Tạp Chí Đảng Tau là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng The Xo Vo. Hoàn toàn mở, cho các bạn đóng góp ý kiến, và trong tất cả mọi lĩnh vực. Sẽ hoàn toàn công khai minh bạch, không có vùng cấm trong đây: Ai cũng có thể phê phán Bộ Cả Tin, nếu như các ủy viên BCT có khuyết điểm, hoặc làm sai, làm bậy! Tổng Biên Tập: Té Giếng
Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012
Xung đột Trung - Mỹ và "lăng ba vi bộ" kiểu Việt Nam - Hữu Nguyên
Gậy ông đập lưng ông.
Song Chi.
Sức mạnh và sự tồn tại của một nhà nước độc tài phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát thông tin trong xã hội. Một mặt, hạn chế, bưng bít tất cả những thông tin trung thực nhưng bất lợi, mặt khác, lèo lái, hướng dẫn mạng lưới truyền thông lẫn hệ thống giáo dục, tuyên truyền…trong nước theo hướng có lợi cho chế độ, kể cả bóp méo, làm sai lệch sự thật, tạo ra những luồng thông tin dối trá và dối trá.
Nhà nước cộng sản Trung Quốc hay VN cũng không là ngoại lệ.
Với nhà cầm quyền VN, khả năng kiểm soát thông tin đó đã giúp họ tồn tại cho đến nay là hơn 6 thập kỷ, qua những giai đoạn khó khăn nhất. Ngay cả trong những ngày miền Bắc vật vã trong đói nghèo, chiến tranh và những sai lầm liên tiếp của công cuộc cải cách ruộng đất hay chiến dịch đánh phá phong trào Nhân văn giai phẩm; những ngày cuộc chiến tranh với Mỹ và miền Nam đang căng thẳng nhất; hoặc khi cả nước sắp đứng trước bờ vực của sự chết đói sau hơn 10 năm tiến hành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được áp dụng theo miền Bắc…
Khi còn kiểm soát được thông tin, kiểm soát được từ tư tưởng, tình cảm, cho đến hành động nhỏ nhất của người dân, bên cạnh việc nắm giữ lực lượng an ninh, công an, quân đội…thì chế độ cộng sản vẫn còn an toàn.
Sự an toàn tuyệt đối đó đã bị phá vỡ kể từ khi có internet ra đời. Từng ngày từng ngày bức tường sắt ngăn chặn thông tin của nhà cầm quyền bị xuyên thủng, rò rỉ cho những luồng thông tin từ bên ngoài tràn vào. Sự độc quyền thông tin không còn, đồng thời tất cả sự hạn chế, méo mó, sai lệch của cái hệ thống thông tin đặt dưới sự kiểm duyệt, lèo lái của nhà nước ấy dần dần bị phơi bày trước mắt người dân.
Nhu cầu khao khát thông tin, khao khát sự thật dẫn dắt người dân đến với những nguồn thông tin bên ngoài. Và khi nguồn thông tin này bao gồm báo chí quốc tế, báo chí của người Việt ở nước ngoài, các diễn đàn độc lập, mạng lưới trang blog cá nhân mọc lên như nấm sau mưa… càng lúc càng mạnh, phong phú, cập nhật nhanh, đa chiều hơn hẳn, thì người dân cũng dần dần không buồn đọc/nghe/xem nguồn thông tin chính thức trong nước hoặc đọc/nghe/xem với con mắt biết hoài nghi, đối chiếu, so sánh trong-ngoài…
Nhà cầm quyền, do vậy, không còn thi hành được chính sách ngu dân tuyệt đối như trước nữa.
Nhưng họ vẫn tìm mọi cách để không công khai minh bạch mọi thông tin mà người dân cần biết và có quyền được biết từ phía nhà cầm quyền.
Từ nhân thân, tính nết, năng lực thật sự, tài sản…của các quan chức lớn nhỏ, đặc biệt là các nhân vật lãnh đạo cho đến những chính sách, phương hướng, đường lối điều hành quản lý đất nước trong mọi lĩnh vực, đối nội và đối ngoại.
Từ thực chất mối quan hệ Việt-Trung trong bao nhiêu năm, nội dung của những bản hiệp ước, hiệp định về lãnh thổ lãnh hãi đã ký kết giữa hai bên cho đến những gì đang thực sự diễn ra trên biển Đông hiện nay và những kịch bản nào sẽ xảy ra cho đất nước trong tương lai…
Từ những sai lầm trong chính sách về kinh tế dẫn đến tình trạng suy yếu, bất ổn kéo dài của nền kinh tế vĩ mô, thực chất của vấn đề nợ công hay tình trạng làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước đang ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và làm thế nào để thay đổi….cho đến sự thật phía sau những vụ án lớn về kinh tế như vụ PMU18, vụ Vinashine, Vinalines…
Hay mới đây là vụ ông Nguyễn Đức Kiên, ông Lý Xuân Hải bị bắt. Tất nhiên, một vụ án khi đang trong quá trình điều tra có những điều không thể công bố nhưng người dân cũng thừa hiểu rằng, cho dù sau này khi vụ án đã được đưa ra xử lý, nhân dân cũng không bao giờ được biết thực sự các ông này bị tội gì, liên quan đến ai, tầm vóc của sự việc đến đâu v.v…và v.v…Báo chí được phép đăng cái gì, bao giờ đăng, đăng đến đâu…đều đã được chỉ đạo, theo dõi kỹ càng.
Hệ quả từ sự không công khai, minh bạch thông tin này đã quá rõ. Thứ nhất, kìm hãm chức năng thông tin, khám phá, bảo vệ sự thật của báo chí, báo chí quốc doanh bị biến thành công cụ, cái loa của nhà cầm quyền trong lúc báo chí bên ngoài ngày càng thu hút mạnh mẽ người đọc như đã nói ở trên. Thứ hai, tạo những khoảng trống thông tin trong xã hội cho những tin đồn, tin hành lang, những giả thuyết, phỏng đoán gây nhiễu…lan tràn, khiến người dân càng thêm mất lòng tin vào nhà nước, từ đó cứ việc mình mình làm, tự bảo vệ mình, suy xét mọi việc theo đám đông.
Như trong vụ bầu Kiên bị bắt vừa qua. Sự hoang mang, sợ hãi do không nắm được thông tin rõ ràng, không hiểu chuyện gì đang/sắp/sẽ xảy ra cộng với tâm lý bầy đàn, hiệu ứng đám đông nên các nhà đầu tư chứng khoán đua nhau báo tháo các cổ phiếu, thị trường chứng khoán bị một phen tụt dốc thê thảm, bên cạnh đó, người dân ùn ùn đi rút tiền tại các ngân hàng được cho là có liên hệ với bầu Kiên khiến nhà nước phải bơm hàng ngàn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản. Giá vàng cũng theo đó tăng vọt lên...
Nhà cầm quyền từ chỗ phải nhường bước, trở thành lép vế trên mặt trận truyền thông tiến tới không kiểm soát và khống chế được thông tin bên ngoài nữa.
Càng ngày, việc không công khai minh bạch hóa thông tin càng đưa đến tình trạng bất lợi cho chính nhà cầm quyền.
Về mặt kinh tế, VN từ lâu đã trở thành một mảnh đất mầu mỡ cho nạn tham nhũng tràn lan, sự lãng phí, tình trạng ăn cướp, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, tài sản của đất nước và nhân dân một cách trắng trợn bằng mọi thủ đoạn của những kẻ có chức có quyền cũng như sự tung hoành của mọi loại tội phạm kinh tế trong và ngoài nước…Về mặt xã hội, VN cũng là mảnh đất màu mỡ cho mọi loại tội phạm hình sự, do được điều hành bằng luật của đảng và luật rừng, tình trạng đạo đức xuống cấp, những bất công phi lý cứ ngang nhiên tồn tại khắp nơi…
Còn về mặt thông tin, ở VN đang tồn tại một nghịch lý rõ rệt: những loại thông tin vô bổ, thậm chí rác rưởi như việc đi sâu khai thác tỉ mỉ các vụ án hình sự cướp giết hiếp, thế giới showbiz và những trò lố lăng v.v…thì tràn ngập, trong khi đó, những thông tin cần thiết cho người dân trong mọi lĩnh vực đời sống quốc gia và đời sống cá nhân, được công khai từ phía nhà nước thì rất ít. Những thông tin đúng thì rất hiếm mà các loại tin đồn, tin chắp nối vỉa hè, các loại giả thuyết, phỏng đoán thì nhiều.
Gần đây các loại thông tin như vậy phần lớn được tung ra từ một trang mạng có tên là Quan Làm Báo, chưa biết rõ mục đích thật sự là gì, do ai/nhóm nào điều hành, nhưng rõ ràng kiểu đưa tin nửa úp nửa mở, pha trộn giữa tin đồn, và những thông tin có được bằng những con đường bí ẩn nào đó, với cách viết giật gân, thấp tầm, bất cần kiểm chứng, đã “lấp chỗ trống” phần nào cho người dân đang tò mò và thiếu thốn những loại thông tin chính thức từ phía sau hậu trường chính trị VN.
Nếu theo dõi các bài viết trên trang Quan Làm Báo, người ta có thể suy đoán, hoặc trang mạng này do tay chân của phe nhóm này lập ra để triệt hạ uy tín của phe kia, mà ở đây sự ủng hộ dành cho phe nào thì vẫn không dám khẳng định chắc chắn, nhưng phe bị chĩa mũi dùi thì rõ ràng là phe của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nếu quả đúng như vậy thì việc khui những bí mật động trời của nhau ra cũng chỉ nhằm mục đích chính là đánh nhau, chứ không phải vỉ thật sự muốn “mở mắt” cho người dân. Mặt khác, dựa vào sức mạnh của trang web không bị đánh sập bởi an ninh mạng VN, cộng với cách hành văn, lỗi chính tả….cho thấy có vẻ như không phải do một nhóm người Việt chủ trương. Và nếu vậy thì do ai, từ đâu?
Có người đã từng đặt ra vấn đề, rằng trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao…TQ là tay tổ chuyên nghề đánh phá VN từ xưa đến nay, bằng mọi thủ đoạn tinh vi nhất để kìm hãm không cho VN phát triển. Và thực tế đã cho thấy TQ làm điểu đó không có gì khó, với một nhà cầm quyền ngu muội, hèn nhát, có tầm nhìn ngắn, lại tham lam, cố bám giữ quyền lực đến cùng và luôn luôn đặt quyền lợi của phe nhóm, của chế độ lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc như nhà nước cộng sản VN. Do đó, trong lĩnh vực thông tin, nếu Bắc Kinh muốn phá, trình độ của họ, chẳng có gì mà họ không làm được. Như việc tạo ra một trang mạng kiểu như Quan Làm Báo, tung ra những thông tin hư hư thực thực, chẳng hạn.
Và trong cả hai trường hợp, về lâu về dài, thực sự chẳng có lợi gì cho VN và cho người dân VN.
Một ví dụ nhỏ, về góc độ kinh tế xã hội, những thông tin do trang này tung ra như hàng loạt tin đồn nhân vật này nhân vật kia trong giới kinh doanh, tài chính ngân hàng bị bắt hoặc bị quản thúc, khiến các nhân vật này phải lên tiếng cải chính hoặc xuất hiện công khai. Và người dân, những ai đọc được những thông tin loại này thì hoang mang thêm, rồi người này truyền tai người kia, rủ nhau đi rút tiền ở ngân hàng này ngân hàng khác, khiến hệ thống ngân hàng VN vốn đang bị khủng hoảng do nợ xấu đã đến mức báo động, cộng thêm tình trạng rối loạn do các nhóm lợi ích tìm mọi cách thao túng, lũng đoạn …nay càng thêm rối. Còn dưới góc độ thông tin, mặc dù nó có thể đáp ứng cho người dân phần nào những bí mật xấu xa mà nhà cầm quyền muốn che dấu, nhưng nó cũng làm nhiễu loạn thêm.
Cuối cùng thì nhà cầm quyền VN đã rơi vào thế “gậy ông đập lưng ông”. Vì muốn bưng bít thông tin, vì không chấp nhận sự công khai minh bạch như trong một xã hội tự do dân chủ nên họ mới bị rơi vào thế lúng túng, đối phó bị động tứ bề như hiện nay.
Để tang nước - Nguyễn Thị Từ Huy
Một lần nữa trở lại với hai chữ “đất nước”, và hai chữ này sẽ còn được nhiều người Việt Nam nói đến, nó sẽ còn là nỗi ám ảnh của người Việt đương đại, cho đến khi, hoặc họ sẽ để mất cái nội dung được chuyên chở bởi hai chữ đó, hoặc họ chấp nhận mỗi người mất đi một điều gì đó của chính họ để bảo tồn được nó (điều phải mất đi có thể là: tài sản, quyền lực, nỗi sợ hãi, sự hèn hạ, sự hèn nhát, sự mù quáng, lòng tham, sự thiếu trách nhiệm, sự vô cảm,…)
Trong từ ghép “đất nước” , yếu tố “nước” đứng sau “đất”, nhưng không phải nó kém quan trọng hơn “đất”. Bởi vì “đất” tách riêng ra thì không còn hàm nghĩa “đất nước”. Nhưng “nước” đứng riêng vẫn mang đầy đủ ý nghĩa là lãnh thổ quốc gia. Và trong các văn bản hành chính thì chỉ có từ “nước” được sử dụng: nước Việt Nam, nước Pháp, nước Mỹ,…
Vì thế, nước đối với người Việt hẳn phải có một giá trị hết sức đặc biệt mà việc diễn giải nó đòi hỏi công phu của các nhà văn hóa học, các nhà dân tộc học…
Quan sát phản ứng của đa số dân chúng Việt Nam hiện nay, ta có cảm giác rằng dường như nước không còn giữ được cái giá trị tinh thần đặc biệt mà nó từng có đối với người Việt trong lịch sử. Trong khi 23 ngàn con tàu của Trung Quốc giày xéo gương mặt bà mẹ Biển Đông (người Việt vẫn ví lòng mẹ bao la như biển, nhưng biển còn là ẩn dụ kép về cả người mẹ và người cha, vì biển là nơi cư trú của Lạc Long Quân và 50 người con) thì hầu như đa số người Việt biểu lộ ra ngoài một sự bình thản khó hiểu. Một số vô cùng ít ỏi trên toàn bộ tổng số gần 90 triệu người ôn hòa bày tỏ giông tố trong lòng họ lại gặp phải sự đàn áp và sự bôi nhọ không thể giải thích nổi từ phía chính quyền, và sự thờ ơ không thể nào hiểu nổi từ phía đồng bào của họ.
Hôm nay, tôi có một trải nghiệm trực tiếp với nước, và lại là nước biển, ở Hội An, một khu vực cách Hoàng Sa không xa. Tôi nằm thả lỏng, bồng bềnh trên mặt biển, không cử động, xung quanh là nước, mắt hướng lên cao nhìn thẳng vào bầu trời, xanh thẳm, sâu hút. Cứ như vậy rất lâu. Và một dự cảm đau đớn lan khắp cơ thể: rồi một ngày bầu trời này, mặt biển này không còn là của tôi nữa, không còn là của chúng tôi nữa. Nước đập vào hai bên tai, nhẹ nhàng như an ủi. Dẫu thế dường như không thể an ủi, mà còn tăng bội phần dự cảm mất mát, bởi đó là nước. Có cái gì nghịch lý trong việc làn nước này đang muốn an ủi tôi. Nước biển. Nước. Tang tóc ngấm vào từng tế bào da mang theo vị mặn của muối. Tang tóc được dự báo bởi những hoạt cảnh bắt bớ nồi da xáo thịt, những người lương thiện, những người yêu nước bị kết tội hàng ngày. Tang tóc được dự báo bởi những hỗn loạn khắp mọi lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, văn hóa, chính trị,... Trên khoảng trời mà mắt tôi bao quát được tôi nhìn thấy những cảnh đang náo hoạt cuộc sống của chúng tôi hiện nay. Thanh trừng nội bộ hay kịch bản của ngoại bang? Không thể nào biết được một cách chính xác. L’ignorance. Chúng tôi bị đẩy vào tình cảnh như thế: không biết những gì đang diễn ra trước mắt mình, cả khi mắt mở to hết cỡ, ngay cả khi nhìn thấy sự việc. Nhìn thấy mà vẫn không biết. Đó là một thứ tang tóc khác, là một mất mát khác, là một cái chết khác.
Tôi trở về với thực tại, ngạc nhiên thấy mình vẫn đang ở trên mặt nước và ở dưới bầu trời.
Mặt trời quàng qua trán tôi một giải khăn tang ánh sáng. Một nửa vành khăn phủ trán tôi, một nửa tan chảy trong nước biển.
Tôi mong đó chỉ là một giải khăn tang tưởng tượng của một kẻ ủy mị do dính dáng quá nhiều tới văn chương.
N.T.T.H
Hội An, 24/8/2012
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Bùi Tín: Lỗ hổng đã 67 năm
Bùi Tín
VOA – 28.08.2012
Cuộc Cách mạng tháng Tám mùa Thu 1945 đã được tròn 67 năm. Trên dưới một đời người. Bao nhiêu thơ ca ca ngợi cuộc chính biến, cách mạng, đổi đời, cướp chính quyền, tang bồng dâu biển sôi nổi ấy. Bao nhiêu bài xã luận, bình luận, chính luận về sự kiện hiếm có ấy trong cuộc sống của dân tộc.
Tưởng như mọi sự cần nói đã được nói đến hết cả rồi.
Ấy vậy mà năm nay, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 67 cuộc cướp chính quyền tháng 8-1945, tôi vẫn thấy rất cần nêu lên một ý kiến cực kỳ hệ trọng với bà con ta trong cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là với các bạn trẻ hiện chiếm số đông trong gần 90 triệu người Việt.
Xin được trân trọng hỏi các bạn là trong 67 năm nay, cho đến ngày hôm nay, đất nước ta, nhân dân ta trong đời sống thực tế đang thiếu cái gì nhất?
Nghĩa là cái thiếu nhất trong cuộc sống hằng ngày, không kể đến những mỹ từ, những lạm từ, những hoang từ nhằm tuyên truyền, tưởng tượng ra những điều không hề có thật trên giải đất hẹp hình chữ S này.
Trước tháng Tám 1945, dân ta chưa có nền độc lập, mang thân phận dân thuộc địa của nước Pháp, sau đó dân ta đã có nền độc lập cao quý. Đến nay tuy nền độc lập vẫn còn bị đe dọa, nhưng nền độc lập vẫn vững bền trong ý chí kiên cường của toàn dân.
Trước kia dân ta cực kỳ nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu học; trận đói năm Ất Dậu 1945 dưới thời bị quân phát xít Nhật chiếm đóng đã gây nên cái chết thê thảm của 2 triệu người. Nay ta đã là nước xuất khẩu gạo hàng đầu ở châu Á.
Về thiếu học, dân ta đã xóa nạn mù chữ, xây dựng hệ thống học đường từ mẫu giáo, tiểu học, trung học đến đại học và sau đại học, tuy chất lượng giảng dạy còn xa mới đạt mức trung bình khá, chưa nói gì đến tiên tiến, nhưng dù sao thiếu học, dốt nát không còn là vấn đề trầm kha của cuộc sống dân tộc.
Một số nhà nghiên cứu chính trị và lý luận trong nước lập luận rằng 67 năm nay, dân ta đã có tự do, rằng trong bản Tuyên ngôn Độc lập đã dẫn ra những câu bất hủ về tự do của Cách mạng năm 1776 ở Hoa Kỳ và Cách mạng 1791 của nước Pháp, rằng câu châm ngôn «Không có gì quý hơn độc lập tự do» đã trở thành phương châm chính trị quý giá nhất được thực hiện rõ ràng trong 67 năm qua, và hiện nay có hàng triệu người, hàng chục triệu người Việt Nam vẫn tin là đó là những sự thật hiển nhiên khỏi phải bàn cãi.
Chỉ cần mỗi người Việt Nam ta có công tâm, có tư duy lành mạnh, chịu khó suy nghĩ bằng tư duy độc lập của cá nhân mình, không bị chi phối bởi tư duy giáo điều, theo đuôi người khác, quan sát chặt chẽ cuộc sống thực tế xung quanh, là có thể nhận ra sự thật đúng như nó có.
Sự thật cứng đầu, bướng bỉnh, hiển nhiên là cho đến nay tự do của người công dân ở Việt Nam vẫn còn là quả cấm, vẫn còn là mục tiêu đấu tranh ở phía trước, sự thật là 67 năm nay tự do công dân chỉ mới tồn tại thực sự trên tuyên ngôn, trên diễn văn, trên văn kiện, trên cửa miệng và trên giấy tờ, không hề tồn tại với đầy đủ ý nghĩa cao quý tự nhiên của nó trong cuộc sống.
Ngay ông Hồ Chí Minh người được coi là khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người nêu cao các khẩu hiệu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, người nêu cao phương châm «không có gì quý hơn Độc lập Tự do», người còn nói «nếu đất nước đã được độc lập mà nhân dân không có tự do thì nền độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì», thì trên thực tế, mỉa mai thay, ông lại tỏ ra hết sức thờ ơ, hầu như vô cảm đối với mọi quyền tự do của công dân.
Có vô vàn dẫn chứng hùng hồn chứng minh cho điều đó.
Trong 24 năm làm chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, làm lãnh tụ tối cao đảng và nhà nước, ông vẫn chủ trương kiểm duyệt gắt gao xuất bản và báo chí, bóp ngẹt báo chí tư nhân. Khi phong trào Nhân văn Giai phẩm nổ ra, những Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần…chỉ yêu cầu được tự do sáng tác, đề nghị các nhà lãnh đạo tư tưởng, văn hóa, các chính ủy trong quân đội chớ can thiệp quá sâu vào sáng tác văn học nghệ thuật, rồi bị những Trường Chinh, Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng «đánh» cho tơi bời khói lửa, vậy mà ông không chút động lòng bênh vực những công dân ngay thật, còn vào hùa trừng phạt những người đòi tự do cho mình và cho toàn xã hội.
Anh Nguyễn Hữu Đang gửi bao nhiêu thư cho ông cầu cứu, ông không một lần trả lời, ngoảnh mặt quay đi với người từng là trưởng ban tổ chức lễ Độc lập, người lãnh đạo Hội Văn hóa Cứu quốc của Việt Minh, người từng đôn đốc dựng đài cao cho ông Hồ lên đọc bản Tuyên ngôn lịch sử.
Tệ hơn nữa là khi người Sỹ quan thân cận của chủ tịch nước – Officier d’ ordonnance du Président – Vũ Đình Huỳnh, cũng là thư ký riêng thân tín của ông hàng chục năm, năm 1964 bị chụp mũ là «xét lại, tay sai Moscow», cũng gửi thư và vợ ông là bà Tề đến cầu cứu ông, ông Hồ vẫn thản nhiên, không một lời an ủi hay bênh vực.
Còn bao nhiêu sự kiện khác. Ông Hồ biết cả. Nhưng ông bất động. Mà ông còn có thể sợ ai nữa. Lúc ấy ông Lê Duẩn, ông Lê Đức Thọ chưa dám hỗn láo hạn chế quyền lực của ông với cái lý do «hãy để ông Cụ nghỉ, đừng làm phiền lòng ổng». Ông chỉ cần phê một chữ, lắc đầu một cái, là có thể cứu người công dân ưu tú khỏi oan trái. Nhưng không. Ông bất động, vì vô cảm. Vì ông vô cảm với bất công, với oan trái, với tự do công dân bị xâm phạm.
Anh Hà Minh Tuân, nhà văn quân đội có tài, chỉ sơ hở một vài câu trong cuốn tiểu thuyết «Vào đời» bị đại tướng Nguyễn Chí Thanh phang một đòn «văn tư sản đồi trụy», từ đó sạt nghiệp văn chương, cũng như nhà thơ tài hoa Quang Dũng, cũng bị ông tướng võ biền Nguyễn Chí Thanh phang một đòn chí tử về tứ thơ từ Tây Bắc «nhớ về Hà Nội bóng Kiều thơm» là «sa đọa tư sản», tất cả bị đưa lên phê phán trên báo, ông Hồ biết rõ cả, nhưng ông không tỏ thái độ, có nghĩa là ông bênh các quan đàn áp lương dân, ông không mảy may rung động khi «nước có độc lập mà dân không được tự do».
Rồi vụ bà Nguyễn Thị Năm ở Đồng Bẩm – Thái Nguyên bị tử hình theo ý kiến cố vấn Tàu, ông Hồ được ông Hoàng Quốc Việt chạy đến cầu cứu vì bà Năm từng nuôi cán bộ cộng sản, có 2 con đi bộ đội, ông Hồ chỉ «thế a!» rồi im thin thít. Đó quan niệm của người khai sinh ra nước Việt Nam độc lập và tự do là nghèo nàn ấm ớ như thế đó.
Nhiều nhà dân chủ bây giờ đã thấy rõ nếu so sánh lập trường dân chủ tự do của ông Hồ với nhà chí sỹ Phan Chu Trinh thì thấy rất rõ là ông Tây Hồ đã vượt ông Hồ cả một cái đầu. Tôi đã để thì giờ đọc Hồ Chí Minh toàn tập và những trước tác của Phan Chu Trinh để so sánh. Ông Hồ viết sách, viết báo, diễn thuyết khá nhiều, nhưng ông chỉ tập trung lên án mạnh và khá sâu bọn thực dân Tây Phương, bọn thực dân Pháp cầm quyền bóc lột áp bức dân thuộc địa, nhưng ông hầu như bỏ qua mọi hình thức bóc lột đàn áp, bất công tinh vi của người Việt đối với người Việt mình. Các bạn trẻ xin hãy đọc hàng ngàn câu thơ trong tập Tỉnh Quốc Hồn Ca của Phan Tây Hồ, sẽ thấy rõ các chủ trương của ông : nâng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh là cần thiết, cấp bách, quý báu và hiện đại biết bao.
Phan Tây Hồ tuyên chiến mạnh mẽ, sâu sắc với mọi nét văn hóa lạc hậu, cổ hủ của xã hội Việt Nam, tệ nạn trọng nam khinh nữ, thói tham quan ô lại, tệ cường hào quan liêu, thói học vẹt theo thi cử, giảng giải kỹ quyền công dân, tinh thần thượng tôn luật pháp, quyền liên kết lập hội, cổ vũ lối nghiên cứu khoa học theo tư duy độc lập tự chủ kiểu thực nghiệm và thực chứng…Có thể nói tuy Phan Chu Trinh là Phó bảng Hán học nhưng trên thực tế là nhà văn hóa hiện đại nhất, hấp thu tinh túy của văn hóa Tây phương nhuần nhuyễn nhất, có hệ thống và rất thực tiễn. Có cơ sở để kết luận rằng ông Phan Chu Trinh là chiến sỹ Dân Chủ và Nhân Quyền đầu tiên và sâu sắc nhất trong lịch sử nước ta, và tư duy duy tân của ông hiện vẫn là chuyện thời sự cần thiết nóng hổi nhất.
Ông Phan và ông Hồ đều sống ở Pháp khá lâu nhưng ai tiếp thu thật sự nền văn hóa – chính trị mới mẻ tiến bộ của Pháp, có thể khẳng định là ông Phan vượt trội một cách nổi bật, như người dẫn đầu cuộc đua và kẻ mang đèn đỏ. Vì khi cầm quyền ông Hồ và những kẻ kế thừa ông đã quay lưng lại với tự do của người công dân và chà đạp nhân quyền không thương tiếc.
Đó là vì ông sống ở Pháp rồi còn sang Moscow một thời gian dài, ăn lương hàng tháng của Quốc tế CS, khi tư duy chính trị đang chín và đang định hình, bị trực tiếp Stalin và đồng chí của ông ta nhào nặn vào khuôn phép, được đào tạo ở Học viện Đông phương cộng sản, hết họp Đại hội V của Quốc tế CS (tháng 6/1924), lại họp Đại hội Quốc tế Công hội Đỏ, rồi Quốc tế CS Nông dân, rồi cả Quốc tế Phụ nữ và Quốc tế Thanh niên cũng như Quốc tế Cứu tế Đỏ. Rồi một thời gian dài ở Trung Quốc dưới trướng của Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, sau đó với hàng trăm cố vấn của «bác Mao» quanh mình, ông chỉ có một ý nghĩ chính trị mãnh liệt là nhuộm đỏ cả Bắc cả Nam nước ta, nhuộm đỏ cả Lào và Miên, cho đến nhuộm đỏ cả Đông Nam Á và thế giới, sứ mệnh được các lãnh tụ quốc tế của ông là ông Xít và ông Mao giao cho ông.
Cho nên tháng Tám năm nay, nhắc đến bản Tuyên ngôn Độc lập, điều mỉa mai cay đắng khổng lồ là những chữ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trên đó sau 67 năm vẫn còn là những chữ rỗng ruột, những mỹ từ trên giấy, những lời hứa hão huyền, những quả lừa khổng lồ dai dẳng, những món nợ trầm luân của ông Hồ, của đảng Cộng sản đối với dân ta.
24 năm ông Hồ trực tiếp cầm quyền, công dân Việt Nam chỉ được làm những điều gì đảng cho phép, mọi người ngoài đảng chỉ là công dân dự bị, loại hai, bị phân biệt đối xử theo lý lịch, không một công dân nào có hộ chiếu để xuất ngoại, người nông dân tự do, người buôn bán tự do…là chuyện viển vông không tồn tại.
Đến nay, trong đổi mới, gia tài ông Hồ để lại tuy có điều chỉnh chút ít, nhưng đường lối cơ bản theo chủ nghĩa Mác-Lenin vẫn là một xã hội tật bệnh hiểm nghèo, trong đó lỗ hổng cực kỳ bi đát là thiếu dân chủ tự do, thiếu nhân quyền vẫn cứ toang hoác thêm. Vẫn là một không gian xã hội không có dưỡng khí, ngột ngạt đến ngẹt thở. Đây là bất hạnh dai dẳng lớn nhất của dân ta khi so sánh với nhân dân Thái Lan, Philippine, Indonesia, Malaysia gần ta, chưa nói đến dân Ấn Độ, Nhật Bản…
Trên đây là món nợ lớn nhất mà toàn dân ta đang trên đà thức tỉnh để đòi lại cho nhân dân ta và muôn đời con cháu, món nợ lưu cữu 67 năm, lãnh đạo đảng CS không thể trì hoãn và cố tình bỏ quên mãi được.
*****
Nguồn: http://www.voatiengviet.com/
"Nước càng đục, cò càng béo"!
Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết tính đến ngày 30/4/2012, nợ xấu của toàn hệ thống tổ chức tín dụng khoảng 108,6 nghìn tỷ đồng, tăng 28,18 nghìn tỷ đồng (35%) với tốc độ tăng trung bình 8,6%/tháng, cao hơn so với mức tăng bình quân cùng kỳ năm trước. Chính phủ có kế hoạch bán nợ xấu, mua lại các bất động sản “ế” để cứu doanh nghiệp-ngân hàng.
Ô! hô! Làng nước ơi! Nghe người quản lý tay hòm chìa khóa tài chính quốc gia nhân dân phát biểu cực kỳ “trí tuệ”. Cái nhiệm vụ chuyên nghiệp của ngài là “bác sĩ đa khoa tài chính” nhân dân giao phó, có trách nhiệm phải thường trực “bắt mạch, chẩn đoán, điều trị” các con bệnh ngân hàng, bảo đảm luôn luôn sức khỏe đầy đủ thì giờ chúng “nóng lạnh - ung thư” ngài lại đổ vạ cho dân “… Do dân trí, tập quán ở VN chưa cao như ở một số nước. Rất nhiều người dân hiện nay đi gửi tiền nhưng cũng không để ý đó là NH tốt hay xấu. Có khi chỉ vì NH này ở ngay đầu ngõ nhà mình nên mang tiền đến gửi cho thuận tiện...”. Cách nói như thế, ngay cả ngài còn chưa đoan chắc ngân hàng nào tốt xấu thì ngài bảo người dân phân biệt là phân biệt cái gì? Không có trách nhiệm quyền hạn mà nói nó “xấu” nó kiện ra tòa là vu cáo, phá hoại có mà bồi thường thiệt hại vô hình lẫn đi tù mọt gông! Té ra “… Do dân trí, tập quán ở VN chưa cao như ở một số nước...” nên ngài mới mạnh miệng dạy khôn cho đồng bào, những người trả lương hàng tháng thuê ngài ngồi đó “nghiên kíu” Cấu trúc giải cứu các ngân hàng sắp phá sản.
Đầu năm 2012, NHNN lại tiếp tục rót cho Southern Bank 5.000 tỷ để trả nợ chính NHNN (khoản vay trong năm 2011) nhưng lại từ ngân hàng BIVD coi như việc giao dịch này là kinh doanh thông thường của hai ngân hàng Southerm Bank và BIVD tất nhiên trong sổ sách của Southern Bank không còn hiển thị số nợ NHNN mà chỉ nợ BIVD. Điều đó có nghĩa NHNN có thể rút toàn bộ giám sát ra và ung dung đẩy Southern Bank nhảy vọt từ nhóm 4 (nhóm đèn đỏ) lên nhóm 2 đủ chuẩn để được cấp tăng trưởng tín dụng thêm 15% được vay liên ngân hàng. Việc “giải cứu” Southern Bank một cách hoàn hảo như vậy là nhằm biến một con ốc sên thành loài bạch tuột vươn ra những chiếc xúc tu mạnh mẽ nuốt gọn Samcobank, một ngân hàng có tài sản 160.000 tỉ đồng, 10.000 nhân viên, 400 chi nhánh trong nước, Campuchia và Lào, 1 triệu khách hàng và có tới 80% bất động sản cơ sở là thuộc sở hữu riêng. Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012
Vài tấm hình lưu niệm về tài phịa của tintuchangngay.org và ttxva.org
http://tranhung09.blogspot.com/2012/06/thong-tan-xa-vang-anh-xao-su-san-xuat.html
TTXVA: Sau khi tôi lên thăm chùa phát hiện ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đây là vị la hán thứ 19
Con chó chờ miếng ăn thừa!
Chờ nhìn quê hương sáng chói
Người lính nào cũng khổ (*)
Từ ý kiến rất xúc động và thực tế của độc giả Bùi Văn Nịt:
đã tạo cảm hứng cho tôi tiếp tục chuyển ngữ một phần tác phẩm "Anger" của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Phần dịch dưới đây, ngoài việc chuyển đến độc giả Bùi Văn Nịt như lời sẻ chia của cá nhân tôi, còn là lời cảm thông với những người lính Việt Nam, đặc biệt những Người Lính đã mất một phần thân thể, bất kể từ chiến tuyến nào.
Bài dịch cũng là lời đòi hỏi giới cầm quyền Việt Nam đã đến lúc phải thực hiện hòa giải hòa hợp dân tộc, bởi chưa bao giờ lòng người ly tán nghiêm trọng như bây giờ, trong đó rất nhiều người hả hê trước hiện tượng thất thế và có thể có những hậu quả cho ông Nguyễn Tấn Dũng trước "biến cố" từ vụ án bầu Kiên. Tôi không dám trách tâm trạng đó, bởi đó là tâm trạng có thể cảm thông trước sai phạm, tội ác ngày một nhiều và rõ hơn, của người CS nói chung và phe cánh Nguyễn Tấn Dũng nói riêng. Tuy thế, chính sự việc bầu Kiên, có phải đẩy Việt Nam đứng trước tình trạng chia rẽ mãnh liệt, trong khi đó người dân Việt Nam lại trở thành nạn nhân đầu tiên và gánh hậu quả nặng nề nhất?
Thỏa ước hòa bình
Chúng ta hãy nói với người mà chúng ta yêu thương: "Em (anh) yêu, trong quá khứ, chúng ta đã gây ra cho nhau quá nhiều đau khổ, bởi lẽ không ai trong chúng ta có khả năng xử lý nỗi giận dữ. Giờ đây, chúng ta phải cùng nhau tạo ra một nghệ thuật để xử lý nỗi giận dữ của chúng ta.
Thiện Tâm có thể loại bỏ sức nóng của nỗi giận dữ và cơn sốt của sự đau khổ. Sự mẫn tiệp có thể mang vui sướng và hòa bình ngay lúc này và ngay ở đây. Kế hoạch dành cho hòa bình và hòa giải của chúng ta cần dựa vào điều này.
Bất cứ khi nào năng lượng giận dữ xuất hiện, chúng ta thường muốn giải tỏa nó bằng cách trừng phạt người mà chúng ta cho rằng họ là cội nguồn mang lại đau khổ cho ta. Điều này được gọi là năng lượng theo thói quen trong ta. Khi chúng ta đau khổ, chúng ta luôn trách cứ người gây ra khổ đau cho chúng ta. Trước hết, chúng ta không nhận rõ, nỗi giận dữ là điều bình thường trong mỗi chúng ta. Chúng ta cần chịu trách nhiệm trước tiên, nhưng chúng ta lại rất thiệt thà để tin chắc khi đôi co hay trừng phạt người đó, chúng ta sẽ bớt đau khổ. Nên nhổ bỏ niềm tin kiểu này, nếu chúng ta không muốn nó mọc rễ trong tâm hồn mình. Bởi bất cứ điều gì chúng ta làm hay nói trong trạng thái giận dữ chỉ gây tổn thương thêm cho mối quan hệ. Vì vậy, chúng ta không nên cố gắng nói hay làm bất cứ việc gì khi mình đang nổi giận.
Khi bạn nói điều gì đó không tốt hoặc hành động như là sự trả đũa, lúc đó cơn giận của bạn tăng lên. Bạn làm người khác đau khổ thì người đó sẽ cố hết sức đáp trả y như vậy để tâm trạng họ cũng nhẹ nhàng như bạn muốn. Thế là mâu thuẫn tiếp tục leo thang càng cao. Vấn đề này đã xảy ra rất nhiều lần trong quá khứ. Cả bạn và người kia vốn quen thuộc với nổi giận dữ leo thang, nỗi đau khổ leo thang và các bạn không rút ra được bất cứ điều gì từ cái cách đó. Cố trừng phạt người khác nhất định làm tình trạng càng trở nên tồi tệ hơn.
Trừng phạt người khác nghĩa là trừng phạt chính mình. Điều này đúng trong mọi trường hợp. Quân đội Mỹ trừng phạt Iraq, không chỉ làm Iraq đau khổ mà còn làm cho Mỹ cũng đau khổ. Ngược lại, Iraq cố trừng phạt Mỹ, Mỹ đau khổ và Iraq cũng khổ đau không kém. Điều tương tự như thế xảy ra mọi nơi; giữa người Israel và người Palestin, giữa người Hồi giáo và người Hindu, giữa bạn và người khác. Nó luôn luôn như thế. Vì vậy chúng ta nên thức tỉnh; chúng ta nên nhận thức rõ, trừng phạt người khác không phải là sách lược sáng suốt. Cả bạn và người kia đều là người thông minh. Các bạn có thể sử dụng sự sáng suốt của mình. Các bạn nên cùng nhau thỏa thuận một sách lược giải quyết nỗi giận. Cả hai bạn đều biết rằng cố trừng phạt lẫn nhau thì chẳng khôn ngoan. Do đó hãy hứa với nhau rằng mỗi khi bạn giận dữ bạn sẽ không nói, không hành xử để giải tỏa nó.
Khi các bạn vui vẻ hãy ký một hợp đồng, thỏa ước hòa bình của các bạn, một thỏa ước của tình yêu chân thật, đó là bạn biết nắm bắt lợi thế những khoảng thời gian đó. Chỉ nên dựa vào nền tảng tình yêu chân thực để viết và ký kết thỏa ước hòa bình, không giống như thỏa ước hòa bình mà các đảng phái chính trị ký với nhau. Họ dựa trên tư lợi quốc gia để ký thỏa ước. Họ vẫn tràn đầy hồ nghi và giận dữ. Thỏa ước của các bạn hoàn toàn dựa trên tình yêu thuần khiết.
Vỗ về nỗi giận dữ
Đức Phật không bao giờ khuyên chúng ta che giấu nỗi giận dữ. Ngài khuyên chúng ta quay về với chính mình để xoa dịu nó. Khi một cái gì đó trục trặc xảy ra trong thể xác chúng ta, như ruột, dạ dày, gan, chúng ta phải dừng mọi việc và quan tâm sâu sắc đến vấn để đó. Chúng ta xoa bóp, dùng chai nước nóng lăn lên bụng, chúng ta làm mọi cách có thể để chăm sóc những bộ phận cơ thể này.
Giống như các bộ phận cơ thể chúng ta, nỗi giận dữ là một phần của mình. Khi chúng ta giận, chúng ta nên quay về với chính mình và chăm sóc cẩn thận nó. Chúng ta không thể nói: "Cút đi nỗi giận dữ, mày phải cút ngay. Tao không muốn thấy mày." Khi bạn đau bao tử, bạn không nói, "Tôi không thích bạn - bao tử ạ, xéo đi." Không, bạn chắc chắn chăm sóc nó. Cũng như vậy, chúng ta phải vỗ về và chăm sóc nổi giận dữ của mình. Chúng ta nhận ra nó hiện hữu, vỗ về nó và mỉm cười với nó. Năng lượng mà giúp chúng ta làm những điều này được gọi là sự sáng suốt, sự sáng suốt của di thiền (walking meditation), sự sáng suốt của việc hít thở.
Hạnh phúc không phải là chuyện cá nhân
Điều này có nghĩa là bạn không nên giấu nỗi giận dữ của mình. Bạn phải để cho người khác biết rằng bạn đang giận và đang đau khổ. Điều này rất quan trọng. Khi bạn nổi giận với ai đó, xin đừng giả vờ là bạn không giận dữ gì cả. Đừng giả vờ bạn chẳng đau khổ gì cả. Nếu đó là người yêu mến đối với bạn, thì bạn phải thú thật rằng bạn đang giận dữ và đau khổ. Nói với người đó theo cách bình tĩnh.
Trong tình yêu chân thật, không có chỗ cho kiêu hãnh. Bạn không thể giả vờ rằng bạn chẳng đau khổ cũng như chẳng có gì có thể làm bạn giận dữ cả. Đó là cách tránh né dựa trên sự kiêu hãnh. "Giận dữ ư? Tôi à? Tại sao tôi lại phải giận dữ? Tôi bình thường thôi." Thực tế, bạn không bình thường. Bạn mang tâm trạng như đang ở địa ngục. Nỗi giận dữ đang thiêu đốt bạn và bạn phải nói với vợ, con trai, con gái. Xu hướng chúng ta hay nói: "Tôi không cần em (anh, con, bạn v.v...) mới có hạnh phúc. Tôi có thể tự xoay xở lấy." Đó là sự phản bội với lời thề ước bạn đầu - hứa chia sẻ mọi điều.
Hồi ban đầu, các bạn đã nói với nhau: "Tôi không thể sống thiếu em (anh). Hạnh phúc của em (anh) phụ thuộc vào anh (em)." Bạn đã nói rõ ràng như thế. Tuy nhiên, khi bạn giận, bạn nói ngược lại "Tôi không cần anh (em)! Đừng đến gần tôi! Đừng động chạm vào tôi!" Bạn thích đi vào phòng riêng và khóa cửa lại. Bạn cố hết sức để chứng minh rằng, bạn chẳng cần người khác. Đây là điều rất con người, là xu hướng thông thường. Tuy thế đó không là cách sáng suốt. Hạnh phúc không phải là chuyện cá nhân. Nếu một trong hai bạn không hạnh phúc, người còn lại cũng không hạnh phúc.
Lời bình: Nguyễn Đức Kiên có hạnh phúc không? Nguyễn Tấn Dũng có hạnh phúc không? Phía đối nghịch với Nguyễn Tấn Dũng có hạnh phúc không? Người Việt Nam có hạnh phúc không?
Nguyễn Ngọc Già _________________
(*) Tựa đề cho người chuyển ngữ đặt.
Công an mật vụ theo dõi lễ cầu nguyện cho công lý và hoà bình đông cách bất thường
Mỹ đang thiết lập một NATO phiên bản châu Á
SGTT.VN - Mỹ lên kế hoạch mở rộng hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á. Khi hệ thống này hoàn tất, Mỹ sẽ thiết lập được một vòng cung án ngữ toàn bộ phía Đông và Đông Nam Trung Quốc và có thể giám sát chính xác bất kỳ một tên lửa đạn đạo nào được bắn từ Trung Quốc ra Thái Bình Dương.
| Hệ thống radar X-Band1 của Mỹ được lắp đặt tại khu vực Okinawa của Nhật Bản. Ảnh: TL |
Mỹ mới đây tuyên bố đang lên kế hoạch mở rộng quy mô lớn hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á. Theo đó, Mỹ sẽ bố trí một radar mới ở Nhật Bản và có thể một ở Đông Nam Á liên kết với các tàu phòng thủ tên lửa và hệ thống đánh chặn trên đất liền. Hiện Mỹ dự tính điều động radar phòng thủ tên lửa X-Band đến một hòn đảo chưa rõ tên ở miền Nam nước Nhật. Giới chức quốc phòng Mỹ cho biết radar này có thể được lắp đặt chỉ trong vòng vài tháng sau khi Nhật Bản chính thức đồng ý. Trước đó năm 2006, Mỹ đã lắp hệ thống X-Band tương tự ở tỉnh Aomori, miền Bắc Nhật Bản. Cũng theo báo này, Mỹ đang tìm kiếm một địa điểm ở Đông Nam Á cho radar X-Band thứ ba để tạo vòng cung theo dõi tên lửa đạn đạo phóng đi từ Bắc Triều Tiên cũng như từ Trung Quốc.
Đây là một phần trong hệ thống phòng thủ, bao phủ một vùng rộng lớn ở châu Á, với việc đặt thêm trạm radar ở phía Nam Nhật Bản và có thể ở Đông Nam Á, giúp phát hiện và bắn chặn kịp thời tên lửa của đối phương được phóng đi từ đất liền hoặc từ tàu chiến. Kế hoạch này nằm trong chiến lược phòng thủ mới do chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama đề ra theo đó tập trung chú ý tới châu Á - Thái Bình Dương, khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế Mỹ. Một khi công tác bố trí hoàn tất, Mỹ sẽ thiết lập được một vòng cung án ngữ toàn bộ phía Đông và Đông Nam Trung Quốc và có thể giám sát chính xác bất kỳ một quả tên lửa đạn đạo nào được bắn từ Trung Quốc ra Thái Bình Dương. Như vậy, Trung Quốc cũng sẽ không còn điểm đột phá nào để có thể đưa ra sự đe dọa đối với Mỹ.
Hồi tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho biết nước này đang có kế hoạch điều chuyển phần lớn các chiến hạm của mình tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2020. Theo ông Panetta, tới năm 2020, khoảng 60% số tàu chiến của Mỹ sẽ được triển khai ở đây.
Nhằm vào ai?
Việc mở rộng hệ thống phòng thủ diễn ra trong bối cảnh Mỹ cùng các đồng minh trong khu vực lo ngại về nguy cơ Bắc Triều Tiên phóng tên lửa tầm xa mang đầu đạn hạt nhân cũng như thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc trong các tranh chấp về chủ quyền biển đảo, như tại Biển Đông.
Mặc dù chính phủ Mỹ nói rằng việc bố trí tại châu Á hệ thống phòng thủ tên lửa là nhằm đối phó với nguy cơ tên lửa của Bắc Triều Tiên, song rõ ràng cách nói này chỉ là sự bao biện nhằm che đậy mục đích chính. Nếu so sánh quân lực giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên, Mỹ sử dụng hệ thống phòng thủ tên lửa để đối phó Bình Nhưỡng chẳng khác gì “lấy đại bác để đánh ruồi muỗi”, cơ bản là không cần thiết. Cũng giống như việc Mỹ bố trí tại châu Âu hệ thống phòng thủ tên lửa, bề ngoài Mỹ nói là nhằm đối phó với nguy cơ tên lửa của Iran, song trên thực tế là để đối phó với Nga, hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ tại châu Á cũng là nhằm vào một đối tượng chính, đó là Trung Quốc.
Shielders, chuyên gia nghiên cứu về phòng thủ tên lửa của Quốc hội Mỹ cũng công khai nói rằng, trọng điểm trong ngôn từ Mỹ đưa ra là nhằm vào Bắc Triều Tiên, song thực tế là xuất phát từ “con voi lớn” mà Mỹ cần phải đề phòng về lâu dài, “con voi lớn” này rõ ràng là chỉ Trung Quốc.
Hệ thống phòng thủ tên lửa không giống như các loại vũ khí thông thường, một khi được bố trí hoàn tất tại các nước khác nhau, nó sẽ liên kết các nước này lại, hình thành một khối đồng minh quân sự hữu cơ. Trước đây, Mỹ bao vây Trung Quốc chủ yếu là thông qua việc kết đồng minh với từng nước xung quanh Trung Quốc, song giữa các đồng minh này không hề có sự liên hệ về quân sự, Trung Quốc do đó có rất nhiều điểm đột phá có thể lợi dụng. Nay Mỹ bố trí tại châu Á hệ thống phòng thủ tên lửa, mục đích chính là nhằm liên kết Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước Đông Nam Á lại với nhau, từ đó hình thành một mạng lưới quân sự gắn kết, khiến cho Trung Quốc không còn lối nào để đi.
Các biện pháp khác
Ngoài việc bố trí tại châu Á hệ thống phòng thủ tên lửa, Mỹ còn áp dụng một số biện pháp khác với các nước đồng minh của mình nhằm thúc đẩy nhất thể hóa quân sự. Mới đây, Nhật Bản đã cùng Mỹ đạt được thỏa thuận, theo đó từ năm tới Nhật Bản sẽ cử quan chức của lực lượng phòng vệ nước này tới thường trú tại Bộ Quốc phòng Mỹ, đây sẽ là quan chức quân sự đầu tiên của Nhật Bản được cử đi thường trú tại cơ quan quốc phòng của Mỹ. Điều này có ý nghĩa rằng quân sự Mỹ-Nhật đã được nhất thể hóa, vào những khi cần thiết, Mỹ có thể điều động quân đội của Nhật Bản, đồng thời làm cho nội hàm đồng minh quân sự Mỹ-Nhật được nâng lên tầm cao mới.
Ngoài ra, theo phía quân đội Mỹ tiết lộ, một vị Thiếu tướng của Australia sẽ trở thành Phó Tư lênh Lục quân Thái Bình Dương của Mỹ. Việc một người Australia đảm nhận một chức vụ cao như vậy trong quân đội Mỹ, nhìn bề ngoài dường như có cái gì đó không bình thường, song nếu suy xét vấn đề một cách sâu xa, có thể thấy rằng đây là việc làm tiêu chí cho sự nâng cấp của đồng minh quân sự Mỹ-Australia.
Theo báo chí Trung Quốc ý đồ bao vây Trung Quốc của Mỹ đã bộc lộ rõ, mục tiêu của nó là muốn thành lập một NATO phiên bản châu Á. Thông qua hàng loạt biện pháp như bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á, cái gọi là khối NATO phiên bản châu Á này đã hình thành trên thực tế, chẳng qua chỉ là “hữu thực vô danh”. Một khi thai nghén chín muồi, quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn, Mỹ-Nhật, Mỹ-Australia cùng các nước Đông Nam Á sẽ được hợp lại với nhau dưới sự lãnh đạo của Mỹ, hình thành một tổ chức quân sự mới chuyên nhằm đối phó Trung Quốc. Đến lúc đó, việc tổ chức này được gọi là gì không còn là điều quan trọng.
Chính sách châu Á của Mỹ có nhiều thay đổi
Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales cho rằng chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã có nhiều thay đổi kể từ khi Tổng thống Barack Obama lên nắm quyền năm 2009, bằng chứng là Mỹ đã thắt chặt quan hệ với nhiều nước Đông Nam Á, đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao, tăng cường hiện diện cả về quân sự lẫn kinh tế tại khu vực này...
Theo Giáo sư Carl Thayer, Tổng thống Obama đã dùng cách tiếp cận đa phương để lật lại thế cờ với Trung Quốc ở khu vực này. Trong khi chính sách của cựu Tổng thống George W. Bush đối với châu Á-Thái Bình Dương là coi trọng các mối quan hệ song phương, giảm tầm quan trọng của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các định chế đa phương, thì từ khi bắt đầu nhiệm kỳ, Tổng thống Obama đã xem xét mọi điểm yếu của chính sách đó để lật ngược chúng.
Gần đây, để đối phó với thái độ hung hăng hơn của Trung Quốc, Tổng thống Obama đã áp dụng cách tiếp cận đa phương. Đó là lý do khiến Mỹ đến dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, bổ nhiệm đại sứ tại ASEAN, đích thân Tổng thống Obama, Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến dự các hội nghị thượng đỉnh của ASEAN. Những động thái đó cho thấy Mỹ quyết tâm chứng tỏ các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến lược của Mỹ nằm tại khu vực này, và Washington quyết tâm hậu thuẫn các chính sách của mình bằng hành động. Đây chính là chính sách chuyển trọng tâm sang châu Á của chính quyền Tổng thống Obama.
Tuy nhiên, có một câu hỏi được đặt ra là liệu chính sách này có thay đổi nếu cử tri Mỹ dồn phiếu cho liên danh Romney-Ryan của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới hay không? Theo nhận định của Giáo sư Thayer, nếu ứng cử viên Mitt Romney của đảng Cộng hòa đắc cử tổng thống, chính sách của Mỹ đối với châu Á sẽ thay đổi theo chiều hướng tiêu cực vì ông Romney có vẻ không chú trọng tới châu Á như ông Obama. Giáo sư Thayer cho rằng khi đó, Mỹ sẽ vắng mặt nhiều hơn trong các sự kiện ở châu Á-Thái Bình Dương, và đây sẽ là một bước thụt lùi trong những thành quả mà Mỹ đã đạt được dưới thời Tổng thống Obama.
Giáo sư Thayer cho biết từ khi đắc cử Tổng thống Mỹ năm 2009, và ngay cả trước khi làm lễ tuyên thệ nhậm chức, ông Obama đã liên lạc với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Hai nhà lãnh đạo đã nhanh chóng gặp gỡ và đạt được một số thỏa thuận. Giáo sư Thayer hy vọng nếu ông Romney trúng cử tổng thống vào tháng 11 tới, cố vấn của ông sẽ khuyên ông chọn cách hành xử tích cực trước để xem xét tình hình, thay vì chọn thái độ thù nghịch với Trung Quốc ngay từ đầu.
theo toquoc.vn











