Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2009

Cuộc chiến không được dự liệu




Có một cuộc chiến ngày ngày lặng lẽ cướp đi sinh mạng bao người vô tội, không kém gì những cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, nhưng lại mang những bản chất khác hẳn.
   Đó chính là cuộc chiến với TAI NẠN GIAO THÔNG. Khác hẳn, vì nó không hề xuất phát từ lòng hận thù; những người dân lành chết dưới bàn tay vô tình, vô trách nhiệm của chính bản thân hoặc của đồng bào mình.
   Cũng chưa từng có trên đất nước này một cuộc chiến như vậy, những cái chết trớ trêu bởi những sản phẩm của nền văn minh đang được du nhập vô tội vạ, không tương đồng với cái văn hóa hiện đại mà đáng ra người ta phải đồng thời có. Và điều cuối cùng trong những sự khác biệt đó chính là ở cái bản chất không được dự liệu của nó.
    Mười nghìn cái chết, hàng chục nghìn cơ thể thương tật hàng năm vẫn chưa đủ để thức tỉnh chúng ta. Phải chăng khi liên tiếp hai nhà khoa học đáng kính* cùng trở thành nạn nhân bi thảm thì người ta mới vội vã lần tìm phương sách vãn hồi cái cuộc chiến này ?
   Những tăng cường giáo dục, tích cực vận động, siết chặt kỷ cương, rồi làm cầu vượt cho người đi bộ, giảm xe buýt, cho đến những ý định ngớ ngẩn cho thời hạn sử dụng xe máy Trung Quốc là 3 năm, Nhật là 7 năm … vẫn chỉ là những khẩu hiệu và giải pháp tạm bợ, quẩn quanh, nặng yếu tố tâm lý mà nhẹ về tính hiệu quả, thậm chí còn khỏa lấp đi những tội trạng, sự yếu kém năng lực, trách nhiệm, thêm cơ hội “đục nước béo cò”.
   Cần phải lần được tới cái căn nguyên của cuộc chiến này. Đó là:
   1. Phát triển đô thị quá nhanh nhưng lại không được quy hoạch khoa học, bị lợi ích riêng, cục bộ phá nát (quy hoạch “treo”, chắp vá lộn xộn, thiếu hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, trường học, chợ, công viên …) – Làm tăng thêm chứ không hề giảm lưu lượng giao thông qua lại giữa các khu dân cư. – Nảy sinh một lớp người vốn quen sống nhiều thế hệ trong môi trường nông thôn, nay chuyển ra thành thị, đem theo nếp sinh hoạt cũ làm “nông thôn hóa thành thị”.
    2. Hệ thống giao thông thủy, bộ, sắt, hàng không được đầu tư, xây dựng vừa chậm, vừa không có kế hoạch, quy hoạch lâu dài, hợp lý (đường cao tốc đi qua khu đông dân, nơi cần thì chưa có, nơi chưa cần lại đầu tư lớn …, đường sắt quá kém, mà cảng biển lại quá nhiều), đặc biệt bị tác động xấu từ những mục đích tư lợi phá hỏng (những vụ như PMU18, cầu Văn thánh 2 là điển hình).
   3. Phương tiện giao thông phát triển ồ ạt mà không có giải pháp khống chế khôn ngoan-cương quyết (như hạn chế xe máy, tăng xe buýt …) Từ đó, mối xung đột do mất cân bằng giữa số lượng phương tiện với cơ sở hạ tầng, ý thức pháp luật, bộ máy kiểm soát trở nên nghiêm trọng không kìm chế nổi. Đơn cử: tại một ngã tư, trong khoảng 15 phút một cảnh sát giao thông bận xử lý một vi phạm thì cùng lúc có tới hàng ngàn xe qua lại có thể “vô tư” vi phạm mà không bị xử lý. Tại hàng ngàn trục lộ, ngã tư hiện không có cảnh sát hoặc phương tiện hiện đại giám sát giao thông. Việc thi sát hạch bằng lái đầy dẫy tiêu cực một phần do quá chênh lệch cung cầu.
    4. Ý thức tôn trọng pháp luật kém ngay từ những cấp lãnh đạo cao, những cơ quan thi hành, kiểm soát thi hành pháp luật (không chỉ riêng luật Giao thông mà cả luật Hình sự, thậm chí Hiến pháp) nên việc giáo dục ý thức cho người dân càng khó khăn hơn. Điển hình là những vụ vi phạm nghiêm trọng luật Giao thông không được xử lý nghiêm minh như vụ Láng-Hòa lạc, vụ đổ tàu ở Thừa thiên-Huế, những vụ “dọa mang bom” trên máy bay.
Đặc biệt, có rất nhiều vi phạm pháp luật của chính nhân viên thi hành pháp luật lại là tác nhân gây ra những vi phạm pháp luật của người dân. Đó là hiện tượng “mãi lộ” của CSGT, buộc những người lái xe vì lẽ sinh tồn mà phải chạy nhanh tăng chuyến, chở quá trọng tải, giành giật khách … dễ gây tai nạn.
    5. Nền giáo dục, một hệ thống yếu kém hàng chục năm không được cải thiện đã sản sinh ra những lớp người thiếu ý thức, bản lĩnh, tác phong của một công dân sống dưới một xã hội văn minh công nghiệp. Những đứa trẻ ù lì chậm chạp dễ bị xe kẹt, không biết bơi nên chết đuối, hay ngược lại, bức xúc phản ứng bằng đua xe, đi đứng ngang tàng bất chấp luật lệ … đều có căn nguyên từ hệ thống giáo dục quá bất hợp lý, nhiều tiêu cực hiện nay. Và hơn nữa, từ đây sẽ lại tiếp tục sản sinh ra lớp lớp những công dân mang nhân cách méo mó, những “tướng tá” tồi cho cuộc chiến với vấn nạn giao thông này.
     6. Văn hóa-đạo lý nền tảng quyết định thái độ của con người trước sinh mạng đồng loại. Nhưng chúng ta, bước từ mấy cuộc chiến tàn khốc, lại vẫn chưa khỏi say sưa chiến thắng, thêm không khí cảnh giác thường trực với “kẻ thù” vô hình đâu đó …, nên thái độ “coi cái chết nhẹ như lông hồng” đã ăn vào máu thịt, mà quên rằng còn có bao điều nhân ái cần phải học hỏi từ truyền thống cha ông, từ cả những quốc gia xưa từng là kẻ thù, bao nhiêu sinh hoạt văn hóa giúp bồi bổ tình yêu thương, trân trọng cuộc sống bình an đã bị lãng quên hoặc cố gắng nhồi nhét thô thiển. Vậy đâu dễ để có được cái phản xạ gìn giữ an toàn cho cuộc sống của bản thân và đồng bào mình.
     7. Con người-bộ máy có trách nhiệm trực tiếp về lĩnh vực này là tối quan trọng, nhưng đã không được chuẩn bị tốt (từ ngành giao thông cho đến bộ máy chính quyền đô thị). Vụ PMU18 cùng sự “hạ cánh an toàn” của ông bộ trưởng GTVT lại cũng là điển hình của lối dùng người … xấu, đương nhiên không dễ có được chính sách, biện pháp đúng đắn. Như câu nói muôn thuở: “Thượng bất chính hạ tắc loạn”.
    8. Công luận là những công cụ vô cùng quan trọng để nói lên tiếng nói của người dân, điều chỉnh những lệch lạc, phi lý nêu trên, đặc biệt là dự báo, cảnh báo cho giới lãnh đạo những hệ quả xấu từ những chính sách sai lầm; nhưng nó đã không được phát huy hiệu quả một cách liên tục, mạnh mẽ.
    Luôn luôn có những “cấm địa”, những vùng “nhạy cảm” không được động tới, mà trớ trêu, đó lại thường là những sai lầm lớn, là những nơi ẩn náu của tiêu cực.
    Khác với mọi cuộc chiến, cuộc chiến này đã không được dự liệu về tầm mức khốc liệt của nó. Nhưng như mọi cuộc chiến, nếu chỉ hô hào đồng bào, chiến sĩ hãy dũng cảm xông lên, trong khi đầy dẫy những viên tướng tá tồi, hèn đớn, xôi thịt nhởn nhơ mà không bị nghiêm trị, vạch ra những chiến thuật sai lầm, không xây dựng hậu phương vững mạnh, luyện quân tinh nhuệ … thì sẽ chỉ có trăm trận trăm … bại mà thôi.
    Những cuộc họp “phát động chiến dịch”, vài giải pháp hời hợt, ấu trĩ để trấn an dư luận quả rất dễ, để rồi mọi sự lại rơi vào dĩ vãng. Còn để sửa lại những sai lầm nghiêm trọng có tính căn nguyên nêu trên là phải động đến cả những thiết chế bền vững cố hữu, là đòi hỏi những sám hối, trả giá, chịu trách nhiệm ghê gớm của nhiều người trong cuộc.
   Nhưng nếu không làm, cuộc chiến này chắc chắn sẽ còn khủng khiếp hơn nữa.


Nguyễn Hữu Vinh
nguồn: Ba Sàm

* Giáo sư Nguyễn Văn Đạo và giáo sư Seymour Papert (người đang nung nấu một dự án cải thiện tình trạng giao thông ở Việt Nam)

9 thói quen ẩm thực “chôn vùi” thanh xuân và sức khỏe




Có nhiều quan niệm sai lầm trong ăn uống.
Nguồn: Images

Hoa quả thay cho rau xanh, rau tươi tốt hơn rau để tủ lạnh, nước khoáng thay thế nước sôi để nguội… là thói quen dường như rất tốt cho sức khỏe. Nhưng thực tế, nó đẩy nhanh tốc độ lão hóa, ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe.

Dưới đây là 9 thói quen ẩm thực cần cảnh giác:

 1. Thịt gia súc, gia cầm thay thế cho cá
Chỉ ăn thịt, ít ăn hoặc không ăn cá là thói quen của rất nhiều người. Mặc dù hàm lượng protein và tỉ lệ hấp thụ của cả hai khá giống nhau nhưng thành phần chất béo lại có khác biệt rất lớn.
Chất béo của cá hàm chứa khá nhiều axit béo không no, loại axit béo này có tác dụng rất tốt đối trẻ em đang trong giai đoạn phát triển não và phòng chống bệnh huyết quản tim cho người lớn. Nhưng thịt gia súc gia cầm, đặc biệt là thịt bò, thịt dê thì chủ yếu là axit béo no, ăn quá nhiều sẽ không có lợi cho sức khỏe.
2. Đường đỏ tốt hơn đường trắng

Đường đỏ và đường trắng đều được tạo ra từ mía nhưng công nghệ sản xuất đường đỏ đơn giản hơn đường trắng. Trong đường đỏ cũng chứa nhiều chất xơ và đường glucoza,  hơn nữa đường đỏ giải phóng năng lượng khá nhanh, khả năng hấp thụ cũng cao hơn. Nhưng vị của đường đỏ không ngọt bằng đường trắng. Khi chúng ta uống trà hay uống cà phê thì sẽ cho lượng đường nhiều hơn, vì vậy đường đỏ nhiều lúc nguy hiểm hơn đường trắng.
3. Mỳ ăn liền làm bữa sáng

Thường xuyên dùng mỳ tôm làm bữa sáng không có lợi cho sức khỏe và sự phát triển của cơ thể. Bởi vì để duy trì sự trao đổi chất sinh lý bình thường trong cơ thể thì cần có 6 thành phần chất dinh dưỡng. Trong khi thành phần chủ yếu của mỳ tôm là chất đường, các thành phần dinh dưỡng khác rất ít. Vì vậy, nếu dùng mỳ tôm thay thế cho bữa sáng trong thời gian dài sẽ dẫn đến hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, gầy gò, tinh thần kém phấn chấn…, thậm chí có thể giảm cân, teo cơ bắp.
Nguồn: Images.

4. Hoa quả thay cho rau xanh

Hoa quả và rau xanh đều hàm chứa phong phú vitamin, vì vậy rất nhiều người cho rằng, chỉ cần ăn hoa quả hàng ngày, không ăn hoặc ít ăn rau xanh cũng không ảnh hưởng gì.
Thực ra, rau xanh là thực phẩm cần thiết cho cơ thể sau lương thực. Nó hỗ trợ và thúc đẩy việc hấp thụ 3 loại chất dinh dưỡng lớn đó là protein, chất béo, chất đường. Nếu chúng ta chỉ ăn những thực phẩm động vật, tỉ lệ hấp thụ protein là 70% nhưng nếu chúng ta ăn kèm với rau xanh thì tỉ lệ hấp thụ lên đến trên 90%. Ngoài ra, trong rau xanh hàm chứa chất xơ thực vật đặc chủng có thể kích thích nhu động ruột, có tác dụng giúp cho tiêu hóa, phòng chống ung thư đường ruột.
5. Thuốc bổ thay thế chất dinh dưỡng

Không ít người nghe lời khuyên bổ sung, tăng cường dinh dưỡng của bác sĩ đã đi mua các loại thuốc bổ để uống. Nhưng chuyên gia chỉ ra rằng, thuốc bổ không thể thay thế cho các chất dinh dưỡng trong thực phẩm.
Axit amino là thuốc bổ thường gặp nhưng nếu không phải là gặp khó khăn trong việc ăn uống thì không nên dùng. Dùng thuốc bổ axit amino không đúng có thể gây ra dị ứng. Đối với những người có chức năng thận không tốt còn có thể gây ra ngộ độc, hôn mê.
Tăng cường dinh dưỡng nên  từ ăn uống, không nên quá lạm dụng những sản phẩm dinh dưỡng. Nguồn: Images.

Không ít người cho rằng, các loại thuốc vitamin rất có ích cho cơ thể, uống nhiều một chút càng có lợi, thực tế lại không phải như vậy. Thường xuyên và trong thời gian dài uống viên vitamin A, D có thể gây ra trúng độc vitamin A, biểu hiện là đau xương, nôn mửa, ngứa ngáy, rụng tóc… Vì vậy, tăng cường dinh dưỡng nên điều tiết từ ăn uống, không nên lạm dụng những sản phẩm dinh dưỡng.

6. Sản phẩm dinh dưỡng thay thế cho thực phẩm thiên nhiên
Con người ngày càng xem trọng dinh dưỡng. Đây là một việc rất tốt nhưng lạm dụng các sản phẩm dinh dưỡng thì lại gây hiệu ứng ngược.
Lấy bột dinh dưỡng protein ăn thay cơm, lấy vitamin làm hoa quả và rau xanh. Rất nhiều người cho rằng ăn những sản phẩm dinh dưỡng này thì sẽ đảm bảo đầy đủ sức khỏe cho cơ thể.
Cũng không ít người cho rằng, các loại vitamin bổ sung đều có ích cho cơ thể, nên cố ý uống nhiều vitamin, nhưng kết quả không phải như vậy. Ví dụ, uống vitamin C lượng lớn đều có liên quan đến việc hình thành sỏi thận.
Vì thế nên tăng cường dinh dưỡng bắt đầu từ ăn uống. Nếu qua ăn uống vẫn không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể, khi cần bổ sung thêm thuốc bổ thì nên xin ý kiến của bác sỹ, tuyệt đối không được lạm dụng.
7. Rau tươi tốt hơn rau để tủ lạnh
Nếu như rau tươi vừa mới được cắt lên từ đất thì hoàn toàn rất tốt nhưng trên thực tế rau tươi mà chúng ta ăn thì không được tươi hoàn toàn nữa, thông thường đều đã bị lưu giữ mấy ngày rồi, vitamin của rau cũng dần dần bị mất đi trong quá trình lưu giữ. Ngược lại, rau để lạnh thì càng lưu giữ được nhiều vitamin hơn, bởi vì rau vừa mới cắt từ đất lên để vào ngăn lạnh thì có thể ngăn chặn được sự mất đi của vitamin.
8. Nước khoáng thay nước sôi để nguội

Rất nhiều người nói trong nước khoáng hàm chứa nhiều khoáng chất, không cần phải uống nước sôi để nguội nữa, vì vậy nên dùng nước khoáng thay cho nước sôi để nguội. Nhưng nước khoáng cũng có thể bị ô nhiễm của các chất có hại ở dưới đất.
Gần đây, các nhà khoa học Hà Lan đã tiến hành phân tích nước khoáng đóng bình, kết quả phát hiện nước khoáng dễ bị ô nhiễm bởi vi khuẩn và các vi sinh vật nguy hiểm. Mặc dù đa số vi khuẩn không gây hại gì lớn đối với những người mạnh khỏe nhưng với những người có sức đề kháng yếu thì lại là cả một vấn đề.
9. Đắt hơn rẻ
Những thứ đắt tiền chưa chắc là những thứ tốt nhất. Ví dụ như vây cá rất đắt tiền, thành phần chủ yếu là protit keo nhưng axit amino trong protit keo không phù hợp với nhu cầu axit amino của cơ thể và giá trị dinh dưỡng của nó cũng không bằng protit trong sữa bò, trứng gà.
nguồn: webtretho

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009

một bài thơ chưa từng công bố




Đã 34 năm trôi qua.hòa bình cũng dài ngang bằng cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử .chưa có cuộc chiến nào ám ảnh một dân tộc cho bằng cuộc chiến tranh này,nó thay đổi hình thái xã hội.thay đổi số phận con người.Công bố bài thơ viết năm 27 tuổi,bảy năm sau hòa bình(1982).nay nhìn lại ,tôi cũng không hiểu điều gì đã dẫn dắt cho những dòng chữ này. khi làm xong nghĩa vụ một thanh niên thời hậu chiến ,người có lý lịch may mắn không vướng phải chuyện lính tráng dù thế hệ tôi sau“mùa hè đỏ lửa 1972” hầu hết cũng đã” yên vị “ khói hương trên bàn thờ gia đình.còn nhớ những năm của thập niên 80,giáo sư Nguyễn Khắc Viện viết một bài đanh thép trên báo Sài Gòn Giải Phóng”sen hay bùn” về danh xưng khi nào thì gọi là thành phố Hồ Chí Minh,khi nào thì gọi là Sài Gòn?và ông khẳng định cái tốt thì gọi tp HCM,cái tệ nạn ,cái xấu ,cái "tồn đọng"thì gọi là Sài Gòn.giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã đối thoại bằng một bài báo khác(tất nhiên ông không thể đăng bài phản biện ấy trên báo SGGP như trong một xã hội bình thường),ông nhắc rằng hiện tại sau 10 năm giải phóng, thành phố vẫn còn một tờ báo lớn tiếng nói chính thức của “Đảng bộ và nhân dân thành phố” tờ Sài Gòn Giải Phóng( nó vẫn còn đến tận hôm nay),còn một nhà máy thuốc lá Sài Gòn,còn một đội bóng danh tiếng mang tên Cảng Sài Gòn(nay đã không còn)…bài thơ này,có lẽ là cái nhìn đau đớn đầu tiên của một người trẻ tuổi vừa từ chiến trường K trở về với bao nhiêu hoài bão sau khi chứng kiến những hy sinh cao đẹp của một thế hệ thanh niên Sài Gòn,những con người thành phố tuổi chỉ mới đôi mươi…
hai mươi bảy tuổi và một bài thơ dài nhất của đời mình...
Đỗ trung quân
TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN
(1982)
1.
Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sai Gon như thủ đô của rác
Của xì ke,gái điếm, ,cao bồi
Của tình dục,ăn chơi
“Hiện sinh-buồn nôn-phi lý!!!”
Các anh bảo con trai Sai Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sai Gòn không tiểu thư khuê các,cũng đĩ điếm giang hồ
các anh bảo Sai Gòn là trang sách “hư vô”
văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
ngòi bút các anh thay súng
bắn điên cuồng vào tủ lạnh ,ti vi
vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
là thiêu thân ủy mị,yếu hèn
các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
mang tuổi trẻ Sai Gòn ra trước vành móng ngựa!!!
2.
Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người sài gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc
Có ai hỏi những hàng dương xanh
Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
Tội nghiệp nhưng đêm Sài Gòn đốt đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp nhưng ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương,thi ca ,sách báo
những vị giáo sư trên bục giảng đường
ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc
Sài Gòn của tôi-của chúng ta.
có tiếng cười
và tiếng khóc
3-
Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát .hy sinh…
4-
Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời .
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch
Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
đã bờm xờm râu tóc,cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo,cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi,casette .radio…
Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn”khôn & dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ
Sài Gòn 1982 lẽ nào…
Lại bắt đầu ghẻ lở?
5-
Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật
6-
Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thưở
để yên cho xương rồng,gai góc
Chân thật nở hoa
Này đây!
Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy ,ghẻ lở
Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào” thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?
Đỗ trung quân (1982)
(*) năm 1995-nhà xuất bản Trình Bày có ý định in bài thơ này với cái tên tác giả "Chung Do Kwan" trong phần" thơ dịch".sự cân nhắc này là nhã ý của nhà Trình Bày khi biết tác giả thật sự vẫn còn đang sống ở VN.cũng từ đó cái tên Chung Do Kwan ra đời với tinh thần (ngỡ như) hài hước (“phiên âm” từ tên tác giả).nó không liên quan gì đến tay độc tài quân phiệt Chung do kwan trong thập niên 60-70.





Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

KHI CÁC GIÁO SƯ TIẾN SỸ BỊ BÁC SỸ CHÊ....

VN phát triển kinh tế theo mô hình nào?

Theo GS Trần Minh Đạo, trong giai đoạn đầu xây dựng CNXH, cơ chế vận hành thích hợp nhất của nền kinh tế vẫn là cơ chế thị trường. Cụ thể là: “Kinh tế thị trường XHCN Việt Nam”


Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát được khẳng định tại Đại hội Đảng IX. Mô hình này đã phù hợp chưa? Nếu thay đổi thì thay đổi như thế nào? Làm thế nào để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội...?. Những câu hỏi này đã được đặt ra tại hội thảo khoa học quốc gia “Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN” do Hội đồng Lý luận Trung ương và ĐH Kinh tế Quốc dân tổ chức ngày 22-9.

Mô hình tăng trưởng hiện tại đã tới ngưỡng


Theo GS Lê Du Phong, nguyên hiệu trưởng ĐH Kinh tế Quốc dân, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN mà VN theo đuổi trong hơn 20 năm qua đã tạo những động lực hết sức mạnh mẽ, giúp VN thoát ra nhanh chóng khỏi khủng hoảng kinh tế và đạt được những thành tựu rực rỡ. Tuy nhiên, nó cũng khiến việc đổi mới tư duy kinh tế không được triệt để vì luôn phải đắn đo xem có chệch định hướng hay không. “Trong 10 năm tới, nếu vẫn duy trì mô hình kinh tế như hiện nay, chắc chắn nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển”- GS Phong nói.


GS-TS Nguyễn Văn Nam, Hiệu trưởng ĐH Kinh tế Quốc dân, cảnh báo yếu tố kinh tế thị trường đang lấn át định hướng XHCN khi khoảng cách giàu nghèo lớn, phân hóa giàu nghèo ngày càng dãn ra. Theo GS-TS Nguyễn Văn Nam, do nội hàm định hướng XHCN chưa rõ nên dẫn đến chưa có những đổi mới triệt để trong tư duy kinh tế và thể chế chính trị. 

Kinh tế VN thời gian qua dù tăng trưởng nhanh nhưng hiệu quả thấp. “Mô hình tăng trưởng đã đạt đến ngưỡng, dẫn đến khả năng cạnh tranh của quốc gia còn ở mức thấp. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, những nhược điểm trong mô hình tăng trưởng kinh tế của VN đã bộc lộ hoàn toàn”- GS Nguyễn Văn Nam “chốt” lại.


Một mô hình riêng của VN


Nhận xét về các mô hình phát triển kinh tế trên thế giới, GS Trần Minh Đạo cho rằng: “Kinh tế thị trường tự do Mỹ là nơi khởi nguồn của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản thì nhiều năm nay rơi vào vòng xoáy suy thoái vẫn chưa thoát ra được. Kinh tế thị trường XHCN đặc sắc Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu, luôn có tốc độ tăng trưởng cao kể cả trong khủng hoảng hiện nay nhưng cũng chứa nhiều khuyết tật...
Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trường xã hội Cộng hòa Liên bang Đức và mô hình kinh tế thị trường EU - gọi chung là mô hình CNXH dân chủ tỏ ra thành công nhất, phát triển ổn định nhất nhưng cũng không thích hợp vì trình độ phát triển kinh tế - xã hội và trình độ văn minh của VN còn thấp xa so với các nước đó”.


Đặc trưng của “mô hình kinh tế thị trường VN hiện đại” là nền kinh tế thị trường hiện đại nhằm bảo đảm dân giàu, nước mạnh... Trong ảnh: Người dân mua sắm tại siêu thị Co.opMart Cống Quỳnh - TPHCM. Ảnh: T.THẠNH


Do đó, theo GS Trần Minh Đạo, trong giai đoạn đầu xây dựng CNXH, cơ chế vận hành thích hợp nhất của nền kinh tế vẫn là cơ chế thị trường. Cụ thể là: “Kinh tế thị trường XHCN Việt Nam” – một nền kinh tế thị trường hiện đại, văn minh, bảo đảm công bằng xã hội hợp lý, quan hệ con người mang tính nhân văn cao, có chế độ phúc lợi phù hợp và tiến bộ, phát triển phù hợp, ổn định và bền vững.



Những luận cứ khoa học của các học giả tại hội thảo sẽ được tiếp thu để bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 và Báo cáo chính trị, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 trình Đại hội Đảng XI.
GS Nguyễn Văn Nam đề xuất đặc trưng của “mô hình kinh tế thị trường VN hiện đại” là dựa trên cơ sở nền công nghiệp tiên tiến, phát triển hài hòa và bền vững giữa kinh tế - xã hội và môi trường; khuyến khích sự sáng tạo và phát triển vì con người; lấy công bằng xã hội làm định hướng trong mục đích chính trị và kinh tế; kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế.

Còn theo GS Lê Du Phong, đặc trưng của “mô hình kinh tế thị trường VN hiện đại” là nền kinh tế thị trường hiện đại nhằm bảo đảm dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Không đưa ra mô hình cụ thể, PGS-TS Ngô Doãn Vịnh (Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch – Đầu tư) gợi ý gần đây Trung Quốc đưa ra khái niệm phát triển xã hội hài hòa. Đó là sự phát triển bảo đảm các mối quan hệ kinh tế - xã hội và môi trường vận động theo quy luật khách quan, đem lại hiệu quả cả trước mắt và lâu dài


Các nền kinh tế vẫn chưa thể hiện rõ mô hình phát triển
Theo Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, mô hình phát triển kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa thời gian qua là đề cao quá mức sức mạnh của thị trường, coi tự do hóa và thị trường tự điều tiết là trên hết, vai trò của Nhà nước chỉ là thứ yếu. Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới vừa qua chính là sự đổ vỡ của mô hình kinh tế thị trường tự do mới. Hiện tại, phần lớn các nền kinh tế vẫn chưa thể hiện rõ mô hình phát triển thời hậu khủng hoảng song việc tái cấu trúc nền kinh tế là bắt buộc.

CHÔNG CHÊNH?






id
Hôm nay đọc bài:VN phát triển kinh tế theo mô hình nào? trên báo Lao Động mà thấy buồn. Buồn vì các nhà khoa học tầm cỡ GSTS nhưng có những kết luận và ý kiến rất không chuyên nghiệp trong lĩnh vực họ đang đảm nhiệm. Tôi không hiểu tại sao những người có bằng cấp cao nhất và đang là những người có trách nhiệm truyền thụ kiến thức cho các thế hệ Trẻ tương lai đất nước này lại có những nhận định rất mất căn bản về học thuật và khoa học như thế?

Như tôi đã viết rất ngắn trong một bài về "Khủng hỏang kinh tế thị trường tư bản" là nguyên nhân khủng hỏang lần này cũng chính là nguyên nhân khủng hỏang của 1929-1933 của thế kỷ trước. Bắt đầu từ lòng tham và tham vọng của các cường quốc cũng như các thành viên trong cộng đồng chung của thế giới đã làm cung vượt quá cầu. Đây là mấu chốt của vấn đề khủng hỏang kinh tế tòan cầu. Từ đó, ngồi mà tư duy và đưa ra những kết luận và đường đi cho xã hội Việt.

Có vẻ như các nhà trí thức trường lớp đang sợ Quyết định 97 của TTg. Vì thế mà họ chỉ biết nói theo lề để mong muốn được nhờ ơn mưa móc nhiều hơn là nói với lương tâm và sự hiểu biết? Trong khi đó, quyết định 97 của TTg chỉ là một khẳng định lạihành lang pháp lý về mặt lãnh đạo của đảng Cộng sản Viện Nam đối với các tổ chức, hội đoàn ... chứ không phải là cấm phản biện của các cá thể độc lập và các tổ chức, tập thể có cơ quan đầu ngành quản lý về mặt chính quyền.

Đây là một vấn đề cần bàn và cần các nhà có học thức trong xã hội phải có tư duy độc lập để góp ý. Còn những góp ý và họp thảo luận như bài báo Lao động đưa tin thì xã hội và đảng CSVN chẳng cần. Vì một thực tế sinh động đã và đang chứng minh mô hình xã hội Việt Nam đang dùng là lỗi thời và không còn phù hợp với tiến trình phát triễn của nó nữa mà ai cũng thấy. Điều đáng nói nhất làGS Nguyễn Đức Bình đã tự mâu thuẩn với mình khi phát biểu rằng ông ủng hộ khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” nhưng không ủng hộ cách gọi đó là “mô hình tổng quát của thời kỳ quá độ”. Nhưng ông lại nhấn mạnh rằng: “Kinh tế thị trường tự bản thân nó không mang thuộc tính định hướng XHCN. Trái lại, thuộc tính tự nhiên của nó là tiến lên chủ nghĩa tư bản”. Và làm sao có cái gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa khi cơ sở hạ tầng của xã hội Việt Nam là nền kinh tế thị trường hả các GSTS, các nhà danh giá uyên thâm về lý luận của Việt Nam? Người ta đã từng duy ý chí rằng bỏ qua giai đọan phát triễn tư bản chủ nghĩa và đã sụp đổ. Cái gì thuộc về qui luật thì không nên làm trái. Làm trái với qui luật thì có bao nhiêu tai họa đổ lên đầu người dân lương thiện mà ai cũng đã từng trãi nghiệm chưa thấy sao?

Nên nhớ rằng:"Tất cả mọi phát minh của lòai người từ trước đến nay về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên đều là công việc đi tìm lại những cái đã có sẳn trong cuộc sống. Hay nói cách khác là con người chỉ chạy theo những gì tự nhiên và xã hội đã diễn tiến, chứ chưa ai có khả năng tiên đóan và làm ra cái có trước tự nhiên và xã hội sẽ đi đến". Vì vậy, các nhà xã hội học của Việt Nam hiện tại phải luôn khám phá và đưa ra các qui luật phù hợp với những gì xã hội phát sinh một cách kịp thời thì xã hội mới ổn định.

Thế mới thấy rằng câu nói của đại thi hào Đức Johann Wolfgang von Goethe: "Lý thuyết là một màu xám xịt, mà cây đời mãi mãi xanh tươi". 

http://bshohai.multiply.com

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Những ngộ nhận về học vị tiến sĩ


Hai tuần qua, dù bận đi công tác ở bên Mĩ, tôi vẫn thỉnh thoảng vào mạng đọc báo để theo dõi tình hình trong nước, và thấy nhiều sự kiện mà tôi rất muốn bình luận nhưng vì quá bận rộn nên đành “lực bất tòng tâm” do không có thì giờ. Hôm nay, việc phó hội cũng đã xong xuôi, nên lại có thì giờ để góp nhặt vài lời để gọi là “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Hôm nọ, đọc một tin rất lạ mà thoạt đầu tôi mỉm cười một mình vì nghĩ rằng phóng viên có trí tưởng tượng phong phú quá: đó là bản tin cho biết “Hà Nội mong 100% cán bộ Thành ủy ‘quản’ là tiến sĩ”. Nhưng tôi nghĩ sai: phóng viên tường thật hoàn toàn chính xác về chủ trương của chính quyền và đảng ủy Hà Nội, vì hôm sau có một quan chức của Sở nội vụ Hà Nội lí giải rằng cần phải “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”. Vị quan chức này, với danh xưng tiến sĩ, chính là tác giả của “Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền thành phố”.

Nếu xem chủ trương nâng cấp 100% cán bộ diện thành ủy có bằng tiến sĩ thì quả thật ông tiến sĩ này có tư duy đột phá. Nhưng chữ “đột phá” ở đây phải hiểu là phá hoại cái ý nghĩa của học vị tiến sĩ một cách đột ngột. Để hiểu cách diễn giải đó, thiết tưởng tôi có nhiệm vụ giải thích mục tiêu và ý nghĩa của học vị tiến sĩ.

Học tiến sĩ để làm gì ?

Học vị tiến sĩ thường dành cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Để dấn thân vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học, học vị tiến sĩ là một “giấy thông hành” quốc tế, cũng giống như muốn hành nghề kĩ sư thì phải có bằng kĩ sư. Cố nhiên cũng có một số người tham gia nghiên cứu khoa học dù họ không có học vị tiến sĩ, nhưng đây là những trường hợp ngoại lệ. Do đó, trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải làm quen với những kĩ năng cơ bản như phát hiện vấn đề, cách đặt giả thuyết, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu (kể cả đo lường), phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, v.v… Đây là những kĩ năng mà bất cứ một nghiên cứu sinh tiến sĩ nào cũng phải có sau khi xong chương trình đào tạo.

Do đó, để có được học vị tiến sĩ, thí sinh phải làm nghiên cứu khoa học một cách nghiêm chỉnh. Hai chữ “nghiêm chỉnh” ở đây rất quan trọng trong trường hợp Việt Nam, bởi vì rất rất nhiều nghiên cứu khoa học ở trong nước chẳng những không nghiêm chỉnh mà còn phạm quá nhiều sai sót. Điều này cũng có nghĩa là nếu muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị kinh doanh, quản trị hành chính, thì học vị tiến sĩ không cần thiết, và thí sinh không nên tốn thì giờ để đạt được học vị này.

Học vị tiến sĩ dành cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng. Học vị tiến sĩ là một “chứng từ” để theo đuổi sự nghiệp khoa bảng (academic career). “Khoa bảng” ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng cơ hội tiến thân trong các nấc thang khoa bảng ngày nay cho những cá nhân như thế không mấy cao. Nhiều trường đại học lớn trên thế giới đòi hỏi các giảng viên và giáo sư hay các nhà nghiên cứu phải có học vị tiến sĩ. Tại sao? Tại vì họ muốn đảm bảo trường đại học có đầy đủ chuyên gia để giảng dạy các môn học cấp cao và bắt buộc các chuyên gia này phải làm nghiên cứu khoa học. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng không phải ai có bằng tiến sĩ đều có thể trở thành giáo sư.

Do đó, nếu thí sinh muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị doanh nghiệp, kĩ nghệ và khoa học (như muốn làm giám đốc doanh nghiệp, giám đốc các cơ sở khoa học) hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì thí sinh không nên theo học chương trình tiến sĩ, mà nên theo học chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh hay quản trị hành chính (MBA – Master of Business Administration). Tôi biết ngày nay có đại học đưa ra chương trình huấn luyện Tiến sĩ quản trị hành chính (Doctor of Business Administration), nhưng mục tiêu vẫn là đào tạo nhà nghiên cứu và giáo sư. Xin nhắc lại: cốt lõi của học vị tiến sĩ, và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác, là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị.

Những ngộ nhận về tiến sĩ

Do đó, chủ trương hướng tiến sĩ hóa cán bộ hành chính thể hiện một sự hiểu lầm về mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Chủ trương này sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều người tìm cách theo học để lấy được một học vị tiến sĩ, nhưng động cơ của việc theo học thì lại quá sai lầm. Những sai lầm về động cơ theo học tiến sĩ, theo tôi, có thể tóm lược trong những ngộ nhận phổ biến sau đây:

Ngộ nhận 1: nhiều người hiểu lầm rằng học vị tiến sĩ sẽ tự động đem lại uy danh cho cá nhân. Hầu hết các thí sinh đã đạt được văn bằng tiến sĩ đều cảm thấy tự hào về nỗ lực và kết quả của việc phấn đấu trong học hành nghiên cứu. Tuy nhiên, thí sinh phải hiểu rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có thể làm việc với nhiều nhà khoa học khác cũng có bằng tiến sĩ. Học vị tiến sĩ mới chỉ là bước đầu vào nghiên cứu khoa học, là một minh chứng rằng người có bằng đó “trưởng thành” trong khoa học, chứ nó (văn bằng tiến sĩ) chẳng đem lại uy danh cho người có học vị nếu người đó không có công trình nghiên cứu nào có giá trị.

Ngộ nhận 2: ý kiến của một cá nhân được nâng cao chỉ vì cá nhân đó có văn bằng tiến sĩ. Nhiều người tin rằng một khi họ có văn bằng tiến sĩ trong tay, công chúng sẽ tự nhiên kính trọng ý kiến của họ. Nhưng niềm tin này chỉ là hoang tưởng. Người có học vị tiến sĩ có thể am hiểu và uyên bác về một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó, nhưng không phải là chuyên gia của mọi vấn đề khác. Sự kính trọng phải được chứng minh qua hành động và bản lĩnh của người phát biểu, chứ không tự động mà có được qua danh xưng “tiến sĩ”.

Ngộ nhận 3: học vị tiến sĩ là mục tiêu sau cùng trong học hành, nghiên cứu. Học vị tiến sĩ chuẩn bị thí sinh vào sự nghiệp nghiên cứu. Nếu thí sinh chỉ muốn có mảnh giấy để treo trên tường thì không nên theo đuổi học vị tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có cơ hội để so sánh thành quả của mình với các nhà khoa học khác. Thí sinh sẽ nhận thức rằng cái được “tính sổ” không phải là danh xưng hay học vị tiến sĩ, mà là nghiên cứu khoa học do chính thí sinh tiến hành và hoàn tất.

Ngộ nhận 4: học tiến sĩ để gây ấn tượng trong gia đình và bạn bè. Người thân trong gia đình và bạn bè thí sinh có lẽ rất hồ hởi và tự hào khi thí sinh vào học chương trình tiến sĩ, bởi vì họ nghĩ thí sinh sẽ trở thành một ông nghè, một “doctor” trong tương lai. Nhưng văn bằng tiến sĩ chỉ là giấy thông hành cho nghiên cứu, chứ không phải để lấy le với người thân, bạn bè hay với xã hội. Không phải lúc nào cũng đòi người khác phải gọi mình là ông / bà “tiến sĩ”.

Ngộ nhận 5: học vị tiến sĩ là cái cớ để thử trí thông minh. Nhiều người nghĩ rằng học tiến sĩ là một thách thức và họ muốn chơi trò thách thức xem tri thức của mình cỡ nào. Rất tiếc, quan điểm này sai, bởi vì chương trình huấn luyện tiến sĩ không phải để thí sinh cân não hay để thử khả năng tri thức. Ngoại trừ thí sinh dành trọn thì giờ và dấn thân vào học hành để đỗ đạt, thí sinh sẽ không thể nào có được văn bằng tiến sĩ chỉ vì mình “thông minh”. Như nói trên, thí sinh phải làm việc nhiều giờ trong ngày, phải có khi thức đêm trong phòng thí nghiệm hay thư viện, phải chuẩn bị đương đầu với những thất bại, phải chuẩn bị động não để học cái mới và suy nghĩ cái mới.

Ngộ nhận 6: học tiến sĩ để kiếm nhiều tiền. Thí sinh tốt nghiệp tiến sĩ thực ra không có lương bổng cao hơn các thí sinh với bằng cử nhân hay người công nhân bình thường trong hãng xưởng. Xin nhắc lại: học tiến sĩ là để trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cái quan tâm đầu tiên của nhà khoa học là sự thật, chứ không phải sự giàu có về tiền bạc. Tất nhiên, có nhiều khi sự thật và khám phá cũng đem lại một nguồn tài chính lớn cho nhà nghiên cứu. Nhưng nói chung, đó không phải là mục tiêu để theo học tiến sĩ.

Ngộ nhận 7: học tiến sĩ là một lựa chọn tốt nhất. Cống hiến cho xã hội có nhiều cách và cuộc đời có nhiều lựa chọn, và học vị tiến sĩ chỉ là một trong số hàng trăm lựa chọn đó. Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi đọc phát biểu này, nhưng đó là một thực tế. Thật vậy, đối với nhiều thí sinh, học vị tiến sĩ có thể là một lựa chọn sai lầm! Thí sinh phải tự hỏi mình muốn làm người lãnh đạo trong những người có văn bằng thạc sĩ, hay là làm một nhà nghiên cứu tầm thường. Thí sinh phải biết và quyết định mình muốn gì, và nghề nghiệp nào sẽ kích khích mình nhiều nhất hay đem lại hạnh phúc cho mình nhất.

Đột phá tư duy ?

Quay lại câu nói bất hủ (“Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”) tôi muốn trích lại lời thuật của Gs Đặng Phong (trong trang blog của Huy Đức) như sau: “Một lần, ông Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đến thăm xí nghiệp đánh cá Vũng Tàu-Côn Đảo, một điển hình đổi mới lúc đó. Xí nghiệp này khi sắp bị phá sản đành phải mời một ông chăn vịt vốn là người thạo nghề đánh cá hồi trước 1975 làm giám đốc. Ông đòi được toàn quyền ‘khoán’ cho xã viên và xí nghiệp trở nên làm ăn rất hiệu quả.” Gs Đặng Phong kể tiếp: “Sau khi thăm và hỏi chuyện ở Xí nghiệp, ông Viện trưởng Viện Hàn Lâm Liên Xô hỏi các cán bộ ở trường Quản Lý Trung Ương: ‘Các anh có biết bí quyết thành công của ông giám đốc là gì không?’ Và, ông Viện trưởng đáp: ‘Đồng chí ấy thành công vì đồng chí ấy chưa được học qua lý luận’. Đổi mới trong giai đoạn ấy chủ yếu đều bắt đầu từ những nhà lãnh đạo địa phương chưa qua các trường lớp chính quy lý luận.”

Câu chuyện đơn giản trên cho thấy không phải có bằng tiến sĩ mới có tư duy đột phá. Thật ra, những gì gọi là “đột phá” đều phần lớn xuất phát từ những người không bị ràng buộc bởi những lí thuyết, không có bằng cấp đại học (chứ chưa nói đến học vị tiến sĩ). Cứ nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế ở các nước phương Tây thì rõ: có bao nhiêu nhà lãnh đạo chính trị có bằng tiến sĩ đâu. Ở nước Úc tôi đang định cư, cựu thủ tướng Paul Keating được xem là một thủ tướng tài ba, một người có tầm nhìn xa và đột phá trong chính sách ngoại giao cũng như kinh tế. Ông Keating được xem là một thủ tướng giỏi, không phải vì ông có bằng cấp cao, mà vì ông biết dùng người có tài. Thật vậy, ông Keating thậm chí chưa tốt nghiệp trung học, nhưng người cố vấn và viết diễn văn cho ông là một chuyên gia có bằng tiến sĩ. Dưới “trướng” của Keating cũng là những cố vấn giỏi, nhưng chỉ có một số rất ít trong nhóm cố vấn này có bằng tiến sĩ.

Do đó, xin đừng sùng bái văn bằng tiến sĩ như là một chứng từ cho sự đột phá tư duy. Thật ra, ngược lại thì đúng hơn: phần lớn tiến sĩ không có tư duy đột phá. Điều này đúng, bởi vì phần lớn (có thể 99%) các nhà khoa học với học vị tiến sĩ chỉ làm việc trong những mô thức (paradigm) thông thường, và mô thức này thường được định hướng bởi những nhà khoa học tiền phong khác.

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam

Các trường đại học Âu châu đã từng đào tạo và cấp học vị tiến sĩ về thần học, luật học, y học trong nhiều thế kỉ qua. Nhưng học vị tiến sĩ trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm chỉ mới xuất hiện từ đầu thế kỉ 19. Đến giữa thế kỉ 19, học vị tiến sĩ được du nhập vào Mĩ. Năm 1861, Đại học Yale trở thành trường đại học Mĩ đầu tiên cấp học vị tiến sĩ cho sinh viên. Các đại học Anh cũng theo trào lưu và bắt đầu cấp học vị tiến sĩ từ năm 1919. Từ đó, học vị tiến sĩ trở nên phổ biến trong hầu hết các đại học trên thế giới. Ở Mĩ, chỉ tính riêng các bộ môn y sinh học, số lượng tiến sĩ tốt nghiệp hàng năm đã tăng từ 5400 năm 1987 đến 7700 năm 1995. Ở Việt Nam, có 144 trung tâm đào tạo và trường đại học cấp học vị tiến sĩ, và mỗi năm các trung tâm này thu nhận vào khoảng 1000 nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Theo thống kê thì hiện nay VN có khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Vẫn theo thống kê, trong số 48000 giảng viên đại học, có 13% hay 6250 người có học vị tiến sĩ. Như vậy, có lẽ cả nước có khoảng 12000 tiến sĩ (kể cả những “phó tiến sĩ” sau một đêm thành “tiến sĩ”).

Nhưng trình độ của các tiến sĩ này ra sao? Trong bài Cả nước có bao nhiêu tiến sĩ thật, tác giả phản ảnh nhiều khiếm khuyết trong việc đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Những lem nhem về đạo văn, đánh tráo luận văn, mua luận văn, nhầm lẫn giữa nghiên cứu khoa học và dịch vụ, giải pháp, v.v… Thật vậy, theo bài báo này, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở Trường ĐH Kinh tế TPHCM, thì có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ. Chỉ cần đọc qua vài luận án đã được cấp bằng tiến sĩ, có lẽ chúng ta không khỏi mỉm cười:

"Nhận thức của công chức hành chính về việc sắp xếp lại bộ máy của cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố”.

''Nhận thức của thanh niên nông thôn về chất lượng cuộc sống gia đình hiện nay''.

“Nghiên cứu nhu cầu điện ảnh của sinh viên”

“Phát huy vai trò của tri thức ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới”.

“Lịch sử phát triển giáo dục – đào tạo ở An giang (1975 – 2000)

Đó là chưa nói đến sự lợi dụng chức quyền để có bằng tiến sĩ, mua bán bằng cấp, nghiên cứu ma (giả tạo hay thay đổi số liệu), nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn khoa học hay sai phương pháp, v.v… được đề cập đến với nhiều bức xúc. Trong thực tế, rất nhiều người có học vị này chưa chứng tỏ mình là một nhà khoa học chuyên nghiệp xứng đáng với học vị tiến sĩ, vì họ được cấp học vị qua những cống hiến mang tính hành chính và quản lí hơn là những cống hiến mang tính khoa học và hàn lâm mà một luận án tiến sĩ đòi hỏi. Do đó có người mang bằng tiến sĩ từ nước ta sang Thái Lan để học nhưng chỉ được công nhận tương đương bằng y tá! Đã có người khẳng định rằng có nhiều luận án tiến sĩ ở trong nước không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của một luận án tiến sĩ. Những vấn đề về đào tạo tiến sĩ đã được nêu lên nhiều lần, nhưng hình như vẫn chưa có ai đề ra những tiêu chuẩn cụ thể cho một học vị tiến sĩ là gì.

Trong bối cảnh như thế mà có quan chức nói đến chuyện có bằng tiến sĩ để có tư duy đột phá!

Như nói trên, học vị tiến sĩ là “giấy thông hành” để làm nghiên cứu khoa học. Sản phẩm quan trọng của nghiên cứu khoa học là bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế. Nhưng với 6600 giáo sư và phó giáo sư, cộng với 6250 tiến sĩ, đáng lẽ Việt Nam phải công bố khoảng (ít nhất là) 6000 bài báo khoa học. Nhưng hiện nay, mỗi năm, Việt Nam công bố được chỉ khoảng 1000 bài báo khoa học. Con số này thấp nhất so với các nước khác trong vùng Đông Nam Á, và chỉ bằng 1/5 Thái Lan và 1/10 Singapore.

Tại sao năng suất khoa học của Việt Nam quá tồi trong khi có nhiều “sĩ sư” như thế? Hiện nay, trong số GS/PGS ở các đại học chỉ có khoảng 1/3 (chính xác là 35%) tham gia giảng dạy đại học. Phần 65% còn lại là các quan chức trong các bộ và sở. Có lẽ con số tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học cũng khoảng 60-65%. Như vậy, có thể nói rằng Việt Nam đã và đang lãng phí nhân lực khoa học ở qui mô rất lớn.

Đó cũng chính là lời giải thích tại sao các quan chức trong các bộ ở Việt Nam, nhất là Hà Nội, thường có danh thiếp chi chít với những học vị tiến sĩ. Thoạt đầu tôi ngạc nhiên và thấy khó hiểu là tại sao các bộ, thậm chí sở, có quá nhiều quan chức với văn bằng tiến sĩ như thế, vì ở nước ngoài, hiếm thấy tiến sĩ làm việc trong các cơ quan hành chính.

Chủ trương tiến sĩ hóa cán bộ hành chính là một cách biến học vị tiến sĩ thành một loại giấy thông hành, một chứng từ, một tiêu chuẩn để tiến thân trong sự nghiệp quản trị hành chính. Chẳng hiểu từ đâu mà có qui định lạ lùng như phải là tiến sĩ mới được làm trưởng khoa trong một đại học, hay được đề bạt lên một chức vụ nào đó trong hệ thống quản trị hành chính. Chính vì qui định này mà không ít trường hợp, người ta đề bạt (hay nói thẳng ra là xếp đặt) người vào vị trí nào đó, rồi tìm cách hợp thức hóa cho người đó bằng cách cấp bằng tiến sĩ!

Việc hợp thức hóa đó bất chấp tiêu chuẩn khoa bảng và ý nghĩa của học vị tiến sĩ thể hiện một sự phá hoại các chuẩn mực giáo dục đại học.
http://tuanvannguyen.blogspot.com/

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

Tự Bạch



Sáu tháng là một khoãng thởi gian không dài, nhưng cũng đủ lâu để nhận ra mình đang làm gì? Và mình đang đi về đâu?
Nói thật trong 3 tháng đầu mình chỉ loay hoay trong việc sử dụng thành thạo Multi nên chẳng làm gì được nhiều, toàn là mò mẩm. Thật khốn khổ cho một người không được học hành đàng hoàng, đánh chử thì chỉ bằng 2 ngón tay mà chậm rì. Cái mà học lẹ nhất cũng là cái dở nhất của mình: copy và past. Thật mắc cười khi có người mời làm bạn (invite) thì mình chỉ biết bấm confirm, chứ cũng không biết theo về nhà người ta để cám ơn…Do đó ngày nay thấy friendlist của mình tuy nhiều, nhưng chưa chắc mình đã đi đến từng nhà.
Trong mùa Vu Lan báo hiếu vừa qua mình bị đi chùa để dự lễ xá tội vong nhân và chẩn tế cho người nghèo, mới thấy rằng có quá nhiều người nghèo khổ. Chỉ vài ký gạo, chai dầu ăn, chai nước tương loại rẽ tiền là họ đã mừng lắm rồi. Nhưng cũng có nhiều người có lòng, đi hàng trăm cây số chỉ để giúp cho người nghèo…
Tự vấn lòng mình cảm thấy xấu hổ, vì đã để mất quá nhiều thời gian vào những chuyện không đâu. Tôi không có tham vọng làm hot bloger như những người trẻ bây giờ, nhưng quả thật khi friendlist lên hơn 500 lòng cũng cảm thấy lâng lâng, nhiều khi còn ảo tưởng. Thật đáng xấu hổ vô cùng.
Ngày xưa mình vào Multi cũng do được bạn bè cũ ở Yahoo rủ rê, chứ cũng không nghĩ ngợi chuyện gì sâu xa, hình như mọi chuyện đều tùy duyên vậy. Sau khi đi Bà Rịa dự lễ về thì mình lại nhận được lời mời từ một đứa cháu, biết hiện mình đang thất nghiệp nên rủ làm du lịch với nó, với tư cách đại lý của công ty mà nó đang làm Manager makerting.
Thế là OK thôi, có lẽ chuyện kiếm tiền không bức bách lắm với mình, nhưng tại sao ta không kiếm để giúp những người mà ta gặp ở Bà Rịa, ở chổ cô Tim, ở những vùng sâu vùng xa, nơi mà nói các bạn chưa chắc đã tin, sống chỉ với 100.000 đồng một tháng.
Tại sao ta lại lo fac IP, giấu proxy gì gì đó, chơi mà cứ mãi rúm thì chán chết, mà nói thật với các bạn tôi chưa bao giờ làm những chuyện đó, có thể quan điểm của cá nhân tôi có thể khác với nhà cầm quyền vì những hình ảnh đập vào mắt mỗi ngày. Nhưng nói thì được gì? Thà làm cho những người nghèo bớt đi chút khổ đau, làm cho họ có được nụ cười dù chỉ trong chốc lát còn hơn.

Tôi không từ bỏ cuộc chơi, nhưng từ nay nó sẽ mang một ý nghĩa khác, không cao đạo rao giảng mà chỉ làm những điều mình và gia đình cảm thấy hạnh phúc. Mong rằng các bạn, tất cả các bạn của tôi sẽ ủng hộ và hiểu cho tôi.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009


Không cần nhìn em thêm lần nữa thì cũng nhận ra em bị thiểu năng trí tuệ. Người mang dị tật này thường có dáng dấp, gương mặt với mắt này mũi này… giống hệt nhau. Tròn lẳn, bầu bĩnh, phúng phính nhưng làm người ta nhói đau khi va ánh mắt vào. Em nuôi bệnh ở giường bốn mươi tám, tôi ra vào với má ở giường năm mươi hai. Những buổi sáng khi mười mấy con người ở phòng này nhao nháo rối bời với việc tắm giặt, chải chuốt, ăn uống, thì em bò ra chùi rửa, quét dọn khoảng hành lang, mấy cái phòng vệ sinh nhớp nháp. Chúng tôi không nhúng tay vào vì biết đó là phần việc của mấy chị lao công bệnh viện, chút nữa họ sẽ làm, họ nhận lương để làm những chuyện này. 
Nhưng cô bé, với trí khôn khiếm khuyết của mình, não em thiếu mất vùng mang tên đùn đẩy, chờ đợi. Em làm vì thấy nơi này bẩn thỉu quá. Người khôn không vậy, họ thà chịu khó nín thở, bịt mũi, nhón dép lên những cái vũng chèm nhẹp… để chờ đợi. Ngay cả dì em, người đang sưng húp vì mang quả thận hư khá nặng, chị cũng cằn nhằn con nhỏ đi làm chuyện tào lao, ai kêu ? 
Phải em làm vì ai đó sai bảo thì em đã không đẹp đến vậy, không làm tôi mắc cỡ, tần ngần những khi nhìn em quét lau loẹt xoẹt, thấy mình giảm chiều cao chắc còn cỡ một thước hai, nhưng tôi là con người toàn vẹn, hiểu biết, đọc nhiều sách, nên tôi vẫn ngồi trơ trơ vảnh móng tay. Bù lại, tôi hay rủ em ra ngoài dúi cho khi hộp sữa tươi, khi cái bánh bông lan... Mừng rỡ nhận quà nhưng em dáo dác ngó vào trong, “dì chửi chết…”. Người phụ nữ đó không biết vì bệnh tật làm cho bứt rứt đau đớn hay do nỗi bực dọc gì mà rầy la em suốt ngày. Nhưng suốt ngày em chỉ toe miệng ra cười, lăng xăng đấm bóp, đi mua cơm, giặt giũ quần áo… Có lần tôi nói giỡn, “em với dì giống hệt nhau, y như hai mẹ con vậy…”. Em hạ giọng thầm thì, vẻ như sắp trao cho tôi một bí mật lớn lao, “mẹ em đó, em giả bộ kêu dì Chín để  mẹ khỏi mắc cỡ, tại đẻ ra em khùng khùng…”. Xế trưa, tôi bỗng  nhìn thấy một mảnh trăng đầu mùa, khuyết còng, mỏng tang gần như trong suốt treo diệu vợi giữa trời, ngó nao lòng lắm, không thể nói ra lời. Không biết vì đẹp hay vì buồn. 
Như món canh tạo hóa nấu lạt, cô bé chỉ thiếu một chút thôi là lành lặn kiếp người. Bất chấp điều đó, em vẫn đẹp theo kiểu của mình. Đẹp vì hao khuyết. Đẹp mà không biết. 
Xóm tôi ngày trước cũng có một anh thiểu năng trí tuệ, mọi người gọi Lủ khùng. Đám tang nào anh Lủ cũng tới, phụ lo trà nước và đánh trống. Khuya xa, khi mọi người đã mòn mỏi lủi đi kiếm chỗ chợp mắt, anh Lủ vẫn không bao giờ để thưa tiếng trống. Giữa hai hồi trống, thấy cỗ áo quan nguội lạnh, anh đi sửa lại cây đèn cầy nghiêng, đốt giấy vàng bạc, thắp nhang, rồi khói lại tiếp tục nối vào khói ấm áp… Lủ lủi thủi, mà tận tụy. Buổi khách viếng đông, đám thanh niên kia cà lơ phất phơ, bởi một mình anh Lủ chạy trà nước cũng đủ chu đáo rồi, dù mệt đừ, mồ hôi nhễ nhại, nhìn thương. Người như anh ở chốn nhốn nháo nào cũng bị lạc giữa những người khôn toan tính thiệt hơn. 
Lại nhớ Soi, một khán giả hâm mộ đặc biệt của anh nghệ sỹ bạn tôi, bẩm sinh ngây ngô dài dại. Chị mê cải lương, mùa khô nào đoàn hát về chị cũng đi coi, và vô cùng ngưỡng mộ anh bạn tôi. Hết buổi diễn, chị thường len vào đằng sau sân khấu để tặng anh khi thì trái khế, trái bần, khi thì cái bánh dừa, khúc mía… không quên ngọng ngịu khen, hát hay quá à... Lớn tuổi, anh không đi hát nữa, quản lý đoàn một thời gian anh về Sở làm việc như một công chức bình thường. Có chiều từ cơ quan về anh thấy chị Ngơ Ngẩn đứng chờ ở cỗng. Anh hỏi, “Em kiếm tôi à, Soi?”. Chị chìa ra mớ bông rau muống héo queo, chắc là hái ở dọc đường, nói “Cho nè…”. Tay đưa về phía anh mà mặt day chỗ khác, ngượng ngùng đúng kiểu… cải lương. Xong chị ra về, từ trung tâm thành phố,  Soi phải đi hơn hai mươi cây số đường sông mới tới nhà mình. 
Hơn nữa đời ca diễn, người nghệ sỹ nổi tiếng lần đầu tiên nhận được một bó hoa kỳ lạ. Nghe chuyện, ai cũng buồn cười, nhưng trong lòng nhuốm màu chua xót, mai kia khán giả không còn nhớ anh nữa, tên anh, giọng hát anh bị vùi dập mất tăm giữa những thần tượng mới, thì anh vẫn còn chị Ngẩn Ngơ, lâu lâu lại xuất hiện để tặng hoa cỏ dại hái bên đường xơ xác, tưởng thưởng cho người nghệ sỹ này đã từng sáng chói, vàng son. Chị không được trời cho chức năng quên lãng. 
Nhưng cái mối quan hệ bi hài, vừa buồn cười vừa ngọt ngào vừa xót xa đó không phải ai cũng có. Bạn tôi vô tình nhận được vì anh đã bình thản chào đón một khán giả dị tật như một người bạn lâu ngày, như một người bình thường với trái tim, khối óc bình thường, “Em chờ tôi lâu không, Soi ?”. Cho là anh giả bộ, anh diễn, nhưng hình như không nhiều người diễn cho ra cái vai nhân hậu đó…
Chè : Nói thiệt, lúc viết bài này tui quợn dữ lắm, tại vì tui để ý rùi, hễ tui viết liên quan tới bệnh gì thì người thân tui có bệnh ấy. Trước viết CDBT có vụ thằng nhỏ chảy nước mắt sống, sau này xảy ra chuyện thằng con tui lúc còn trong tháng, bị trào sữa lên mặt, lên mắt, giờ hay chảy nước mắt sống lắm. Bác sỹ vườn nói có cái ống thoát nước mắt trong mắt bị tắc rùi(tui nôm na vậy), lớn lớn chở đi Sài Gòn thông ống. Tui hoang mang không biết chữa có khỏi không thì mới đây, viết tào lao về trái tim hư hao, cái má tui đang mạnh giỏi mập mạp rắn rỏi, 66 tuổi còn chạy xe máy đi ào ào, chuyên làm tài xế chở ba tui đi huyện chơi, tự dưng lăn đùng ra nhồi máu cơ tim, vào đúng ngày 15/08 (vậy là các bạn biết lý do tại sao blog tui đứng hình lâu zị hén ). Tui phải lấy hết sức can đảm để mà viết cái bài này vì tui thấy chắc mình hong có sinh đứa nữa.
Thiệt là bi thảm lắm, giờ tui hong biết cho nhân vật tui chết vì cái gì nữa, nhưng tốt nhất là hong nên đụng xe, té hố ga, dây điện thoại quấn, bệnh ung thư, chìm xe chết đuối trên đường, ăn khoai tây Trung Quốc bị ngộ độc, bị tàu Trung Quốc bắn, ngộp thở vì công nhân Trung Quốc bao vây... Mấy cái này có nguy cơ cao, có lẽ nên lấy lý do bù loong máy bay rớt trúng đầu, chết. 
Vậy đi 

bài mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư 
tự Tư Bất Tận hay Saurieng, hay...thôi hổng nói nữa sợ cô ấy bắt chước thì hết dốn.