa học một cách nghiêm chỉnh. Hai chữ “nghiêm chỉnh” ở đây rất quan trọng trong trường hợp Việt Nam, bởi vì rất rất nhiều nghiên cứu khoa học ở trong nước chẳng những không nghiêm chỉnh mà còn phạm quá nhiều sai sót. Điều này cũng có nghĩa là nếu muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị kinh doanh, quản trị hành chính, thì học vị tiến sĩ không cần thiết, và thí sinh không nên tốn thì giờ để đạt được học vị này.

Học vị tiến sĩ dành cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng. Học vị tiến sĩ là một “chứng từ” để theo đuổi sự nghiệp khoa bảng (academic career). “Khoa bảng” ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng cơ hội tiến thân trong các nấc thang khoa bảng ngày nay cho những cá nhân như thế không mấy cao. Nhiều trường đại học lớn trên thế giới đòi hỏi các giảng viên và giáo sư hay các nhà nghiên cứu phải có học vị tiến sĩ. Tại sao? Tại vì họ muốn đảm bảo trường đại học có đầy đủ chuyên gia để giảng dạy các môn học cấp cao và bắt buộc các chuyên gia này phải làm nghiên cứu khoa học. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng không phải ai có bằng tiến sĩ đều có thể trở thành giáo sư.

Do đó, nếu thí sinh muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị doanh nghiệp, kĩ nghệ và khoa học (như muốn làm giám đốc doanh nghiệp, giám đốc các cơ sở khoa học) hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì thí sinh không nên theo học chương trình tiến sĩ, mà nên theo học chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh hay quản trị hành chính (MBA – Master of Business Administration). Tôi biết ngày nay có đại học đưa ra chương trình huấn luyện Tiến sĩ quản trị hành chính (Doctor of Business Administration), nhưng mục tiêu vẫn là đào tạo nhà nghiên cứu và giáo sư. Xin nhắc lại: cốt lõi của học vị tiến sĩ, và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác, là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị.

Những ngộ nhận về tiến sĩ

Do đó, chủ trương hướng tiến sĩ hóa cán bộ hành chính thể hiện một sự hiểu lầm về mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Chủ trương này sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều người tìm cách theo học để lấy được một học vị tiến sĩ, nhưng động cơ của việc theo học thì lại quá sai lầm. Những sai lầm về động cơ theo học tiến sĩ, theo tôi, có thể tóm lược trong những ngộ nhận phổ biến sau đây:

Ngộ nhận 1: nhiều người hiểu lầm rằng học vị tiến sĩ sẽ tự động đem lại uy danh cho cá nhân. Hầu hết các thí sinh đã đạt được văn bằng tiến sĩ đều cảm thấy tự hào về nỗ lực và kết quả của việc phấn đấu trong học hành nghiên cứu. Tuy nhiên, thí sinh phải hiểu rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có thể làm việc với nhiều nhà khoa học khác cũng có bằng tiến sĩ. Học vị tiến sĩ mới chỉ là bước đầu vào nghiên cứu khoa học, là một minh chứng rằng người có bằng đó “trưởng thành” trong khoa học, chứ nó (văn bằng tiến sĩ) chẳng đem lại uy danh cho người có học vị nếu người đó không có công trình nghiên cứu nào có giá trị.

Ngộ nhận 2: ý kiến của một cá nhân được nâng cao chỉ vì cá nhân đó có văn bằng tiến sĩ. Nhiều người tin rằng một khi họ có văn bằng tiến sĩ trong tay, công chúng sẽ tự nhiên kính trọng ý kiến của họ. Nhưng niềm tin này chỉ là hoang tưởng. Người có học vị tiến sĩ có thể am hiểu và uyên bác về một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó, nhưng không phải là chuyên gia của mọi vấn đề khác. Sự kính trọng phải được chứng minh qua hành động và bản lĩnh của người phát biểu, chứ không tự động mà có được qua danh xưng “tiến sĩ”.

Ngộ nhận 3: học vị tiến sĩ là mục tiêu sau cùng trong học hành, nghiên cứu. Học vị tiến sĩ chuẩn bị thí sinh vào sự nghiệp nghiên cứu. Nếu thí sinh chỉ muốn có mảnh giấy để treo trên tường thì không nên theo đuổi học vị tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có cơ hội để so sánh thành quả của mình với các nhà khoa học khác. Thí sinh sẽ nhận thức rằng cái được “tính sổ” không phải là danh xưng hay học vị tiến sĩ, mà là nghiên cứu khoa học do chính thí sinh tiến hành và hoàn tất.

Ngộ nhận 4: học tiến sĩ để gây ấn tượng trong gia đình và bạn bè. Người thân trong gia đình và bạn bè thí sinh có lẽ rất hồ hởi và tự hào khi thí sinh vào học chương trình tiến sĩ, bởi vì họ nghĩ thí sinh sẽ trở thành một ông nghè, một “doctor” trong tương lai. Nhưng văn bằng tiến sĩ chỉ là giấy thông hành cho nghiên cứu, chứ không phải để lấy le với người thân, bạn bè hay với xã hội. Không phải lúc nào cũng đòi người khác phải gọi mình là ông / bà “tiến sĩ”.

Ngộ nhận 5: học vị tiến sĩ là cái cớ để thử trí thông minh. Nhiều người nghĩ rằng học tiến sĩ là một thách thức và họ muốn chơi trò thách thức xem tri thức của mình cỡ nào. Rất tiếc, quan điểm này sai, bởi vì chương trình huấn luyện tiến sĩ không phải để thí sinh cân não hay để thử khả năng tri thức. Ngoại trừ thí sinh dành trọn thì giờ và dấn thân vào học hành để đỗ đạt, thí sinh sẽ không thể nào có được văn bằng tiến sĩ chỉ vì mình “thông minh”. Như nói trên, thí sinh phải làm việc nhiều giờ trong ngày, phải có khi thức đêm trong phòng thí nghiệm hay thư viện, phải chuẩn bị đương đầu với những thất bại, phải chuẩn bị động não để học cái mới và suy nghĩ cái mới.

Ngộ nhận 6: học tiến sĩ để kiếm nhiều tiền. Thí sinh tốt nghiệp tiến sĩ thực ra không có lương bổng cao hơn các thí sinh với bằng cử nhân hay người công nhân bình thường trong hãng xưởng. Xin nhắc lại: học tiến sĩ là để trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cái quan tâm đầu tiên của nhà khoa học là sự thật, chứ không phải sự giàu có về tiền bạc. Tất nhiên, có nhiều khi sự thật và khám phá cũng đem lại một nguồn tài chính lớn cho nhà nghiên cứu. Nhưng nói chung, đó không phải là mục tiêu để theo học tiến sĩ.

Ngộ nhận 7: học tiến sĩ là một lựa chọn tốt nhất. Cống hiến cho xã hội có nhiều cách và cuộc đời có nhiều lựa chọn, và học vị tiến sĩ chỉ là một trong số hàng trăm lựa chọn đó. Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi đọc phát biểu này, nhưng đó là một thực tế. Thật vậy, đối với nhiều thí sinh, học vị tiến sĩ có thể là một lựa chọn sai lầm! Thí sinh phải tự hỏi mình muốn làm người lãnh đạo trong những người có văn bằng thạc sĩ, hay là làm một nhà nghiên cứu tầm thường. Thí sinh phải biết và quyết định mình muốn gì, và nghề nghiệp nào sẽ kích khích mình nhiều nhất hay đem lại hạnh phúc cho mình nhất.

Đột phá tư duy ?

Quay lại câu nói bất hủ (“Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”) tôi muốn trích lại lời thuật của Gs Đặng Phong (trong trang blog của Huy Đức) như sau: “Một lần, ông Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đến thăm xí nghiệp đánh cá Vũng Tàu-Côn Đảo, một điển hình đổi mới lúc đó. Xí nghiệp này khi sắp bị phá sản đành phải mời một ông chăn vịt vốn là người thạo nghề đánh cá hồi trước 1975 làm giám đốc. Ông đòi được toàn quyền ‘khoán’ cho xã viên và xí nghiệp trở nên làm ăn rất hiệu quả.” Gs Đặng Phong kể tiếp: “Sau khi thăm và hỏi chuyện ở Xí nghiệp, ông Viện trưởng Viện Hàn Lâm Liên Xô hỏi các cán bộ ở trường Quản Lý Trung Ương: ‘Các anh có biết bí quyết thành công của ông giám đốc là gì không?’ Và, ông Viện trưởng đáp: ‘Đồng chí ấy thành công vì đồng chí ấy chưa được học qua lý luận’. Đổi mới trong giai đoạn ấy chủ yếu đều bắt đầu từ những nhà lãnh đạo địa phương chưa qua các trường lớp chính quy lý luận.”

Câu chuyện đơn giản trên cho thấy không phải có bằng tiến sĩ mới có tư duy đột phá. Thật ra, những gì gọi là “đột phá” đều phần lớn xuất phát từ những người không bị ràng buộc bởi những lí thuyết, không có bằng cấp đại học (chứ chưa nói đến học vị tiến sĩ). Cứ nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế ở các nước phương Tây thì rõ: có bao nhiêu nhà lãnh đạo chính trị có bằng tiến sĩ đâu. Ở nước Úc tôi đang định cư, cựu thủ tướng Paul Keating được xem là một thủ tướng tài ba, một người có tầm nhìn xa và đột phá trong chính sách ngoại giao cũng như kinh tế. Ông Keating được xem là một thủ tướng giỏi, không phải vì ông có bằng cấp cao, mà vì ông biết dùng người có tài. Thật vậy, ông Keating thậm chí chưa tốt nghiệp trung học, nhưng người cố vấn và viết diễn văn cho ông là một chuyên gia có bằng tiến sĩ. Dưới “trướng” của Keating cũng là những cố vấn giỏi, nhưng chỉ có một số rất ít trong nhóm cố vấn này có bằng tiến sĩ.

Do đó, xin đừng sùng bái văn bằng tiến sĩ như là một chứng từ cho sự đột phá tư duy. Thật ra, ngược lại thì đúng hơn: phần lớn tiến sĩ không có tư duy đột phá. Điều này đúng, bởi vì phần lớn (có thể 99%) các nhà khoa học với học vị tiến sĩ chỉ làm việc trong những mô thức (paradigm) thông thường, và mô thức này thường được định hướng bởi những nhà khoa học tiền phong khác.

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam

Các trường đại học Âu châu đã từng đào tạo và cấp học vị tiến sĩ về thần học, luật học, y học trong nhiều thế kỉ qua. Nhưng học vị tiến sĩ trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm chỉ mới xuất hiện từ đầu thế kỉ 19. Đến giữa thế kỉ 19, học vị tiến sĩ được du nhập vào Mĩ. Năm 1861, Đại học Yale trở thành trường đại học Mĩ đầu tiên cấp học vị tiến sĩ cho sinh viên. Các đại học Anh cũng theo trào lưu và bắt đầu cấp học vị tiến sĩ từ năm 1919. Từ đó, học vị tiến sĩ trở nên phổ biến trong hầu hết các đại học trên thế giới. Ở Mĩ, chỉ tính riêng các bộ môn y sinh học, số lượng tiến sĩ tốt nghiệp hàng năm đã tăng từ 5400 năm 1987 đến 7700 năm 1995. Ở Việt Nam, có 144 trung tâm đào tạo và trường đại học cấp học vị tiến sĩ, và mỗi năm các trung tâm này thu nhận vào khoảng 1000 nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Theo thống kê thì hiện nay VN có khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Vẫn theo thống kê, trong số 48000 giảng viên đại học, có 13% hay 6250 người có học vị tiến sĩ. Như vậy, có lẽ cả nước có khoảng 12000 tiến sĩ (kể cả những “phó tiến sĩ” sau một đêm thành “tiến sĩ”).

Nhưng trình độ của các tiến sĩ này ra sao? Trong bài Cả nước có bao nhiêu tiến sĩ thật, tác giả phản ảnh nhiều khiếm khuyết trong việc đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Những lem nhem về đạo văn, đánh tráo luận văn, mua luận văn, nhầm lẫn giữa nghiên cứu khoa học và dịch vụ, giải pháp, v.v… Thật vậy, theo bài báo này, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở Trường ĐH Kinh tế TPHCM, thì có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ. Chỉ cần đọc qua vài luận án đã được cấp bằng tiến sĩ, có lẽ chúng ta không khỏi mỉm cười:

"Nhận thức của công chức hành chính về việc sắp xếp lại bộ máy của cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố”.

''Nhận thức của thanh niên nông thôn về chất lượng cuộc sống gia đình hiện nay''.

“Nghiên cứu nhu cầu điện ảnh của sinh viên”

“Phát huy vai trò của tri thức ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới”.

“Lịch sử phát triển giáo dục – đào tạo ở An giang (1975 – 2000)

Đó là chưa nói đến sự lợi dụng chức quyền để có bằng tiến sĩ, mua bán bằng cấp, nghiên cứu ma (giả tạo hay thay đổi số liệu), nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn khoa học hay sai phương pháp, v.v… được đề cập đến với nhiều bức xúc. Trong thực tế, rất nhiều người có học vị này chưa chứng tỏ mình là một nhà khoa học chuyên nghiệp xứng đáng với học vị tiến sĩ, vì họ được cấp học vị qua những cống hiến mang tính hành chính và quản lí hơn là những cống hiến mang tính khoa học và hàn lâm mà một luận án tiến sĩ đòi hỏi. Do đó có người mang bằng tiến sĩ từ nước ta sang Thái Lan để học nhưng chỉ được công nhận tương đương bằng y tá! Đã có người khẳng định rằng có nhiều luận án tiến sĩ ở trong nước không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của một luận án tiến sĩ. Những vấn đề về đào tạo tiến sĩ đã được nêu lên nhiều lần, nhưng hình như vẫn chưa có ai đề ra những tiêu chuẩn cụ thể cho một học vị tiến sĩ là gì.

Trong bối cảnh như thế mà có quan chức nói đến chuyện có bằng tiến sĩ để có tư duy đột phá!

Như nói trên, học vị tiến sĩ là “giấy thông hành” để làm nghiên cứu khoa học. Sản phẩm quan trọng của nghiên cứu khoa học là bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế. Nhưng với 6600 giáo sư và phó giáo sư, cộng với 6250 tiến sĩ, đáng lẽ Việt Nam phải công bố khoảng (ít nhất là) 6000 bài báo khoa học. Nhưng hiện nay, mỗi năm, Việt Nam công bố được chỉ khoảng 1000 bài báo khoa học. Con số này thấp nhất so với các nước khác trong vùng Đông Nam Á, và chỉ bằng 1/5 Thái Lan và 1/10 Singapore.

Tại sao năng suất khoa học của Việt Nam quá tồi trong khi có nhiều “sĩ sư” như thế? Hiện nay, trong số GS/PGS ở các đại học chỉ có khoảng 1/3 (chính xác là 35%) tham gia giảng dạy đại học. Phần 65% còn lại là các quan chức trong các bộ và sở. Có lẽ con số tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học cũng khoảng 60-65%. Như vậy, có thể nói rằng Việt Nam đã và đang lãng phí nhân lực khoa học ở qui mô rất lớn.

Đó cũng chính là lời giải thích tại sao các quan chức trong các bộ ở Việt Nam, nhất là Hà Nội, thường có danh thiếp chi chít với những học vị tiến sĩ. Thoạt đầu tôi ngạc nhiên và thấy khó hiểu là tại sao các bộ, thậm chí sở, có quá nhiều quan chức với văn bằng tiến sĩ như thế, vì ở nước ngoài, hiếm thấy tiến sĩ làm việc trong các cơ quan hành chính.

Chủ trương tiến sĩ hóa cán bộ hành chính là một cách biến học vị tiến sĩ thành một loại giấy thông hành, một chứng từ, một tiêu chuẩn để tiến thân trong sự nghiệp quản trị hành chính. Chẳng hiểu từ đâu mà có qui định lạ lùng như phải là tiến sĩ mới được làm trưởng khoa trong một đại học, hay được đề bạt lên một chức vụ nào đó trong hệ thống quản trị hành chính. Chính vì qui định này mà không ít trường hợp, người ta đề bạt (hay nói thẳng ra là xếp đặt) người vào vị trí nào đó, rồi tìm cách hợp thức hóa cho người đó bằng cách cấp bằng tiến sĩ!

Việc hợp thức hóa đó bất chấp tiêu chuẩn khoa bảng và ý nghĩa của học vị tiến sĩ thể hiện một sự phá hoại các chuẩn mực giáo dục đại học.
http://tuanvannguyen.blogspot.com/

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

Tự Bạch



Sáu tháng là một khoãng thởi gian không dài, nhưng cũng đủ lâu để nhận ra mình đang làm gì? Và mình đang đi về đâu?
Nói thật trong 3 tháng đầu mình chỉ loay hoay trong việc sử dụng thành thạo Multi nên chẳng làm gì được nhiều, toàn là mò mẩm. Thật khốn khổ cho một người không được học hành đàng hoàng, đánh chử thì chỉ bằng 2 ngón tay mà chậm rì. Cái mà học lẹ nhất cũng là cái dở nhất của mình: copy và past. Thật mắc cười khi có người mời làm bạn (invite) thì mình chỉ biết bấm confirm, chứ cũng không biết theo về nhà người ta để cám ơn…Do đó ngày nay thấy friendlist của mình tuy nhiều, nhưng chưa chắc mình đã đi đến từng nhà.
Trong mùa Vu Lan báo hiếu vừa qua mình bị đi chùa để dự lễ xá tội vong nhân và chẩn tế cho người nghèo, mới thấy rằng có quá nhiều người nghèo khổ. Chỉ vài ký gạo, chai dầu ăn, chai nước tương loại rẽ tiền là họ đã mừng lắm rồi. Nhưng cũng có nhiều người có lòng, đi hàng trăm cây số chỉ để giúp cho người nghèo…
Tự vấn lòng mình cảm thấy xấu hổ, vì đã để mất quá nhiều thời gian vào những chuyện không đâu. Tôi không có tham vọng làm hot bloger như những người trẻ bây giờ, nhưng quả thật khi friendlist lên hơn 500 lòng cũng cảm thấy lâng lâng, nhiều khi còn ảo tưởng. Thật đáng xấu hổ vô cùng.
Ngày xưa mình vào Multi cũng do được bạn bè cũ ở Yahoo rủ rê, chứ cũng không nghĩ ngợi chuyện gì sâu xa, hình như mọi chuyện đều tùy duyên vậy. Sau khi đi Bà Rịa dự lễ về thì mình lại nhận được lời mời từ một đứa cháu, biết hiện mình đang thất nghiệp nên rủ làm du lịch với nó, với tư cách đại lý của công ty mà nó đang làm Manager makerting.
Thế là OK thôi, có lẽ chuyện kiếm tiền không bức bách lắm với mình, nhưng tại sao ta không kiếm để giúp những người mà ta gặp ở Bà Rịa, ở chổ cô Tim, ở những vùng sâu vùng xa, nơi mà nói các bạn chưa chắc đã tin, sống chỉ với 100.000 đồng một tháng.
Tại sao ta lại lo fac IP, giấu proxy gì gì đó, chơi mà cứ mãi rúm thì chán chết, mà nói thật với các bạn tôi chưa bao giờ làm những chuyện đó, có thể quan điểm của cá nhân tôi có thể khác với nhà cầm quyền vì những hình ảnh đập vào mắt mỗi ngày. Nhưng nói thì được gì? Thà làm cho những người nghèo bớt đi chút khổ đau, làm cho họ có được nụ cười dù chỉ trong chốc lát còn hơn.

Tôi không từ bỏ cuộc chơi, nhưng từ nay nó sẽ mang một ý nghĩa khác, không cao đạo rao giảng mà chỉ làm những điều mình và gia đình cảm thấy hạnh phúc. Mong rằng các bạn, tất cả các bạn của tôi sẽ ủng hộ và hiểu cho tôi.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009


Không cần nhìn em thêm lần nữa thì cũng nhận ra em bị thiểu năng trí tuệ. Người mang dị tật này thường có dáng dấp, gương mặt với mắt này mũi này… giống hệt nhau. Tròn lẳn, bầu bĩnh, phúng phính nhưng làm người ta nhói đau khi va ánh mắt vào. Em nuôi bệnh ở giường bốn mươi tám, tôi ra vào với má ở giường năm mươi hai. Những buổi sáng khi mười mấy con người ở phòng này nhao nháo rối bời với việc tắm giặt, chải chuốt, ăn uống, thì em bò ra chùi rửa, quét dọn khoảng hành lang, mấy cái phòng vệ sinh nhớp nháp. Chúng tôi không nhúng tay vào vì biết đó là phần việc của mấy chị lao công bệnh viện, chút nữa họ sẽ làm, họ nhận lương để làm những chuyện này. 
Nhưng cô bé, với trí khôn khiếm khuyết của mình, não em thiếu mất vùng mang tên đùn đẩy, chờ đợi. Em làm vì thấy nơi này bẩn thỉu quá. Người khôn không vậy, họ thà chịu khó nín thở, bịt mũi, nhón dép lên những cái vũng chèm nhẹp… để chờ đợi. Ngay cả dì em, người đang sưng húp vì mang quả thận hư khá nặng, chị cũng cằn nhằn con nhỏ đi làm chuyện tào lao, ai kêu ? 
Phải em làm vì ai đó sai bảo thì em đã không đẹp đến vậy, không làm tôi mắc cỡ, tần ngần những khi nhìn em quét lau loẹt xoẹt, thấy mình giảm chiều cao chắc còn cỡ một thước hai, nhưng tôi là con người toàn vẹn, hiểu biết, đọc nhiều sách, nên tôi vẫn ngồi trơ trơ vảnh móng tay. Bù lại, tôi hay rủ em ra ngoài dúi cho khi hộp sữa tươi, khi cái bánh bông lan... Mừng rỡ nhận quà nhưng em dáo dác ngó vào trong, “dì chửi chết…”. Người phụ nữ đó không biết vì bệnh tật làm cho bứt rứt đau đớn hay do nỗi bực dọc gì mà rầy la em suốt ngày. Nhưng suốt ngày em chỉ toe miệng ra cười, lăng xăng đấm bóp, đi mua cơm, giặt giũ quần áo… Có lần tôi nói giỡn, “em với dì giống hệt nhau, y như hai mẹ con vậy…”. Em hạ giọng thầm thì, vẻ như sắp trao cho tôi một bí mật lớn lao, “mẹ em đó, em giả bộ kêu dì Chín để  mẹ khỏi mắc cỡ, tại đẻ ra em khùng khùng…”. Xế trưa, tôi bỗng  nhìn thấy một mảnh trăng đầu mùa, khuyết còng, mỏng tang gần như trong suốt treo diệu vợi giữa trời, ngó nao lòng lắm, không thể nói ra lời. Không biết vì đẹp hay vì buồn. 
Như món canh tạo hóa nấu lạt, cô bé chỉ thiếu một chút thôi là lành lặn kiếp người. Bất chấp điều đó, em vẫn đẹp theo kiểu của mình. Đẹp vì hao khuyết. Đẹp mà không biết. 
Xóm tôi ngày trước cũng có một anh thiểu năng trí tuệ, mọi người gọi Lủ khùng. Đám tang nào anh Lủ cũng tới, phụ lo trà nước và đánh trống. Khuya xa, khi mọi người đã mòn mỏi lủi đi kiếm chỗ chợp mắt, anh Lủ vẫn không bao giờ để thưa tiếng trống. Giữa hai hồi trống, thấy cỗ áo quan nguội lạnh, anh đi sửa lại cây đèn cầy nghiêng, đốt giấy vàng bạc, thắp nhang, rồi khói lại tiếp tục nối vào khói ấm áp… Lủ lủi thủi, mà tận tụy. Buổi khách viếng đông, đám thanh niên kia cà lơ phất phơ, bởi một mình anh Lủ chạy trà nước cũng đủ chu đáo rồi, dù mệt đừ, mồ hôi nhễ nhại, nhìn thương. Người như anh ở chốn nhốn nháo nào cũng bị lạc giữa những người khôn toan tính thiệt hơn. 
Lại nhớ Soi, một khán giả hâm mộ đặc biệt của anh nghệ sỹ bạn tôi, bẩm sinh ngây ngô dài dại. Chị mê cải lương, mùa khô nào đoàn hát về chị cũng đi coi, và vô cùng ngưỡng mộ anh bạn tôi. Hết buổi diễn, chị thường len vào đằng sau sân khấu để tặng anh khi thì trái khế, trái bần, khi thì cái bánh dừa, khúc mía… không quên ngọng ngịu khen, hát hay quá à... Lớn tuổi, anh không đi hát nữa, quản lý đoàn một thời gian anh về Sở làm việc như một công chức bình thường. Có chiều từ cơ quan về anh thấy chị Ngơ Ngẩn đứng chờ ở cỗng. Anh hỏi, “Em kiếm tôi à, Soi?”. Chị chìa ra mớ bông rau muống héo queo, chắc là hái ở dọc đường, nói “Cho nè…”. Tay đưa về phía anh mà mặt day chỗ khác, ngượng ngùng đúng kiểu… cải lương. Xong chị ra về, từ trung tâm thành phố,  Soi phải đi hơn hai mươi cây số đường sông mới tới nhà mình. 
Hơn nữa đời ca diễn, người nghệ sỹ nổi tiếng lần đầu tiên nhận được một bó hoa kỳ lạ. Nghe chuyện, ai cũng buồn cười, nhưng trong lòng nhuốm màu chua xót, mai kia khán giả không còn nhớ anh nữa, tên anh, giọng hát anh bị vùi dập mất tăm giữa những thần tượng mới, thì anh vẫn còn chị Ngẩn Ngơ, lâu lâu lại xuất hiện để tặng hoa cỏ dại hái bên đường xơ xác, tưởng thưởng cho người nghệ sỹ này đã từng sáng chói, vàng son. Chị không được trời cho chức năng quên lãng. 
Nhưng cái mối quan hệ bi hài, vừa buồn cười vừa ngọt ngào vừa xót xa đó không phải ai cũng có. Bạn tôi vô tình nhận được vì anh đã bình thản chào đón một khán giả dị tật như một người bạn lâu ngày, như một người bình thường với trái tim, khối óc bình thường, “Em chờ tôi lâu không, Soi ?”. Cho là anh giả bộ, anh diễn, nhưng hình như không nhiều người diễn cho ra cái vai nhân hậu đó…
Chè : Nói thiệt, lúc viết bài này tui quợn dữ lắm, tại vì tui để ý rùi, hễ tui viết liên quan tới bệnh gì thì người thân tui có bệnh ấy. Trước viết CDBT có vụ thằng nhỏ chảy nước mắt sống, sau này xảy ra chuyện thằng con tui lúc còn trong tháng, bị trào sữa lên mặt, lên mắt, giờ hay chảy nước mắt sống lắm. Bác sỹ vườn nói có cái ống thoát nước mắt trong mắt bị tắc rùi(tui nôm na vậy), lớn lớn chở đi Sài Gòn thông ống. Tui hoang mang không biết chữa có khỏi không thì mới đây, viết tào lao về trái tim hư hao, cái má tui đang mạnh giỏi mập mạp rắn rỏi, 66 tuổi còn chạy xe máy đi ào ào, chuyên làm tài xế chở ba tui đi huyện chơi, tự dưng lăn đùng ra nhồi máu cơ tim, vào đúng ngày 15/08 (vậy là các bạn biết lý do tại sao blog tui đứng hình lâu zị hén ). Tui phải lấy hết sức can đảm để mà viết cái bài này vì tui thấy chắc mình hong có sinh đứa nữa.
Thiệt là bi thảm lắm, giờ tui hong biết cho nhân vật tui chết vì cái gì nữa, nhưng tốt nhất là hong nên đụng xe, té hố ga, dây điện thoại quấn, bệnh ung thư, chìm xe chết đuối trên đường, ăn khoai tây Trung Quốc bị ngộ độc, bị tàu Trung Quốc bắn, ngộp thở vì công nhân Trung Quốc bao vây... Mấy cái này có nguy cơ cao, có lẽ nên lấy lý do bù loong máy bay rớt trúng đầu, chết. 
Vậy đi 

bài mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư 
tự Tư Bất Tận hay Saurieng, hay...thôi hổng nói nữa sợ cô ấy bắt chước thì hết dốn.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2009

Khi Mới Nhớn


Nhà thơ Đinh Hùng: sinh năm 1920 tại Hà tây. Mất năm 1967 tại Sài Gòn-Việt Nam. Tác phẩm chính: Mê Hồn Ca (1954), Đường vào tình sử (1961)


Khi mi nhn, tui mười lăm, mười by,
Làm hc trò, mt sáng vi môi tươi.
Ta bước lên, chân vn do bên người,
Ngoài cp sách, trn ai cũng xem nh.
Đi thp thoáng qua hc đường nh bé,
Ph phường cuc sng mi lên hoa.
Ta ngi nghe nhng tiếng th thành xa,
Hn lơ đãng mng ra ngoài cửa lp.
Nng thu đó khiến lòng ta hi hp,
Ta nhìn cao mi rõ b giam cm.
Ôi tiếng nào vang bn bc tường câm?
Không khí nng mơ h thy vi bn.
Ta nhn lên, bước đường không gii hn,
Có l đâu kim gi ni tay người ?
Tui hoa hng kiêu hãnh của ta ơi!
Tình đã hn trên đường nng mi.
Ta ném bút, dm lên Su mt bui,
Xa v bài, m rng Sách Ham Mê.
Đã tng phen trèo cng, b trường v,
Xếp đo đc dưới bàn chân ngo mn.
Đi đi mi t ngày ta dy lon,
Sm như chiu hư thc bóng hoa hương,
Ta ra đi, tìm lp hc thiên đường,
Và khi đó thì m yêu ngi khóc...
Ôi! khoái lc nhng gi trn hc,
Nhng bình minh xuân đp, nhng chiu thu!
Bao cnh nước mây đm thm hn hò,
Khi biếng gp, nh nhung pha màu áo.
Hi thành đô vi linh hn Bách Tho!
Còn nh ta, chàng tui tr tóc bay ?
Làm hc trò nhưng không sách cm tay,
Có tâm s đi nói cùng cây c.
Riêng ta nh nhng trưa hè sc đ,
Đường hoàng lang nng đng: li đi quen.
Nhìn bóng cây chen bóng mng hư huyn,
Ta đến đó ln đu nghe ro rc.
Thy phn pht hình đôi vai, b ngc,
Làn môi tươi in mt nét son hng.
Cp má đào phơn pht ánh phù dung,
Đu l lướt mái tóc dài sóng gn?
Ta ngây ngt c tm thân va nhn
Bng rùng mình th vi ánh dương qua,
Tưởng hương thơm mt da tht đàn bà .
THƠ ĐINH HÙNG

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2009

Chỉnh thông tin chưa chuẩn

Xin cáo lỗi cùng các bạn, trong entry: Chuyện linh tinh trong làng báo xin nói lai một số thông tin : 1/ nhà báo Thu Hồng chỉ mất chức ở báo Thể thao Văn hóa, còn ở Thể thao TP/HCM thì hiện đương chức. Cám ơn.

Tạm biệt em, tạm biệt bloger menam

Bấm vào văn bản để xem lớn hơn.

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2009

Lời người trong cuộc-Bố cu hưng-nhà báo Đức Hiển


Đôi lời với chị Thu Hồng
“...Số là ngài đại sứ quán, thi thoảng ngẫu hứng tụ tập một nhóm  những người iêu nước Mỹ. Sau một cuộc gặp thế về, bạn Osin trình báo nội dung đàm đạo cho A 25. Osin đã tự cứu mình rất ngoạn mục nhưng  đường hoạn lộ của bạn Đức Hiển bên báo Pháp luật TP HCM, người tham dự cuộc đàm đạo,  đang lên phơi phới bỗng đứt dây và chưa biết bao giờ mới nối lại được sau những lời mách nhỏ của Osin...”
Trên đây là một trích đoạn trong entry “Osin Huy Đức”, trên blog của chị Hồ Thu Hồng, Phó Tổng Biên Tập báo Thể Thao TPHCM. Blog viết về anh Huy Đức. Những nội dung khác, tôi không có ý kiến vì không liên quan đến tôi. Riêng đoạn vừa nêu, tôi thấy cần có đôi lời minh định để không gây hiểu lầm về tôi, về cơ quan tôi.
Thứ nhất, Đại sứ Mỹ Michael Michalack khi vừa bắt đầu nhiệm kỳ của mình tại VN có mời bốn nhà báo gồm Huy Đức, hai đồng nghiệp ở Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Sài Gòn và tôi đi uống cà phê vào ngày 3-12-2007. Cùng tham dự có một số nhân viên Đại sứ Quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TPHCM.  Ông Đại sứ không mời trực tiếp tôi mà thông qua Phòng Thông tin lãnh sự quán Hoa Kỳ, nơi này lại thông qua Tổng Biên Tập báo Pháp Luật TPHCM. Tôi xem việc tiếp xúc  ấy  là việc bình thường của nhà báo và nhận lời mời. Vì lẽ đó, không thể xem đây là việc “tụ tập một nhóm  những người iêu nước Mỹ”  như chị Hồ Thu Hồng viết. Các đồng nghiệp Tuổi Trẻ, TBKTSG chắc cũng đồng ý điều đó.
Thứ hai, tại cuộc gặp, tôi chỉ nói chuyện và tìm hiểu về những điều bạn đọc của Báo quan tâm như thủ tục cấp visa cho du học sinh Việt Nam. Nếu Osin trình báo cho A.25 nội dung này, chắc cũng không sao. Hơn nữa, đây là công việc nên sau đó tôi báo cáo với Ban Biên Tập- bằng văn bản- nội dung cuộc tiếp xúc. Tôi không thấy có gì nguy hiểm để Huy Đức phải run sợ tự cứu mình bằng cách khai báo với A.25. Nếu A.25 hỏi, chắc chắn BBT sẽ cung cấp, không cần Huy Đức đi mách lẻo.
Thứ ba, chuyện “đường hoạn lộ của bạn Đức Hiển bên báo Pháp luật TP HCM, người tham dự cuộc đàm đạo,  đang lên phơi phới bỗng đứt dây” thì thật tình tôi không hiểu. Cho đến giờ này tôi không thấy có hậu quả xấu nào từ cuộc tiếp xúc trên. Lãnh đạo Báo Pháp Luật TPHCM không thể đánh giá xấu một nhà báo sau khi đã đồng ý cho anh ta đi gặp một nhà ngoại giao nước ngoài. Cơ quan An ninh cũng không thể thành kiến và can thiệp vào công tác cán bộ của một tờ báo chỉ vì lời mách lẻo của ai đó.
Chị Hồng có thể có thông tin và xem tôi như nạn nhân bị Huy Đức chơi xấu. Tuy nhiên, về phía mình, tôi cũng muốn nói lại như trên.

nguồn: http://bocuhung.multiply.com
Vậy là đã rỏ rồi nhé!

Chuyện linh tinh trong làng báo…bạn tin ai???


Nhà báo Hồ Thu Hồng, từng giữ chức Phó Tổng biên tập báo Thể thao – Văn hóa, vừa đăng một bình luận ngắn trên Blog Beo của mình. Nguyên văn như sau:
“Vào trang mạng bauxite, lần đầu tiên ngó cái bảng ký tên phản đối việc khai thác bauxite tại Việt Nam . Trừ các vị đang ở nước ngoài chỉ có ý nghĩa đông tay vỗ nên kêu, đa số những người ký tên trong nước đều rất già và chiếm một con số kha khá là… văn nghệ sĩ. Tớ quen một số trong con số kha khá trên và biết họ đủ để có thể khẳng định ngay không ngần ngại rằng, đến cái phích đựng nước Trung Quốc còn giành nhau chí mạng với anh ruột thì làm sao có đủ tâm( lẫn tầm) để lo lắng cho tận thế hệ tương lai mà ký với cọt.
Già, bí bách, mượn chuyện bauxite giải tỏa ẩn ức cá nhân thì cứ việc nhưng nhân danh từ khoa học đến đạo đức để ký thì I can các you.”
Sau vụ Luật sư Lê Công Định bị bắt, blogger Hồ Thu Hồng đưa ra những bài viết như: “Vì sao Luật sư Lê Công Định bị bắt“, “Luật sư Lê Công Định là chồng ai?“, “Người Mỹ đã giúp bỏ tù các luật sư ra sao?“…

Người hùng và con chó
Thư mục: Tổng hợp |
Đăng ngày: 12:09 30-08-2009
Gần 3 năm trước, sáng sớm, tôi nhận được tin nhắn của nhà văn Bích Ngân, chef Nhà xuất bản Văn nghệ: hàng triệu người cảm ơn mi.
Ngay sáng đó, một cuộc đàm thoại cố tình cho tôi nghe, gần như nguyên văn thế này: vái trời cho một phần nghìn người cảm ơn bà ấy bỏ tiền mua báo mình sáng nay. Giờ mà nó đóng cửa báo vài tháng là con tao đói. Bà ấy ỉ i nhà cao cửa rộng mới hám làm người hùng rơm...Nhân vật này hiện thay thế vị trí tôi tại báo.
Nếu bây giờ bạn hỏi tôi có thay đổi quan điểm của mình về nội dung bài báo đó không. Không, dứt khoát không.
Bạn lại hỏi tôi có ân hận về quyết định đăng bài báo đó không. Xin trả lời ngay có, rất rất có.
Làm một nhà báo, bạn chỉ chịu trách nhiệm cho chính cá nhân mình. Làm lãnh đạo một tờ báo, bạn phải chịu trách nhiệm cho số phận hàng trăm người, sát cánh ngày ngày bên cạnh bạn. Ở Việt nam, chưa có bất cứ một tên tuổi cây bút nào có khả năng lôi kéo người đọc..ào ào mua báo nhưng có không ít lãnh đạo báo, có khả năng kéo một cái manchette từ đáy vực phá sản lên bờ. Và để lên được bờ phải có hàng chục cây bút, hàng chục chuyên mục cộng với hàng chục con người âm thầm cần mẫn quy tụ sau anh lãnh đạo đó.
Trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay, khi bạn biết chắc 100% không đủ khả năng làm thay đổi triệt để nó thì bạn phải chọn lựa, hoặc bạn làm người hùng( ảo) hoặc nhân viên bạn không bị đói( thật). Xét về cả nghiệp vụ lẫn đạo đức, lựa chọn thứ 2 mang lại nhiều lợi ích hơn, cho chính bạn và những người đang lao động, vì bạn. Trong một cuộc chơi bạn không được tham dự nữa, làm người ngoài cuộc thì bạn là vô dụng.
Và cái đám đông ảo đang tung bạn lên chín tầng mây ấy, đừng say. Một hôm nào đó, bạn quan sát thử, niềm vui ( và cả sự hàm ơn không nói ra lời ) của cô thủ quỹ, cậu lái xe trong tòa soạn khi thấy tirage báo tăng lên mà xem, nó thật vô cùng và nó mang cho bạn niềm vui có thể sờ được. Bạn cũng rất nên đọc kỹ entry tôi copy từ talawas về ngay sát đây để thấy, một trong những bậc từng phong tôi là người hùng đó, hạ tôi xuống thành chó như thế nào.
-------
* Bạn Son: Chuyện Osin tớ sẽ kể khi đi Lào về, cứ để thiên hạ hoắng hết cỡ đi đã


Osin Huy Đức
Thư mục: Tổng hợp |
Đăng ngày: 14:46 12-09-2009
Từ 25-8, tôi không còn là phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị. Trong 21 năm làm báo, tôi đã từng bị mất việc nhiều lần.
Ngay cái hàng chữ đầu tiên, bạn Osin này đã nói dối và nói nửa sự thật. Đời làm báo của Osin từ thuở Tuổi Trẻ Thanh niên Nông thông ngày nay...chưa từng bị mất việc mà toàn là do bạn ấy đánh nhau rồi thua với một nhân vật nào đó trong tòa soạn, sau đó tự xin chuyển hoặc thất bại trong kinh doanh báo mà tự động đóng cửa. Từ ngày 25/8, bạn í không còn là phóng viên nhưng, tội nghiệp một ngàn bạn tình nguyện đóng 10 ngàn/tháng nuôi bạn Osin, vẫn chưa bằng lương SGTT trả cho cộng tác viên Huy Đức đâu. Bạn í còn một đống bất động sản do công ty quân đội to đoành dưới chân cầu Nguyễn Hữu Cảnh đỡ đầu. Con bạn í du học Mỹ, nếu bạn í xộ khám cũng đã có bạn ở Cục thông tin quốc hội Hoa kỳ... đỡ đầu luôn. Bức tường Berlin chỉ là một hoạt cảnh cực khéo nhưng giá mà bức tường ấy nó sụp đổ sớm hơn thì con đường phía trước của Tổng Biên tập Tâm Chánh đỡ đen tối hơn.
Tác giả bức tranh báo chí hiện nay không phải hoàn toàn là Ban Tuyên giáo.
Câu này thì bạn Osin viết chính xác. Bởi vì bạn í là một trong những đồng tác giả bức tranh u ám hiện nay của báo chí. Tại sao tớ lại nói như vậy. Ngày còn làm ở Tuổi trẻ, bạn Osin này là bậc thầy của việc dùng ngòi bút làm kinh tế cá thể, những người từ ngày ấy của công ty Bia Sài gòn nay còn kể vanh vách giai thoại Huy Đức cầm bút đi trước, nhà thơ Nguyễn Đỗ cầm hợp đồng quảng cáo dí theo sau. Giá như chỉ dừng ở việc làm tiền thì OK, không có chuyện gì xảy ra cho cả bạn Huy Đức lẫn báo chí.
Huy Đức, cùng một vài bạn khác-có dịp tớ sẽ kể lần lượt- lấn sân sang chuyện chính trị. Đừng hiểu chính trị theo nghĩa sang trọng là đấu tranh cho tự do dân chủ xứ cừu nhé. Chính trị ở đây tức là dùng ngòi bút hỗ trợ các thế lực này nọ của thiên đình choảng nhau, nhất là sát gần đại hội Đảng. Vụ Năm Cam, vụ PMU 18 là hai ví dụ điển hình. Hai là quá đủ để Ban ra tay nhổ tuốt tuột cả cỏ lẫn hoa.Trong một entry tớ đã bảo bạn này làm nhà báo chả muốn lại muốn làm Osin cho triều đình. Ngoài đời, trong một lần caphe tại số 5 Hàn Thuyên, tớ cũng rất chân tình can bạn ấy bằng tầm gương, 2h sáng ông Nguyễn Công Khế gọi điện cho tớ mà rằng: tại sao họ lại đối xử với anh như vậy. Ông Khế có một niềm tin thơ ngây của người không sinh ra trong lòng chế độ này, bạn Osin thì chơi trò 2 mang vì bạn í quá hiểu chế độ này.
Vậy ông chủ của Osin là ai?
Đầu tiên phải kể đến là Lê Khả Phiêu. Cụ này Osin quen biết từ thuở bên Campuchia, khá trống mồm nên một dạo Osin có rất nhiều tin độc. Thứ đến thì ai cũng biết là cụ Võ Văn Kiệt với chiêu bài viết hồi ký thuê. Cụ Kiệt chết là cú choáng váng với Osin bởi không chỉ mất chỗ chống lưng mà ngay sau đó, gia đình cụ than phiền với Văn phòng TW Đảng việc Osin cất giữ tài liệu của cụ. Osin phải hứa sau đây viết tất cả những gì về cụ Kiệt phải đưa cho VPTW ...duyệt. ( he he he). Ông chủ thứ ba thì Osin còn cay đắng hơn rất nhiều. Ông Trương Tấn Sang đã phủi như phủi tà khi nhắc đến bạn Huy Đức dù thông qua một bạn bên Sàigon Giải phóng, mối lương duyên chủ tớ này coi bộ khá thắm thiết.
Còn một chủ nữa của Osin kiêm minh chủ của các bạn Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức ...nhân vật này hay đến độ tớ sẽ viết riêng một entry về minh chủ và các đầy tớ sau.
Thân Osin, chủ nội thế là cũng oách. Nhưng bạn này còn có cả chủ ngoại nữa. Việc tớ ngừng chơi với bạn Osin cũng bắt đầu từ một vụ liên quan đến chủ ngoại của bạn í.
Số là ngài đại sứ quán, thi thoảng ngẫu hứng tụ tập một nhóm những người iêu nước Mỹ. Sau một cuộc gặp thế về, bạn Osin trình báo nội dung đàm đạo cho A 25. Bạn Osin đã tự cứu mình rất ngoạn mục nhưng đường hoạn lộ của bạn Đức Hiển bên báo Pháp luật TP HCM, người tham dự cuộc đàm đạo, đang lên phơi phới bỗng đứt dây và chưa biết bao giờ mới nối lại được sau những lời mách nhỏ của Osin. Theo tớ bạn Hiền bạn Nguyên bên sứ quán cũng nên cửn thựn có ngày Osin mách bà Clinton là toi công ăn việc làm.
Báo chí phải là nơi chuyển tải những bài viết trung thực, những phân tích, phản biện; những bài viết mà người làm báo tin rằng nó phụng sự xã hội.
Entry sau tớ sẽ chỉ rõ từng bài Osin phụng sự các ông chủ thay vì phụng sự xã hội ra sao.
http://vn.myblog.yahoo.com/thuhong_1960


Tôi không có đủ thông tin để có thể nói gì về những gì bà Hồng nói trên blog của mình, một người mất chức nhưng còn nhà cao cửa rộng và chưa kể có thể bà làm theo sự sai bảo của ông chủ nào đấy ẫn mặt.
Vâng, tôi nghe giọng điệu của bà quen quen, nó mang âm hưởng của: "Tàu thì lạ mà sự hèn hạ thì quen". Mượn còm của một bạn thay lời kết:

Lời bình của nhà báo Hồ Thu Hồng về vụ kiến nghị Bô xít rất ngắn mà rất…”dữ”!
(Feminine, lại cặp kè nơi cửa nhà quan cao cấp thì dữ là phải).
Học tập bạn, tôi nhớ đến một bài thơ cũng rất ngắn, nhưng rất…hiền, của cố thi sĩ Tường Vân. Nhưng có mấy chữ tôi nhớ không chính xác, xin nhờ chị nhà báo có tầm sâu rộng “nhuận sắc” giúp.
Bài thơ ngắn như sau:
CON NGƯỜI !
Bảo ra đường
Ra đường
Bảo nằm trên giường
Nằm trên giường
Bảo sủa
Sủa
Bảo im
Im
Và cứ thế triền miên
Một đời con… NGƯỜI?
Đa tạ.

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

Thư gửi nhà Nấm


                Mẹ già như chuối chín cây,
          Gió lay mẹ rụng con thành mồ côi !
    Quả thật bây giờ mà nói với mọi người, về chuyện mẹ Nấm bằng hai câu thơ nầy, thì có thể mọi người sẽ không thể hiểu được, nhưng thật tình tôi chỉ nhớ được hai câu nầy để nói về người mẹ Việt Nam.
    Vâng có thể bốn hoặc năm mươi năm nửa, bé Nấm sẽ thấm thía hai câu nầy. Vì ngay từ bây giờ lúc bé còn rất nhỏ, mẹ bé đã lo bảo vệ để bé sau nầy lớn lên còn có quê hương, như bác Đổ Trung Quân của cháu đả viết:

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè.
Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa đêm mưa
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm
Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ....
Tôi cũng có con như mẹ Nấm, thậm chí cháu còn lớn hơn Nấm nhiều, và tôi cũng muốn con tôi cũng có quê hương, để về thăm, để nhớ nhung, để thả hồn vào trong từng trang sách nhỏ. Để cháu không đến nỗi không dám về Việt Nam, nơi mà hồi nhỏ cháu đã từng có rất nhiều kỹ niệm. Nhưng tôi đã không dám mạnh dạn như mẹ Nấm, lên tiếng, thậm chí mặc áo thun in biểu tượng bảo vệ quê hương. Hôm nay nghe tin em được thả về, mừng lắm viết vội vài dòng chử nầy coi như chia sẽ với gia đình em vậy.