Thứ Hai, 7 tháng 9, 2009

PHÓ THỦ TƯỚNG LỠ MIỆNG


          Là lỡ miệng nói… dối, chứ không phải lỡ miệng nói thật như ông Trần Đình Đàn  (Bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội).

          Thật tình, tôi không dám tin những lời nói đó là của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Hai ngày qua, tôi đã cố ngóng chờ một lời cải chính từ báo chí rằng đó là do các tòa báo dẫn sai lời ông. Hoặc một câu “nói lại” từ chính Phó Thủ tướng rằng đó chỉ là do cách diễn đạt của ông nó luẩn quẩn, rối rắm khiến người nghe hiểu sai, hay chỉ bởi ông lỡ miệng nói sai mà thôi.
          Và rồi tôi thất vọng. Thất vọng khi hiểu ra báo chí dẫn đúng lời ông, không sai một dấu phẩy.
          Hãy nghe lại lời Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: “Cho đến lúc này, dư luận trong nước cũng như trên thế giới, kể cả những người khó tính, còn ai nói đến vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên nữa. Điều đó cho thấy, khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”. (theo VietNamnet)
          Có thể, Phó Thủ tướng không nghe thấy ai nói thật. Hoặc có nghe nhưng ông lỡ miệng… nói dối!
          Tôi không tin Phó Thủ tướng lại nói dối, nhưng tôi cũng không tin ông lại không biết, không nghe được những ý kiến phản đối chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, sự phản đối đã trở nên như một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử. Sự phản đối đồng loạt, rầm rộ, cuốn hút, quyết liệt, căng thẳng đến mức buộc Quốc hội và Bộ Chính trị phải có ý kiến “lắng nghe, tiếp thu”…
          Chỉ riêng trang mạng Bauxite Việt Nam, đã có 2.751 chữ ký phản đối của trí thức trong và ngoài nước (tính đến 11 giờ trưa ngày 7-9-2009). Chẳng lẽ Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng không biết, không nghe thấy những tiếng nói phản đối của hàng nghìn trí thức kia? Và hàng nghìn ý kiến khác từ các nhà khoa học, văn hóa, các bậc công thần và tướng lĩnh cao cấp. Chẳng lẽ Phó Thủ tướng cũng không biết và không nghe thấy ý kiến phản đối của đại tướng Võ Nguyên Giáp qua 3 bức thư can gián gửi Ban Chấp hành Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ?
          Tôi không ký vào bản kiến nghị của Bauxite Việt Nam, nhưng không phải là tôi đồng tình với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên. Có thể người ta không nói, nhưng không phải không nói tức là họ đồng tình với anh. Có khi là do người ta nản chí, không còn tin vào anh nữa nên mới không thèm nói!
          Vì thế, bảo việc khai thác bauxite Tây Nguyên đến nay không còn ai nói nữa, đang gặp thuận lợi, tức là anh đang nói dối, là phủ nhận, là không thèm lắng nghe và hắt gáo nước lạnh vào 3 bức tâm thư của ông Võ đại tướng cùng hàng nghìn trí thức đang còn nhiệt huyết góp ý cho Chính phủ.
          Tôi rất ngạc nhiên, ngạc nhiên đến sững sờ trước phát biểu của ông Trọng. Chẳng lẽ đó lại là phát biểu của một… Phó Thủ tướng?
          Một chính phủ mà chỉ thấy được thuận lợi, không nhìn ra khó khăn trước những chủ trương, quyết sách của mình, thì đó là một chính phủ… ngủ gật! Và tất nhiên khi đó cái chủ trương, quyết sách kia khó có thể thành công!
http://truongduynhat.wordpress.com

PHẠM LƯU VŨ - Thu Nguyệt và triết lý...



Tập thơ bìa cứng, trang nhã một màu vàng nâu, mới nhìn tưởng như một mảnh... ván ép. Trong ruột tuyền một loại giấy dày, trình bày giản dị, thậm chí cố làm như cẩu thả, sơ sài. Tên tập thơ, hai chữ: “Theo mùa” chân phương, viết tay như thể bằng bút chì, ngay dưới bức tranh thiếu nhi thu nhỏ như cũng được nguệch ngoạc bằng bút chì.

Bức tranh của một cô bé tám tuổi cực kì ấn tượng. Tất nhiên không thể thiếu mấy chữ: “thơ thu nguyệt”(không viết hoa) nhỏ li ti nhìn tinh mới thấy, lại chia thành từng chữ cái mà trình bày theo hàng dọc, nom như bóng của một... cây tăm.


Thế mà bên trong lại chẳng “tăm” tí nào. Tôi phải lấy ngay câu hay nhất, trong một bài thơ vào loại tuyệt bút của tập thơ làm “tít” cho bài viết này. Câu: “Cả đời làm một cuộc rơi không thành”. Bài thơ có tên: lá giả. Nguyên văn như sau:


Sống dai hơn lá ngoài trời
Cả đời làm một cuộc rơi không thành


Gió đùa không biết rung rinh
Nắng mưa không thấm, trơ mình mà xanh
Giọt sương cũng giả long lanh
Hình như chỉ bụi đeo quanh thiệt lòng!!!


Bạn đã thấy hồn vía của lục bát chưa? Nhuyễn đến mức làm người ta quên rằng mình đang đọc một bài... lục bát. Nhưng trên hết là cái tư tưởng xuất thần của tứ thơ. Té ra con người làm ra những chiếc lá giả (bằng ni lon, bằng vải...) chẳng qua là một cách mô phỏng chính... cái kiếp người. Phật dạy kiếp trần tục chỉ là tạm bợ, là giả. Thì có khác gì chiếc lá bằng nilon, bằng vải... ấy. Tất cả đều là giả hết. Giả từ màu xanh cho đến sự long lanh... Nhưng mà cái thứ bám vào là bụi, bụi đời kia thì... có thật. Bài thơ ngắn, nhẹ nhàng mà thấm thía. Câu: “Cả đời làm một cuộc rơi không thành” có thể ám ảnh bất cứ người nào (chẳng may) đọc phải.


Cần phải nói rằng trong “phong trào” mới mẻ, cách tân, phá phách... thi ca, chữ nghĩa, văn chương sôi sục, lục bục như một nồi cháo khê vĩ đại hiện nay, Thu Nguyệtlà một nhà thơ trẻ vẫn bình tĩnh giữ cho mình một giọng điệu truyền thống. Có vẻ như nữ sĩ này cho rằng hình thức, giọng điệu không quan trọng. Quan trọng là có cái gì ở trong “thơ” hay không. Không chọn trước giọng điệu, tôi biết có nhiều người làm thơ như thế. Cứ mặc cho cảm xúc nó “hạ” ta xuống “con đường” nào, ừ thì đi theo “con đường” đó. Mọi “con đường” đều dẫn tới... thi ca! Một tập thơ gồm bốn mươi tám bài, có đến ba phần tư (ba mươi sáu bài) viết dưới thể lục bát. Vậy mà đọc vẫn không nhàm. Bài theo mùa mở đầu tập thơ, chính là nói đến cái “tâm” ấy của nhà thơ. Một thứ “tuyên ngôn” giản dị của một tâm hồn nữ sĩ:


Lòng người chẳng hạ chẳng đông
Lòng ta hạt nhớ đem trồng đất quên


Cây đời ta mọc mình ên
Ngả nghiêng rồi cũng làm nên bóng tròn
Lẽ thường nắng tắt mưa tuôn
Ta không có bóng vẫn còn có ta
Không cần trái, chẳng cần hoa
Xanh xanh vài chiếc lá là có cây


Lộc non chăm chút tháng ngày
Vậy rồi...
ta thả lá bay theo mùa.


Bạn cứ đọc tiếp tập thơ đi, rồi bạn sẽ tin rằng Thu Nguyệt đạt tới cái “nhẽ” của một nỗi lòng tâm thế. Những bài thơ, những câu thơ không còn mang “giới tính” của người đã sáng tạo ra nó. Đây là điều khác biệt hẳn đối với đa số các nữ thi sĩ ở xứ ta hiện nay. Thơ của các “nàng” đọc một bài, thậm chí một câu cũng biết ngay đó là của một nhà thơ nữ. Nếu không xưng “em”, thì cũng có gì đó điệu đàng như được phớt qua son phấn, thậm chí có “nàng” còn không ngần ngại lôi cả “của quý” của mình vào thơ. Thơ Thu Nguyệt hoàn toàn không giống như thế. Cả tập thơ chỉ hai ba bài có chữ “em” thì hình như lại để ở ngôi... thứ hai. Ngôi thứ nhất trong mấy bài ấy vẫn là chữ: “Ta”. Cứ như thơ của một chàng trai tặng cho người tình của mình vậy. Ví dụ bài gió tan:


Luôn vòng tránh nẻo bình yên
Tình yêu, ngọn gió luôn quên bầu trời
Biết lòng gió chỉ vậy thôi
Mênh mông em vẫn bầu trời đa đoan


Vẫn thừa một ánh trăng sang
Vẫn dư một mặt trời khan ngắm mình
Rối ren ngàn ánh sao xinh
Lung tung hàng triệu thứ tình không đâu


Ta tìm hoài gió trong nhau
Gió tan lại miệt mài đau suốt đời
Ta quên có một bầu trời
Bên ngoài ngọn gió có rồi lại tan...


Kể ra bài này vẫn có chút gì lý sự, làm dáng chữ nghĩa, phảng phất một giọng thơ học trò. Cái gì mà “ánh trăng sang”? rồi lại “ánh sao xinh”?... Nhưng đến mấy câu trong bài ngoái sau đây thì các bậc mày râu thi tửu xưa nay chắc cũng viết đến thế là cùng:
...


Kẻ ngông bày ra rượu
Người trí bày ra trà
Ta không ngông không trí
Trà rượu đều chán ta.
...


Đã tâm thế thì không thể không triết lý. Con người trôi theo dòng chảy cuồn cuộn của cuộc đời thật khó mà nhận ra một cái gì đó của riêng mình. Thu Nguyệt viết về cái triết lý ấy rất giản dị mà rõ ràng. Bài thơ có tên: miền không bay:


Ta là cái kiếp thiên di
Nương theo lực hút mà đi theo đàn
Thuận theo thời tiết mùa màng
Một chiều trở chứng rẽ ngang thình lình


Xứ xa đứng hót một mình
Thấy hoàng hôn giống bình minh lạ lùng


Quay về lực hút đàn chung
Phận non thì phải bay cùng thế thôi
Lâu lâu làm chuyện ngược đời
Tách đàn ra đứng khơi khơi...
lại vào!


Lạc đàn ta chẳng muốn đâu
Mà sao thỉnh thoảng cứ nhào ra riêng


Gió lùa theo hướng chữ DUYÊN
Ta bay chung để đến miền không bay.


Tôi có thói quen đọc thơ khác với đọc tiểu thuyết. Tiểu thuyết thì phải đọc lần lượt từ trang đầu đến trang cuối, hết tập nọ rồi mới đến tập kia. Thơ thì không cần phải như thế, thậm chí không nên như thế. Một tập thơ có thể đọc bắt đầu bằng bất cứ trang nào, bất cứ bài nào, thậm chí câu nào. Mở ra rồi gấp lại. Gấp lại lại mở ra... Cái kiểu đọc ấy rất thú, nó không làm ta nhàm chán đã đành, lại rất dễ “tóm” được những câu thơ hay. Chẳng hạn:


Biển ngàn năm vẫn mênh mông
Ta vài năm đã nghe lòng cạn khô. - Bài cạn trang 18


Hoặc:

Núi rừng cứ đẹp trơ trơ
Làm cho ta bỗng nghi ngờ chính ta... - Bài mỏi mòn trang 27


Hay là:


Gió nương mái cũ đi nhờ
Hiên nhà dấu nước vẫn chờ giọt mưa. - Bài vẫn y trang 25


Đến những câu như thế này thì thật thích:


Hình như núi sững sựng buồn
Mây bay trần tục như luồng khói xe. - Bài mốt trang 13
...


Tập thơ còn có hai bài lục bát, hiện đại bởi dùng ngay những thuật ngữ vi tính, biến ngôn ngữ trên bàn phím, trên màn hình máy vi tính thành ngôn ngữ thơ rất khéo, rất tài hoa. Bài keyboard thơ:


Ta cầm tinh tuổi con mèo
Vừa đì lít (delete) đã vội seo (save) nỗi buồn


Việc đời nửa nắm nửa buông
En tơ (enter) vừa mất, cuống cuồng ân đu (undo)
Cắt dán (cut paste) dữ liệu lu bu
Phai (file) tình, phai nghĩa... không lưu cũng đầy!
Muốn được an (alt) cũng bó tay
Đời như kiếp chuột (mouse) cứ xoay vòng vòng...”


Bài không cần password:

“Ta mong mở cổng niềm vui
Mà không biết password đời đặt ra...”
Tôi cũng đã từng đọc tạp văn của nữ thi sĩ này. Một giọng Nam Bộ rất chi là tự nhiên, máu thịt. Thơ của chị cũng thế. Có những câu thơ tỏ ra hơi dễ dãi, nhưng vì âm hưởng vùng quê của nó mà vẫn không nỡ trách:


Cái trò tát nước đầu đình
Bỏ quên áo xống linh tinh mắc cười... - Bài chỉ một chữ HƯ


Đến cái tên bài thơ đôi khi cũng giản dị như một câu nói miệt vườn. Bài vậy cũng ngon rồi:


Cám ơn chiếc dép người kê
Cho ta ngồi giữa bốn bề cỏ hoa
Bàn chân nhấm dấu đường xa
Dép mòn sát đất có mà như không!

Dẫu sao còn một chút lòng
Cho nhau tựa giữa mênh mông cuộc đời.
Đâu cần dép phải đủ đôi
Chỉ cần một chiếc kê ngồi cũng ngon!
Chỗ ngồi này hẳn là ngồi thiền, không thì cũng ngồi bên cạnh chùa. Thiền thì không thể có đôi. Ngồi bên chùa thì chớ ngại lẻ loi. Tập thơ còn có mấy bài viết về thiền, về chùa song chưa có ấn tượng mấy. Chắc tại hồn vía thơ của những vị đại sư kiêm thi sĩ như Mãn Giác thiền sư, Trần Nhân Tông... vẫn còn văng vẳng đâu đây chăng? PHẠM LƯU VŨ


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Photobucket


THÊM THÔNG TIN MƠI VỀ VỤ TÀU "LẠ" VÀO BẾN QUEN
                                                                                             Thanh Thảo                    
     Tàu "lạ" vào vịnh Việt Thanh cách nhà máy lọc dầu Dung Quất 02km, chạy lòng vòng quanh phao rót dầu không bến SPM mấy vòng rồi...đi, không biết đi về phương mô (!)...
     Anh em kỹ sư NMLDDQ trong khi làm việc ở phao rót dầu đã chụp được ảnh này. Ảnh khá rõ, dù có sương mù và cả những đôi mắt...mù sương khi nhìn ảnh. Theo anh em kỹ sư, thì tàu chỉ "lạ" với ai đó, chứ không hề lạ với những người tận mắt nhìn thấy nó. Đó là tàu của bác "Hồ" (Cẩm Đào) vào thăm NMLD Dung Quất. Chỉ thiếu băng-rôn và cờ phướn (có lô-gô quảng cáo các doanh nghiệp) do Sở văn hóa Quảng Ngãi treo lên trên phao rót dầu nữa là đủ bộ lễ chào mừng( !?) Mấy hôm nay, cứ nghe ồn lên về chuyện NMLD Dung Quất phải tạm dừng hoạt động do bị hỏng một chiếc van nào đó. Chiếc van hỏng có thể thay van khác, lại do nhà thầu Technip chịu trách nhiệm hoàn toàn bởi nhà máy đang trong giai đoạn chạy thử, càng phát hiện được nhiều lỗi càng tốt, vì mọi chi phí sửa lỗi do nhà thầu lo.
Vậy mà cứ ồn ào lên vì một chiếc "van" bé tí, trong khi lại "lờ" đi như "không biết không nghe không thấy" một cái tàu "lạ" lù lù to hơn 100 đống rơm chạy la đà sát cạnh nhà máy lọc dầu "tỉ đô" của mình. Đó chẳng phải điều "lạ" nhất, lạ hơn cả chiếc tàu "lạ" kia nữa sao ?


thanh thảo
                                
                          CHÀO TÀU LẠ
 


em “hảo lớ” còn anh hở (ra là) láo
em thụt thò ra cáo vào cua
mặc anh đánh võng như đùa
thuyền em anh húc biển khuya mịt mờ
lọc dầu Dung Quất dung quơ
em chưa kịp cúng anh trờ vào ngay
băng rôn cờ phướn giăng đầy
em chào anh suốt nửa ngày chưa xong
chào anh tám chữ vàng ròng
chào anh mười sáu cái còng số 3
còng số 3 mở ra quá dễ
còng số 8 anh để dân (nhà em) xơi
anh bung “hảo lớ” zàng trời
em dâng bô-xít kính mời anh “xư”(*) !
------------------
(*) xư: ăn 
                                                                                                           
CA NÔ CẮM CỜ ĐỎ SAO VÀNG XÔNG PHA ĐUỔI TÀU LẠ




Thêm tin mới về chuyến "viếng thăm" vịnh Việt Thanh sát cạnh nhà máy lọc dầu Dung Quất của tàu "lạ":
Sau khi chờ mãi không thấy bộ đội biên phòng hay công an xông ra truy bắt tàu "lạ", đội kỹ sư của nhà máy lọc dầu Dung Quất, trong tay không tấc sắt, gồm 8 người bèn nhảy lên ca-nô 20 mã lực (he he) cắm cờ đỏ sao vàng chạy thẳng ra tàu lạ đồng thanh hát bài nhạc đỏ từ thời chống Mỹ, có chỉnh lời cho lịch sự hơn, để xua đuổi: "Vùng biển của ta đâu có phải ao nhà của...bác, tè te tè te...không cho bác kéo đến hành hung tì ti tì ti..." . Nghe nói, tàu "lạ" rất dửng dưng khi nghe bài hát đầy hùng khí này, nhưng nó có lẽ thấy...ngượng, vì để cho một chiếc ca-nô bé con cắm cờ đỏ sao vàng xua đuổi, nên loanh quanh một lúc "cho đời mỏi mệt" rồi...chạy. Vậy thì, ít ra, với tay không, chỉ có lá cờ đỏ sao vàng oai dũng, những kỹ sư trẻ của chúng ta đã làm thay công việc của những tàu chiến hay bét ra cũng là tàu phóng lôi hoành tráng. Hoan hô các kỹ sư nhà máy lọc dầu Dung Quất!


                                                                                                                 thanh thảo
Nguồn: bichkhue.org

Tùy bút Của Khánh Ly





Tôi không bao giờ nghĩ rằng có một lúc nào đó như lúc này, cuộc sống của ca sĩ Hải Ngoại và Việt Nam lại được mang ra mổ xẻ rạch ròi, tới tấp như thế. Có lẽ, trong đầu óc đơn giản của tôi, ca sĩ ở đâu cũng là ca sĩ…. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ đặc biệt chung cho mọi người, ở mọi nơi, mọi phía. Không có biên giới…. Nhạc đã được khẳng định như vậy, lẽ nào người hát lại bị loại ra ngoài.


Tôi không hề phân biệt ca sĩ trong hay ngoài nước. Có chăng, điều bị chỉ trích là cách sống của những người cùng chung một nghiệp dĩ ở hai bờ đại dương. Những ca sĩ lớn lên hay thành danh ở trong nước dường như không có một khái niệm nào về nghệ thuật và quá trình của lớp người đi trước họ cả một phần tư thế kỷ. Và cũng không ai nói cho họ nghe về một thời bình an, đẹp đẽ của sân khấu Miền Nam, trước mùa Xuân 75.


Chúng tôi, lớp người đã được quần chúng chấp nhận trước 75, thật sự đã trải qua bao nhiêu khó khăn, bằng chính năng khiếu của mình. Chỉ có một ít may mắn đủ trình độ văn hoá Đại học và tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Đức Huy, Quỳnh Giao, Mai Hương…. Còn lại, đa số chỉ đến Trung học, chưa bao giờ bước chân vào Quốc Gia Âm Nhạc. Lên sân khấu, với năng khiếu Trời cho và may mắn được chấp nhận.


Thời đó, ca sĩ rất ít và không phải bất cứ ai bước lên sân khấu, là đều được coi là ca sĩ…. Quần chúng phải chấp nhận. Các ca sĩ phải chấp nhận. Các trung tâm thâu băng, đĩa phải chấp nhận. Các đài phát thanh phải chấp nhận, chúng tôi mới có được… tạm coi như là ca sĩ và vẫn nằm trong sự kiểm soát, nghe ngóng, chăm sóc của các Trung Tâm mà trung gian là nhạc sĩ.


Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Gảy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”. Chị Lệ Thu với Ngậm Ngùi và cô Thái Thanh gần như “độc quyền” nhạc Phạm Duy.


Không ai có thể thay thế ai. Vì sao thế, vì thời đó, các nhạc sĩ… đo ni may áo cho ca sĩ. Không thể trật đi đâu được và vì thế, bài hát làm nên ca sĩ. Trúng một cái, cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ đều như sóng dội. Thời đó nhạc sĩ nhiều hơn ca sĩ. Ngoài công việc chính, họ chỉ chú tâm sáng tác và chọn những giọng hát hợp với bài hát. Phần chúng tôi, mỗi người có một chất giọng riêng. Nghe là biết ai ngay. Chúng tôi đủ thông minh để không giẫm chân người khác.


Năm 69, ông Thiêng, ông Quân có 2 bài… hai bài này chỉ có Khánh Ly, đó là “Kinh Khổ” và “Trên Hoang Tàn Đổ Nát”…. Ông Minh Bằng giao cho tôi… “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ”. Kim Loan với “Căn Nhà Ngoại Ô”. Giao Linh với “Những Đóm Mắt Hoả Châu”. Phương Hồng Quế có bài “Giờ Này Anh Ở Đâu”. Mai Lệ Huyền và Hùng Cường có một loại nhạc riêng, quen gọi là nhạc kích động.


Chỉ hát một nơi với bài “Mùa Thu Cho Em”, Xuân Sơn đã làm bao người điêu đứng, chưa kể đến bài “Trăng Sáng Vườn Chè”- dẫu sau này Ái Vân dựng lại bằng nhạc cảnh – cũng không làm người nghe quên nổi Xuân Sơn. Carol Kim hát “Hãy Khóc Đi Em”. Ông Sơn bảo… chỉ có Carol Kim hát bài đó trội nhất… Duy Quang trình làng “Thà Như Giọt Mưa”. Elvis Phương bài “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang”… Còn ông Chế Linh thì bài nào vào tay ông là lập tức trở thành của ông.


10 năm đầu, tôi chỉ nhận được 2 bài hát của ông Sơn “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Một Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Cả hai đều bị giam, cấm phổ biến. Dĩ nhiên tác giả cũng không thể ngồi yên. Lý do đơn giản thôi… viết cho KL. Mấy năm sau đó, một bài hát nữa cũng của T.C.S bị dập, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội”… cũng lại vì KL. Tôi nhận được bài hát từ những người vượt biển. Cũng khoảng thời gian đó, từ Pháp gởi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số đó có bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thuỷ là “Nước Mắt Cho Sài Gòn”. Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời hai, Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Đình Toàn, và trong bài viết có câu “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.


Nhưng phải nói rõ, ngay từ những ngày mới tới Mỹ, khi mà mọi người còn bị chia ra, sống riêng lẻ mỗi người một nơi, khó có thể tìm ra nhau từ những trang trại rộng lớn, nằm khuất sau những dãy núi cao mà ngay khi chạy qua trên các xa lộ, chúng ta không thể nhìn thấy được, “Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt” của Nam Lộc đã được viết trong thời gian đó. Một ca khúc đơn giản xuất phát từ nỗi lòng của một người vừa rời xa quê hương. Không cầu kỳ văn hoa chải chuốt nhưng rất thật thà nói lên sự tiếc thương, nỗi đau xót và mơ ước ngày trở về, cho dẫu đã nói lên lời vĩnh biệt.


Đức Huy trình làng “Đường Xa Ướt Mưa” năm 1979 cùng lúc với Tùng Giang “Tôi Với Trời Bơ Vơ” và Nam Lộc “Người Di Tản Buồn”. Linh Giang “Tôi Muốn”. Phạm Duy “Nguyên Vẹn Hình Hài”, Hoàng Quốc Bảo “Mưa Trên Thành Phố Cũ”, Nguyễn Đức Nam với “Buồn Tháng Mưa”… trong khi đó nhạc Vàng ở VN bị xoá sổ. “Rơi Lệ Ru Người” viết từ năm 75 (khi nghe tin tôi chết trên biển) phải chờ đến năm 1992 khi gặp ở Canada, ông Sơn mới chép in cho tôi bài đó.


Giữa thập niên 80, một số ca sĩ ở VN mới được phép hát lại, nhưng vẫn chỉ loanh quanh ở những tỉnh nhỏ. Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân từ Nhật Ngân lập đoàn gồm Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Lan… bữa đói, bữa no, ngủ đình, ngủ chợ, mong được hát cho nhiều hơn là kiếm miếng ăn dẫu rằng ai cũng đói. Nhã Phương và Bảo Yến nổi lên, rồi Ngọc Bích, Thanh Lan ở tù liên miên vì tội vượt biên. Nhưng một số ca sĩ may mắn hơn Thanh Lan là Lệ Thu, Ngọc Minh, Hoàng Thi Thao, Lê Uyên và Phương đã đi được. Thanh Tuyền, Giao Linh, Chế Linh cũng thoát. Vài năm sau đó có Thái Thanh đến Mỹ. Như thế, lớp ca sĩ cũ của chúng tôi còn ở VN là Hồng Vân, Lan Ngọc, Nhật Thiên Lan, Mộng Xuân Lan, Ngân Hà, Giang Tử, Anh Khoa… và rất nhiều nhạc sĩ.


Sau thời VN tưng bừng “mở cửa” rồi tưng bừng “khép lại”. Bài tình ca đầu tiên được viết ở trong nước, ra Hải Ngoại và lọt vào lỗ tai tôi là bài “Giọt Nắng Bên Thềm” rồi bài “Em Ơi Hà Nội Phố”, bài này, trong nước coi như… rửa mặt cho Hà Nội sau mấy chục năm. Và từ đó trở đi, nhạc tình được viết với tốc độ khá nhanh bởi những tác giả trẻ và xa lạ - ngoại trừ Quốc Dũng, Bảo Chấn và Bảo Phúc tung ra Hải Ngoại những khuôn mặt lạ, trẻ và một kiểu hát như nhau, chất giọng như nhau, đến nỗi có đôi khi chợt nghe, tôi không thể phân biệt ai là ai.


Tôi không nghĩ những bài hát được sáng tác ở trong nước là dở - có lẽ tại tôi bảo thủ quá chăng – nhưng với một thành phần nhạc sĩ đông đảo, sáng tác liên tục không ngưng nghỉ trong một môi trường thuận tiện, rộng lớn – 70 triệu người nghe. Nói thật lòng, tôi chỉ nghe được “Giọt Nắng Bên Thềm”, “Em Ơi Hà Nội Phố”, “Thuyền Và Biển”, “Phượng Hồng”, “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa”, “Tháng Tám Mùa Thu”, “Quê Hương”. Và chỉ có như thế (tôi không nói về nhạc T.C.S). Những bài hát khác không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.


Khoảng trong 2 năm đầu khi những bài hát ở VN tràn ra Hải Ngoại, nhiều người điên cuồng tìm mua nghe, tưởng như nhạc trong nước đã đè bẹp, giết chết nhạc Hải Ngoại phá nát thị trường băng nhạc ở đây. Bạn bè xôn xao hỏi. Tôi nói không bi quan cũng không chủ quan… rồi cũng qua nhanh như lửa rơm… Chỉ đơn thuần là ý nghĩ của tôi với những bài hát viết từ trong nước tôi đã nghe không phải một lần. Vả lại trong số những tác giả trẻ, có người tôi biết trước năm 75.


Các trung tâm cũng xôn xao. Tại sao thế nhỉ… Có nhiều TT ở đây phát hành băng đĩa VN cơ mà. Họ bán 10 đồng 3 cuốn CD rồi 10 đồng 4 cuốn. Nếu CD của chúng tôi bị in giả tại VN lan tràn từ Nam ra Bắc, từ hàng thịt chó tới hàng bún chả, đến phòng tắm hơi, đến những quán karaoke. Từ taxi đến xe đò thì tại sao ở đây không? Một cuốn master thực hiện ở VN giá thành không bao nhiêu và khi được tung ra thị trường thì lại không chỉ dành cho một TT nào mà là cho cả chục người, rồi ai muốn bán kiểu nào, giá nào thì bán.


Bà con mình vốn tính luôn thích của lạ. Lạ mà rẻ, ai lại bỏ qua nhất là nó lại mới lại lạ (như mấy ông chồng bị ăn mãi cơm nhà, quà vợ, nay bỗng thấy người lạ, dẫu không đẹp, cũng vẫn thèm). Bèn mua về nhà ngay - giống phong trào phim bộ năm nào – và mê ngay. Có lạ gì đâu, 27 năm nằm gai nếm mật xứ người, nghe chừng đó ca sĩ, thuộc mặt từng người, coi bộ cũng… mệt mỏi rồi. Thích là phải. Đương nhiên thôi. Bao lâu thì chưa biết nhưng cứ thích, cứ mua cái đã. Thị hiếu của quần chúng đối với một thị trường lạ, tưởng không cần phải bàn ra tán vào, dài dòng, mất thì giờ.


Hai năm trôi qua – như tình yêu vậy, không còn gì mới lạ nữa. Những bài hát theo gió cuốn đi.


Sau mùa Xuân năm 75, đồn rằng tất cả nhạc vàng đều bị thiêu huỷ, ai giữ trong nhà như giữ đồ quốc cấm. Sách, truyện cũng cùng chung số phận. Phim ảnh dù bị hủy hoại cũng còn những bản phụ ở nước ngoài. Mọi người bị lùa đi học tập cải tạo không hứa hẹn ngày trở về. Ca nhạc sĩ bắt buộc phải trình diện gọi là bồi dưỡng chính trị. Những tà áo xanh, đỏ rực rỡ bỗng nhiên biến mất, chỉ còn quần đen áo cánh trắng hoặc nâu cho đúng với tôn chỉ cách mạng. Bao nhiêu khuôn mặt xinh đẹp, nổi tiếng của Sài Gòn nay e dè nhìn nhau như thăm hỏi… Họ nói cái gì thế nhỉ… Người nói cứ nói, người ngồi nghe như vịt nghe sấm, lòng thì cứ như đi đẩu, đi đâu. Nghĩ đến bạn bè ai đi thoát, ai kẹt lại… cái gì đã xảy ra cho SàiGòn… cái người đang giảng giải cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội kia là ai, ở đâu ra thế… tất cả bàng hoàng hoặc lo âu. Lo cho mình thì ít, cho gia đình thì nhiều bởi đa số ca nhạc sĩ đều có con em cha chồng là quân nhân, là có… nợ máu với nhân dân. Đã gọi là nợ thì phải trả nhưng trả thế nào đây?


Thật ra thì các ca nhạc sĩ không bị đày ải quá lâu với những chương trình bồi dưỡng chính trị. Họ khổ vì bị cấm hát. Suốt mấy năm trời cả miền Nam đều phải nghe một loại nhạc, một kiểu hát cùng một giọng giống nhau.


Những bài hát của miền Bắc mà dân Sàigòn phải nghe đã được sáng tác lâu rồi, giờ mới có dịp tung ra. Chỉ một loạt bài đó thôi sau năm 75, hầu như nhạc sĩ miền Bắc không viết loại nhạc ấy nữa vì người Sàigòn không muốn nghe. Nghe không vô cũng như họ phải chịu đựng những bảng hiệu tên đường ngô nghê, buồn cười, chẳng ra làm sao…đường Nguyễn Văn Bánh, đường Võ Thị Sáu… những người là ai… Khai quốc công thần của nhà Nguyễn chăng… Những bài hát cứ ồm ồm tra tấn lỗ tai người Sàigòn. Những con đường cũ làm cho người ta… khi hẹn nhau, ta lạc lối tìm… chắc cũng họp hành dữ lắm. Nghị quyết này, nghị quyết kia… tôi thấy thế này, tôi thấy thế nọ vân vân. Thanh Lan thành tích vượt biên nhiều quá. Cấm. Hồng Vân, Lan Ngọc tàn tích cũ. Cấm. Thế nhưng các tiếng hát miền Bắc lại không được Sàigòn chấp nhận. Bảo Yến và Nhã Phương lên tiếng đánh bạt các giọng ca… có dấm càng thêm chanh… Ngọc Bích cũng lên tiếng mạnh mẽ lẫy lừng một thời, cô là con gái của nghệ sĩ Ngọc Hùng, Ngọc Nuôi. Cô đã từng là giọng ca chính của ban nhạc The Crazy Dogs thì đương nhiên cô phải nổi bật.


Nhà nước cũng cho mời các nghệ sĩ nổi danh cũ, cho phép thành lập đoàn hát. Cho tập dượt tại nhà hàng Queen Bee. Có ban nhạc Shortguns, ông Lê Uyên Phương có Thái Thanh… Tập cho đã đến chừng phúc khảo ra mắt các quan to sừng dài thì… không đủ tiêu chuẩn (ông Lê Uyên Phương kể lại) thật cay đắng cho những tên mối lớn ở Saigòn. Ông Trịnh Công Sơn đi thực tập, học trồng sắn, trồng lúa, nuôi heo, ông đi theo con trâu ông chủ nhà tốt bụng cho mượn… tôi thấy chú tội nghiệp tôi thương, nơi đó là cả một bãi mìn, ngày mô cũng có người chết, chừ tôi cho chú mượn con trâu, chú cưỡi theo chân nó mà đi… Thời gian này, ông sáng tác bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”… Mình cứ vừa cày ruộng, trồng khoai vừa hát cho mình nghe – có thế mới sống nổi chứ. Ấy thế mà bài hát bị cấm… Đất nước thống nhất rồi, anh không đủ vui hay sau mà phải tự chọn cho mình một niềm vui?


Sau khi đã giữ chân mấy trăm ngàn người trong trại cải tạo. Làm bà con ta điêu đứng sau mấy đợt đổi tiền. Nhạc tình bắt đầu ngoi ngóp bằng những bài hát. Nửa mùa, quốc không quốc, cộng không ra cộng. Loại nhạc thăm dò dư luận cấp lãnh đạo. Cửa đã hé mở đón Việt kiều hồi hộp về thăm dân cho biết sự tình. Thanh Lan vượt biển hoài mà đường đi không đến bèn leo lên sân khấu hát lại. Cẩm Vân hừng sáng với giọng trầm, ấm áp, rõ ràng. Hồng Hạnh giọng mỏng hơn nhưng xinh đẹp, song nghiệp hát không lâu dài. Các ca sĩ được chú ý vẫn là Nhã Phương, Bảo Yến, Cẩm Vân, thỉnh thoảng mới có đề cập đến Lan Ngọc, Hồng Vân, Anh Khoa. Nhạc sĩ Duy Hải qua đời, nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang qua đời trong tù. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 gần như đóng cửa ở ẩn, không cộng tác với đoàn hát nào. Cô Thái Thanh, nhạc sĩ Hoài Trung bị cấm hát vĩnh viễn sau cái buổi phúc khảo tại nhà hàng Queen Bee. Một thời gian ngắn sau đó, nhạc sĩ Hoài Bắc vượt biên, nhạc sĩ Văn Phụng, cô Châu Hà cũng đi thoát….


Bài “Quê Hương” là bài tôi thích, bài “Thuyền Và Biển” do Cao Minh hát. Đùng một cái tôi thấy bà con trong và ngoài nước đua nhau hát… bằng lòng đi em… về với quê anh… nghe cũng có vẻ mời gọi lắm nhưng với tôi, nó có vẻ quê quê thế nào ấy. Bài “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” ấy thế mà tôi lại nghe được. Thì ra “Thuyền Và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu. “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bài “Dư Âm” ngày xưa…. Rồi sau đó là bông điên điển, là rau đắng, rau ngọt, rau mồng tơi. Lá sầu riêng, chôm chôm… thì thề… đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Tôi nghe mà còn khóc thì bảo sao bà con không đổ xô đi mua, không đè xấp, đè ngữa nhau giành chỗ trên những chuyến bay đi tìm những chùm khế ngọt. Đi để… thành người.


Sau đợt Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Ngọc Bích, Nhã Phương, Bảo Yến là những Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Phương Thanh, Thu Hà, Trần Thu Hà là những ca sĩ, nghe nói có được đào tạo trường lớp hẳn hòi và những ca sĩ này sáng tạo ra một lối hát giống nhau nhưng không giống ai. Không giống ai là điều tốt bởi mỗi người phải có cái riêng của mình như các lớp ca sĩ trước. Thanh Tuyền cất tiếng hát là biết ngay Thanh Tuyền. Lệ Thu vừa… nắng chia nửa bãi…. thì đó là Lệ Thu… Em tan trường về, anh theo Ngọ về…. là cô Thái Thanh. Bang bang, em bắn ngay anh… là Thanh Lan. Những ca sĩ không qua một trường đào tạo nào, họ qua… trường đời và họ có cá tính, có cái chất giọng riêng để phù hợp với các bài hát các nhạc sĩ viết riêng cho họ.


Tôi thường hay bị… đố nhạc… Đố chị biết ai hát đấy… và bao giờ tôi cũng thua vì cùng trường, cùng thầy, cùng một cách đào luyện ca sĩ trẻ ở VN hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn. Chẳng còn biết ai là ai mặc dù họ hát vững, kỹ thuật cao, chất giọng tốt và khoẻ nhưng mà ai mới được chứ. Cái… là ai… mới quan trọng. Theo trường lớp để biết kỹ thuật trình diễn, học hát để biết cách hát, biết cách ngân, biết cách lấy hơi chỗ nào, biết cách nhưng sao cho đúng đó là chưa nói đến vấn đề thầm âm. Người ca sĩ phải có cái lỗ tai tốt, nghe nhạc mới chính xác, bát cũng bị chênh. Một người ca sĩ, ngoài tiếng hát nếu biết rõ về nhạc lý thì càng tốt, tốt lắm lắm (nếu không, trường nhạc mở ra để làm gì) như các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và bác sĩ Bích Liên.


Âm nhạc và nhất là các ca sĩ trình diễn không thể bị đóng khung bởi những điều trường lớp dạy. Khi đã có căn bản, phải tự mình tìm cho mình lối trình diễn riêng và sử dụng tiếng hát của mình theo lối riêng lợi điểm của các anh chị không giỏi nhạc… như tôi chẳng hạn. Ngoài các thầy cô ở trường, khi ra tranh đua với đời, ta cũng nên tìm một người thầy hướng dẫn cho mình con đường nào tốt nhất. Đôi khi người thầy đó không giỏi nhạc nhưng họ có cái lỗ tai của người nghe, cái nhìn xa trông rộng giúp cho ca sĩ chọn đúng bài, cách trình diễn và cách hát. Người thông minh có thể không cần ai giúp vẫn tìm được cho mình một đường riêng, tuy nhiên điều này hơi hiếm. Phần lớn, các ca sĩ sau khi tốt nghiệp thường tự cho mình là giỏi, không cần ai nữa. Điều này thì nhiều.


Tôi viết những cảm nghĩ của một người nghe nhạc chứ không phải của một ca sĩ có 40 năm trên sân khấu. Tôi cảm thấy một nỗi thất vọng mênh mang khi cứ tình cờ phải nghe… nghèo 1 rồi nghèo 2 (đến nghèo 3 là sạt nghiệp)… Chim sáo ngày xưa 1, rồi chắc chim còn bay nên lại… chim sáo ngày xưa 2, (nếu không có chim 3 thì có nghĩa con chim này đã nằm trên đĩa). Chim này bắt chước chim đa đa, chim đa đa... đi mất thì đừng trách chim. Tôi nghe ông Song Ngọc hát… ngày chị sinh ứ…ư trời cho tôi làm thơ…ứ ư nhưng chữ ứ… ư này tôi không dám viết ra sợ bà con mắng. Tôi nghe bạn bè bảo bài… Nếu anh nói yêu em là thật ra anh đang dối lòng… là lời của một bản nhạc Mỹ nhưng tôi chưa nghe, không dám bàn tới, tuy nhiên, đó là một bài hát thành công của Bảo Chấn. Trần Tiến tướng tá bậm trợn, to như một đô vật nhưng lại thương cho một lá Diêu Bông, lại thương cho tóc gió thôi bay, lại làm riêng một bài hát về ông TCS. Nhìn ông TCS ngồi cạnh Trần Tiến, tôi nghĩ, đúng là…ở hai đầu nỗi nhớ….


Thì cứ cho là vì sống xa quê hương vì sự sống, các nhạc sĩ ở Hải Ngoại cạn hứng không có sáng tác nào đáng kể. Điều đó lầm. Ông Lê Minh Hằng đó chi. Ông Tuấn Khanh đó chi. Nghe “Nỗi Niềm”, “Nhạt Nhoà” mà không ngây ngất sao, nghe “Dĩ Vãng” của TNS mà không ngẩn ngơ sao. Nghe “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc mà không chảy nước mắt sao. Nghe “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương mà không ngậm ngùi sao. Nghe “Tôi Muốn Hỏi Vì Sao” của Diệu Hương mà không thương cảm sao. Nghe “Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương” của Trần Duy Đức mà không thấy lòng ??? ??? sao. Nghe “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”, “Một Ngày Việt Nam - Những Bước Chân Việt Nam”, “Cám Ơn Anh”, “Cờ Bay Trên Phố Bolsa” của TrầmTử Thiêng mà không thấy xót xa sao. Nghe đi. Nghe “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông” của Trúc Hồ - Trầm Tử Thiêng để thấy tấm lòng VN ở Hải Ngoại lớn lao, bao dung và nhân hậu biết bao nhiêu. Nhạc hay là nhạc đến rồi ở lại trong lòng chúng ta. Ở đây, mọi người cần phẩm, không cần lượng. Đối với người nghe nhạc như tôi, nhạc thế mới xứng đáng gọi là nhạc phẩm.


Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75 sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ VN bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?


Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ VN ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở VN đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Vì các anh chê chúng tôi nên nói…chơi cho vui. Nhạc các anh làm ra, bên này bán tự do 10 đô 4 cuốn, đổ đống ra, tha hồ mà lựa. Rồi 10 đồng 5 cuốn, mua về nghe không hay, không thích. Dụt. Coi như mất 2 tô phở.


Nhạc của chúng tôi lọt được về VN thật là thiên nan vạn nan, bài nào không có lợi, chủ tiệm băng bèn cắt, bỏ vào đó một bài khác. Bìa băng và tựa băng đổi luôn và như thế, làm sao người nghe có thể nghe được bài hát có giá trị. Các anh chơi như thế là không công bằng, không fair, hoặc là các anh… rét, không muốn phổ biến những bài hát đó. Ở Hải Ngoại chúng tôi có một dúm người, các anh có hơn 70 triệu dân. Chúng tôi không sợ nhạc của các anh làm ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, sao các anh sợ.


Các bạn của tôi giờ không ngại gì nữa. Nhạc Việt bây giờ là nhạc… lai căng (chính báo của Đảng đã than vãn việc này).


Tôi mơ ước được nghe lại những sáng tác đầy sáng tạo và đẹp đẽ của các nhạc sĩ ở trong nước cũng như chúng tôi ưu ái tiếng hát của các ca sĩ ở Việt Nam.
Khánh Ly



Thứ Năm, 3 tháng 9, 2009

Thư cha gửi con


Hôm nay cha viết thư này,
Gửi qua thằng bạn chỗ mày về chơi.
Cả nhà mừng lắm con ơi !
Thùng hàng mới nhận được lời lắm nghe :
Niken đổi được chục que
Vòng bi thắng đậm hơn xe rất nhiều
Điều hòa lãi chẳng bao nhiêu
May mà trong ruột có nhiều thuốc tây
Báo con chục kiện Camay
Tính ra chí ít năm cây có thừa
Xô tôn đã dặn đừng mua,
Làm sao mày cứ đóng bừa vào đây
Lần sau nên nhớ thuốc tây
Đồ nhôm nghỉ khỏe chớ dây làm gì.
Lanh-cô, e-rích, ăm-pi
Kháng sinh tổng hợp kiểu gì cũng chơi
Gốt-đen xem kĩ con ơi
Kẻo mà quá đát thì đời đi tong
Hóa chất có xoáy ra không
Cha đây đang có hợp đồng triệu đô
Hải quan con chớ có lo
Thằng nhỡ cha đã cài kho Hải phòng
Chú con chuyên tuyến hàng không
Cậu con soi máy khám trong Nội bài
Từ nay cho tới tháng hai
Chú Ba đi Bỉ, dì Hai đi Bồ
Kẻo thiên hạ bảo nhà ta tham tiền.
Thông tin giá cả báo cho kịp thời
Đồng rúp thì mất giá rồi
Lấy xanh mà tính lãi lời báo cha
Cần gì ghi thật rõ ra
Đồng hồ, áo chấm hay là áo phông
Áo thêu ở ngực có rồng
Hay là xì líp có bông hồng cài
Áo da đểu, sâm ki-tai.
Nữ hoàng lộng lẫy còn xài tiếp không ?
Bên ấy gái Cộng khá đông
Theo cha nên đánh cả vòng tránh thai
Thể thao mác giả Ki-tai
Hay mì chính Thái với đài Hồng kông
Bây giờ đang giữa mùa đông
Con xem loại tất xù lông thế nào ?
Áo ren các kiểu ra sao ?
Áo ấm chắc đã đi vào sử xanh
Cá sấu một thủa tung hòanh
Bây giờ có lẽ đã thành thiên thu
Sự đời nghĩ cũng phù du
Mốt này kiểu nọ tít mù cung mây
Mới vừa nhũ hổ bướm bay
Bướm giờ rã cánh, hổ bay về rừng
Hươu kia khí thế tưng bừng
Nay đà ôm hận giữa rừng áo da
Mèo vừa mới ló sang Nga
Chịu không thấu lạnh dạt qua Pô-lần(Poland-Balan)
Ào ào áo gió ra quân
Hỏi xem sống được mấy tuần nữa đây
Xét xem thế sự ngày nay
Thị trường biến hóa đổi thay khôn lường
Đồ thật thì đắt, tiền đâu
Mình buôn như thế bằng hầu người ta
Tiền dân Nga, đất dân Nga
Theo cha đồ dởm vẫn là hời hơn
Ngoài ra trong chuyện bán buôn
Thị trường quyết định thiệt hơn rất dày
Hàng sang con chớ đổ ngay
Đợi thời mà bán đến tay người dùng
Liên bang rộng lớn vô cùng
Sức trai con cứ vẫy vùng đôi chân
Dè chừng cái lũ công nhân
Tham gia quân đội nhân dân rất nhiều
Ma-phi trấn lột đủ điều
Quen nghề đạo chích đã nhiều năm nay
Ngang nhiên chiếm cứ sân bay
Cướp hàng từ cửa máy bay vừa về
Tránh voi thôi chẳng xấu gì
Lĩnh hàng chi chúng mấy tì mà ra
Bây giờ kể chuyên bên ta
Tình hình nát bét như là hũ tương
Mấy lần hội nghị trung ương
Xem ra chưa hẳn có phương kế gì
Dân tình ca cẩm như ri
Kêu thì kêu vậy làm gì được đâu
Thằng giàu thì cứ vẫn giàu
Kẻ nghèo vẫn kiếp ngựa trâu tôi đòi
Bung ra nay đã hết thời
Sức dân mà kiệt dẫu trời cũng thua
Trong nam lục tỉnh mất mùa
Sơn la sau một trận mưa tan tành
Trông vời mấy nước đàn anh
Liên bang tan rã cứu mình chẳng xong
xem ra một mớ bòng bong
Thiếu hàng viện trợ khó lòng đứng yên
Nhìn sang ông bạn Triều Tiên
cũng là vay nợ vay tiền đồng minh
Mấy nhà lãnh đạo Bắc kinh
Thế cô đổi giận làm lành với ta
Mối tình hữu nghị Việt Hoa
Trước là đấm đá sau là lên hương
Nhân vì Hoa-Việt thông thương
Hàng tàu tràn ngập thị trường nước ta
Dân tình kiếm cớ qua Nga
Mượn danh đi học thực là đi buôn
Đào vàng sập cả núi non
Nghe đâu đá đỏ lại càng khiếp hơn
Quỳ châu cùng cốc thâm sơn
Ai đem đá đỏ đem chôn xứ này
Nhiều thằng vận đỏ số may
Đã ô tô Nhật lại xây nhà lầu
Khối thằng bỏ xác rứng sâu
Khối thằng ngã nước trọc đầu như sư
Ông trời ăn ở khéo chưa
Người ăn chẳng hết kẻ lần chẳng ra
Trách trời cũng chẳng được chi
Có thân ta “tự độ trì” mà thôi
À, hôm chủ nhật vừa rồi
Mấy anh tổ lái lại chơi nhà mình
Nghe đồn ở tận Bắc kinh
Năm đồng một bịch to uỳnh nhân sâm
Ở Nga trăm tám mươi đồng (50USD)
Đem về Hà nội đếm không hết tiền
Bây giờ thời thế đảo điên
Ông già, bà lão phóng tiền ra mua
Năm nay thời tiết trái mùa
Bão to, lụt lớn chiêm mùa trắng tay
Trời thì cao, đất thì dày
Trung ương đang hứa chuyển lay tình hình
Nhân đây kể chuyện nhà mình
Để con được rõ sự tình con nghe
Thằng Hai đánh bạc gá xe
Thằng Ba thì vẫn rượu chè liên miên
Thằng Tư thì mới vượt biên
Thằng năm tháng trước lại lên Hỏa lò
Con Sáu học dốt như bò
Thi trượt tốt nghiệp vào lò mát xa
Khoe rằng lương tháng triệu ba
Ngoài ra còn khoản puốc-boa rất dày
Hôm qua khóc với mẹ mày
Mẹ ơi con mấy tháng này mất kinh
Khách hàng thì rất linh tinh
Làm sao biết được xuân tình của ai
Tao nghe dựng cả tóc mai
Mời thầy thuốc đến phá thai tại nhà
Biếu thầy năm chục đô la
Mong thầy kín tiếng kẻo mà về sau
Thầy thuốc nháy mắt gật đầu
“Lần sau cô bị em hầu cô ngay”
Nhân đây nói đến chuyện mày
Nghe đâu cũng xứng là tay giang hồ
Người yêu rải khắp Liên xô
Nghe trong số đó chục cô có bầu
Cha không trách cứ con đâu
Đương trai cứ việc kẻo sau khóc thầm
Nhưng mà trong chuyện hôn nhân
Lút-se nên chỉ một lần mà thôi
Phải suy tính kỹ con ơi
Trong cơn hoan lạc ngừng lời trăm năm
Thường khi chung gối chung chăn
Người ta thường dễ đem thân hiến bừa
Vừa rồi cha cũng có nghe
Con yêu cô bé cùng quê tỉnh mình
Hẳn rằng a-ná phải xinh
Nên con mới chịu nghiêng mình trao tay
Nghe cha ghi kỹ điều này
Phải con ông cốp xấu gầy cũng yêu
Ông cha cực khổ đã nhiều
Sống xa Hà nội thiệt nhiều nghe con
Núp mình dưới bóng ô tròn
Tương lai xán lạn, lầu son đề huề
Hồ gươm liễu rũ sum xuê
Hàng Ngang, Hàng Bạc, Thụy Khuê, Tràng Tiền
Đồng Xuân chợ họp liên miên
Mùa nào thức ấy sẵn tiền dễ mua
Thăng Long đất cũ người xưa
Mình con tỉnh lẻ, ai đưa con vào
Xa xôi tình cảm dạt dào
Bận gì thì cũng ghi vào lời cha
Coi chừng cái lũ gái Nga
Kẻo mà lại dính Sida có ngày
T.B :
À quên tao hỏi điều này
Tình hình sức khỏe của mày ra sao
Học năm thứ mấy trường nào
Phòng khi nhỡ có ai vào tao khoe
Dặn thêm đừng có mua xe
Bây giờ lãi độ nửa que là cùng
Mà chỗ thì chiếm nửa thùng
Khuân vác lại nặng phát khùng phát điên
Em mày tính vốn ngại phiền
Mặc dù nó thích dây chuyền đã lâu
“Con chẳng dám xin anh đâu
Anh con lại bảo : Em đâu hay vòi”
Mẹ mày đã luống tuổi rồi
Đừng nên tặng thứ tân thời làm chi
Can-xô, se-pốt, xe-ghi
Nặng gam là được cần gì hoa văn.
*
Thư này con chớ nói ra
Đều tờ răng dít Liên xô