Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Xung đột Trung - Mỹ và "lăng ba vi bộ" kiểu Việt Nam - Hữu Nguyên

Hôm nay đọc ViệtNamNet thấy nói Trung Quốc đang đẩy nhanh việc phát triển một thế hệ tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mới, với nhiều khả năng vượt trội hơn cùng các tên lửa phóng đi từ tàu ngầm. Giới phân tích quân sự cho biết, động thái trên đã giúp Trung Quốc làm tăng khả năng hiện có của họ để sử dụng các đầu đạn hạt nhân trong cuộc đối đầu với Mỹ và để áp đảo các hệ thống phòng thủ tên lửa.
Tờ Thời báo Hoàn cầu tuần trước đưa tin, Trung Quốc đang phát triển khả năng trang bị nhiều đầu đạn trên các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM). Theo Larry M. Wortzel thuộc Ủy ban Đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ - Trung, một tổ chức do Quốc hội Mỹ thành lập, Trung Quốc đang phát triển khả năng đặt 10 đầu đạn hạt nhân lên một ICBM, mặc dù một số đầu đạn giả có thể được thay thế đầu đạn thật. Các đầu đạn giả được thiết kế để đánh lừa hệ thống phòng thủ tên lửa. “Ý nghĩa lớn hơn của việc này là khi họ bắt đầu một lực lượng tên lửa với nhiều đầu đạn có nghĩa là mọi thứ chúng ta đánh giá về quy mô kho vũ khí hạt nhân của họ đã thành sai lầm”, ông Wortzel, một cựu sĩ quan tình báo quân đội Mỹ nói.
Quy mô chương trình tên lửa chiến lược của Trung Quốc vẫn được giữ bí mật. Lầu Năm Góc ước tính, Trung Quốc gần đây có từ 55- 65 ICBM. Nước này còn đang chuẩn bị hai tàu ngầm để triển khai các tên lửa, mỗi tàu có khoảng 12 tên lửa, ông Wortzel cho biết.
Trung Quốc ngày nay trên đà phát triển quá nóng của mình đôi khi không kiềm lại được bản chất “Đại Hán bá quyền”. Tư tưởng này vốn ăn sâu trong từng mạch máu, thớ thịt, nơ-tron thần kinh… của những nhà lãnh đạo ở Trung Nam Hải, cũng là truyền thống của rất nhiều nhà lãnh đạo, các triều đại từ xa xưa của quốc gia này. Do vậy, họ đã từng không ngần ngại đề nghị với Hoa Kỳ “chia đôi Thái Bình Dương”, để phải nhận câu trả lời lịch sự: "No, thanks!".
Còn nhớ, khi thăm viếng Nhật Bản cuối tháng 8/2010, Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương lúc đó (ngày 9/3/2012, Mỹ chính thức bổ nhiệm đô đốc Samuel Locklear, chỉ huy các hoạt động của NATO nhằm giúp quân nổi dậy Libya lật đổ MuammarGaddafi,trở thành người đứng đầu bộ tư lệnh Thái Bình Dương thay cho ông Robert Willard) nói với các nhà báo rằng Trung quốc gần như đã sẵn sàng cho tên lửa đạn đạo hoạt động. Đây sẽ là thứ vũ khí đầu tiên trên thế giới. Vũ khí đánh tàu trên biển như cruise missile (hỏa tiễn bay ngang) xưa nay không hiếm nhưng tốc độ chỉ bằng 1/10 tốc độ của hỏa tiễn đạn đạo, và tầm hoạt động tối đa là 600 dặm, có sức công phá ít hơn và do đó ít nguy hiểm. Trái lại, theo một tài liệu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tên lửa đạn đạo của Trung quốc có tầm 1000 dặm.
Trong trường hợp nếu Hải quân Hoa Kỳ không còn đủ sức bảo vệ Tây Thái Bình Dương các nước trong vùng sẽ phải tìm cách tự bảo vệ mình. Hậu quả là chính sách nuôi mộng làm bá chủ trong vùng của Trung Quốc khi triển khai trên thực tế sẽ tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Đồng thời người ta sẽ phải đặt câu hỏi: Trung Quốc sẽ hành xử như thế nào khi trở thành bá chủ trước hết là trong trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Lịch sử bành trướng của Nhật trong mấy thập niên sau của nửa trước thế kỷ 20 cho thấy châu Á đã bị đe dọa như thế nào khi xuất hiện một nước có nhiều tham vọng trở thành bá chủ trong vùng. Sau khi Hải quân Nhật kiểm soát toàn bộ vùng Tây Thái Bình Dương, Nhật đã xâm lăng, uy hiếp và đàn áp các nước chung quanh. Với khả năng chuyên chở binh sĩ, vũ khí bằng đường biển Nhật đã đe dọa an ninh từ Ấn Độ đến Hawai.
Sự đe dọa của Trung Quốc tới ảnh hưởng của Hoa Kỳ và hòa bình trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương hiện nay thực ra có sự tham gia “dọn đường” của chính nước Mỹ.
Bốn mươi năm sau chuyến thăm đặc biệt của TT Nixon tới Trung Quốc người ta nhận thấy đó chính là sự khởi đầu hết sức ngoạn mục một tiến trình dẫn tới việc chấm dứt sự cô lập của Trung Quốc và dọn đường cho quốc gia này tái sinh như một cường quốc. Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã hưởng lợi nhiều hơn so với Hoa Kỳ từ việc nối lại quan hệ hữu nghị chiến lược Trung – Mỹ.
Có thể nói, Trung Quốc đã chiến thắng trọn vẹn trong cuộc chơi với Hoa Kỳ trong 40 năm qua. Nhưng thật may mắn là nước Mỹ chưa thua. Hiện tại, cũng có thể coi đây là cuộc chơi win-win (cả hai cùng thắng). Tuy nhiên, hiệu quả từ chiến thắng này của Hoa Kỳ so ra thấp hơn nhiều với Trung Quốc, khi mà sức mạnh ảnh hưởng trên thế giới ngày nay cho phép Trung Quốc đòi phân chia quyền lợi với Hoa Kỳ. Mà cụ thể là đòi chia đôi Thái Bình Dương, tất nhiên trong đó có yêu sách độc chiếm Biển Đông.
Điều đó cho thấy cấu trúc của các mối quan hệ Trung - Mỹ đã thay đổi vượt ra ngoài sự thỏa thuận ban đầu. Về an ninh, họ đã trở thành các bán-đối-thủ, thay vì là các bán-đồng-minh, bên này coi bên kia như một mối đe dọa tiềm ẩn và trù tính các chiến lược quốc phòng tương xứng. Các mối quan hệ kinh tế của họ phát triển phụ thuộc lẫn nhau và hình thành một nền tảng vững chắc nhất để tiếp tục hợp tác. Nhưng ngay cả như thế, căng thẳng vẫn xuất hiện, đặc biệt là dưới dạng các thâm hụt lớn về thương mại song phương.
Xung đột ý thức hệ - giữa nền dân chủ tự do Mỹ và nhà nước độc đảng của Trung Quốc – ngày càng trở nên gay gắt hơn. Từ lâu các chuyên gia Hoa Kỳ ủng hộ sự ràng buộc với Trung Quốc đưa ra lập luận dựa trên giả định rằng sự hiện đại hóa kinh tế và hội nhập của Trung Quốc với phương Tây sẽ thúc đẩy sự thay đổi chính trị và làm cho nhà nước độc đảng trở nên dân chủ hơn. Tuy nhiên, giả thuyết "cách mạng tự do" này đáng tiếc đã không mang lại kết quả. Trên thực tế Đảng Cộng sản Trung Quốc lại ngày càng chống lại dân chủ hóa và ngày càng căm ghét các giá trị tự do.
Kết quả là, trong số 3 trục của quan hệ Trung - Mỹ gồm an ninh, kinh tế và hệ tư tưởng thì chỉ một - các lợi ích kinh tế chung - là vẫn tồn tại. Trong lĩnh vực an ninh và ý thức hệ, các mối quan hệ Trung - Mỹ phát triển ngày càng cạnh tranh và đối lập. Nếu thế thì nhiều khả năng nhất là sự cạnh tranh chiến lược sẽ trở thành một đặc điểm chính của các mối quan hệ Trung - Mỹ trong tương lai gần - chừng nào nhà nước độc đảng của Trung Quốc tiếp tục nắm quyền.
Do niềm tin chiến lược thực sự là không thể có giữa một nước Mỹ với các giá trị dân chủ tự do và một Trung Quốc do nhà nước độc đảng lãnh đạo, sự cạnh tranh an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ chỉ ngày càng dữ dội hơn mà thôi. Cho nên, những rủi ro mà ngay cả đó là lợi ích kinh tế chung giữa Mỹ và Trung Quốc cũng có thể xói mòn như là một hậu quả của xung đột giữa các hệ thống chính trị của họ là không thể tránh khỏi.
Trở lại vấn đề trên Biển Đông có liên quan tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam , căng thẳng trên vùng biển này ngày càng đang gia tăng theo đà suy yếu của Hải quân Mỹ trong khu vực. Bất chấp các tuyên bố về lợi ích quốc gia, đảm bảo an ninh hàng hải, tự do đi lại trên biển của Hoa Kỳ, gần đây báo chí Trung Quốc đã không ngần ngại gì mà hét to: “Hoa Kỳ hãy câm mồm lại”, về các vấn đề có liên quan tới Biển Đông đụng chạm tới các tuyên bố chủ quyền hoang tưởng của Trung Quốc. Các động thái ngoại giao căng thẳng mà Trung Quốc dành cho Hoa Kỳ và các đồng minh trong thời gian gần đây cũng cho thấy thái độ “nắn gân” để thăm dò phản ứng, sức mạnh của phe đồng minh trong khu vực Thái Bình Dương.
Tuy vậy, sự kiện Thượng viện Hoa Kỳ thông qua nghị quyết về Biển Đông mới đây cho thấy quyết tâm của Mỹ trong việc thực hiện cam kết đảm bảo sự có mặt lâu dài của Hải quân Mỹ tại Tây Thái Bình Đương.
Nghị quyết này do thượng nghị sĩ John Kerry và một số thượng nghị sĩ Mỹ (Richard Lugar, John McCain, Jim Webb, James Inhofe và Joe Lieberman) giới thiệu lên Thượng viện. Trước đó, khi đưa ra nghị quyết, thượng nghị sĩ Kerry nói rằng việc ASEAN không đạt được sự đồng thuận để đưa ra tuyên bố chung liên quan tới bộ quy tắc ứng xử tại hội nghị thượng đỉnh Campuchia đã làm tăng thêm căng thẳng giữa Trung Quốc và các láng giềng xung quanh.
"Các tranh chấp này là có thật và trở nên nghiêm trọng hơn. Tôi nghĩ điều ít nhất Thượng viện có thể làm là thể hiện thái độ rõ ràng dứt khoát trong việc ủng hộ các nỗ lực của ASEAN để phát triển một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông", ông Kerry nhấn mạnh. "Không còn nghi ngờ gì về việc Mỹ đã cam kết đảm bảo sự hiện diện lâu dài và thúc đẩy các mối quan hệ đối tác trong khu vực. Chúng tôi có một lợi ích rõ ràng trong an toàn và hành xử hợp pháp của tất cả mọi người trong hoạt động hàng hải chung của châu Á. Chúng tôi có lợi ích to lớn trong giải pháp hòa bình cho tất cả các vấn đề ở Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế và thông qua tiến trình ngoại giao đa phương", ông Kerry khẳng định. "Chúng tôi có những mối quan tâm lớn về tự do hàng hải và tự do thương mại. Đó là những nguyên tắc mà tất cả các nước trong khu vực nên ủng hộ”.
Có vẻ như sau 40 năm “dọn đường” cho Trung Quốc trở thành cường quốc bán-đối-thủ, giúp họ thu hoạch nhiều thành quả hơn chính bản thân nước Mỹ, Washington đã bắt đầu nhận ra nguyên nhân cũng như nguy cơ về một khả năng mất kiểm soát Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ và sau đó có thể sẽ là những khu vực rộng lớn hơn nên đã và đang tìm cách để sửa chữa sai lầm từ sự thả lỏng với quan niệm kinh tế thị trường sẽ kiến tạo tự do sau cú dọn đường lịch sử này.
Tác giả Lê Hồng Hiệp (nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Học viện Quốc phòng Australia), trong bài phân tích mới đây trên ViệtNamNet nhận định: “Mỹ dường như đang muốn sử dụng tranh chấp Biển Đông như một công cụ để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Bối cảnh này một mặt có thể khiến Trung Quốc buộc phải kiềm chế và giúp cho tranh chấp Biển Đông được giải quyết một cách hòa bình, mặt khác cũng có thể khiến cuộc tranh chấp thêm phần phức tạp nếu Trung Quốc tiếp tục cứng rắn và đối đầu chiến lược Trung - Mỹ trở nên sâu sắc hơn. Tình hình đó mang lại cho Việt Nam những thuận lợi lẫn thách thức mới trong việc xử lý tranh chấp Biển Đông và giải quyết quan hệ với các nước lớn, đòi hỏi ở Việt Nam hơn lúc nào hết một sự bản lĩnh, khôn ngoan và khéo léo trong việc hoạch định và thực thi các chính sách chiến lược của mình”.
Thế nhưng ông Lê Hồng Hiệp không cho biết cụ thể hơn về “sự khôn ngoan và khéo léo” của Việt Nam trong hoạch định và thực thi chính sách chiến lược của mình là như thế nào.
Tuy nhiên, từ lâu một vài chuyên gia cũng đã đưa ra những gợi ý về đề tài này. Theo đó, sự khéo léo của Việt Nam trong bối cảnh xung đột Trung – Mỹ chắc chắc xảy ra là phải biết tự giữ mình. Trước hết là biết tự giữ lấy những gì mà Việt Nam đang có. Né tránh đến mức “siêu đẳng" (như việc sử dụng “lăng ba vi bộ” trong truyện chưởng Kim Dung) việc chủ động xảy ra đụng chạm, nhất là đụng chạm quân sự trên biển với Trung Quốc để nước này tạo cớ để “dạy cho Việt Nam một bài học” và chiếm nốt những gì Việt Nam đang có trên Biển Đông.
Thế nhưng, lạm dụng "lăng ba vi bộ" với cả chính nhân dân mình khi họ bày tỏ quyết tâm chống giặc ngoại xâm và phản đối, lên án bọn "cõng rắn cắn gà nhà" thì là lại điều thất sách, thất nhân tâm.
Cái khó của việc vừa sử dụng “lăng ba vi bộ” vừa phải đảm bảo việc chấp pháp trên vùng biển chủ quyền thật khôn khéo, mềm dẽo mà cương quyết không để đối phương lấn chiếm từng bước bằng thủ đoạn “cây gậy nhỏ”. Chiến thuật là tương kế tựu kế, lấy gậy ông đập lưng ông. Nếu đối phương dùng thủ đoạn “cây gậy nhỏ”, thì Việt Nam cũng nên dùng chính thủ đoạn này, nhưng với “cây gậy nhỏ bọc nhung” và có “đeo lục lạc”. Đánh thật êm, nhưng lại phát ra tiếng cồng chiêng, lục lạc… báo động với cộng đồng thế giới về tính chính đáng của một quốc gia nhỏ bé buộc phải bảo vệ chủ quyền trên vùng biển truyển thống, lâu đời của cha ông trước sự qua đáng của tên hàng xóm khổng lồ và tham lam.
Đồng thời với chiến thuật “cây gậy nhỏ bọc nhung, đeo lục lạc”, Việt Nam cần chuẩn bị thật nghiêm túc, bài bản, khoa học cho cuộc chiến về pháp lý sẽ diễn ra trong tương lai. Nhiều chuyên gia quốc tế nhận xét, yếu tố pháp lý và lịch sử là thế mạnh của Việt Nam trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc. Nếu vấn đề này được chuẩn bị chu đáo và được đưa ra trước cộng đồng quốc tế đúng lúc thì thế mạnh sẽ thuộc về Việt Nam .
Sử dụng chiến thuật “cây gậy nhỏ”, Việt Nam cũng cần phải tạo điều kiện và đảm bảo an toàn về tính mạng, tài sản cho lực lượng ngư dân vốn rất gan dạ, dũng cảm, giàu lòng yêu nước và quen thuộc ngư trường Hoàng sa, Trường Sa như lòng bàn tay có cơ hội được bám biển liên tục và lâu dài.
Tuy nhiên, chiến lược “trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” vẫn là phải tăng cường sức mạnh nội lực bằng các chính sách cải cách phù hợp với quy luật phát triển và xu thế của thời đại. Giải quyết được mâu thuẫn nội tại hiện nay trong chính nội bộ dân tộc để có thể huy động được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền kể cả bằng quân sự khi cần thiết và đặc biệt là trên các bàn cờ chính trị - ngoại giao.
Về chuyện này, tác giả Bùi CôngTự gần đây đã đưa ra nhận định chính xác khi bình luận về bài phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhân dịp Quốc Khánh 2/9/2012:
“Làm thế nào để đoàn kết – hòa hợp – thống nhất được thì ý kiến của ông chủ tịch lại chưa đủ thuyết phục… Vấn đề mắc mớ là xã hội chúng ta đang sống đang tồn tại nhiều mâu thuẫn gay gắt, cả những mâu thuẫn đối kháng… Tóm lại nếu tình trạng đất nước cứ như hiện nay, không thể giải quyết được những mâu thuẫn xã hội âm ỉ, gay gắt thì chắc chắn không thể có đoàn kết – hòa hợp – thống nhất. Vậy thì đất nước sẽ đi đến đâu?”.
Làm sao có thể huy động được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chiến đấu chống giặc ngoại xâm khi chính những người yêu nước lại bị cản trở, bắt bớ và hành hung chỉ vì họ công khai bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trước những hành động xâm lược ngày càng ngang ngược của Trung Quốc?
Nếu không thể giải quyết được các mâu thuẫn xã hội, không thể đoàn kết – hòa hợp – thống nhất được lòng người, thì vận nước rồi sẽ ra sao?

Gậy ông đập lưng ông.

Song Chi.

Sức mạnh và sự tồn tại của một nhà nước độc tài phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát thông tin trong xã hội. Một mặt, hạn chế, bưng bít tất cả những thông tin trung thực nhưng bất lợi, mặt khác, lèo lái, hướng dẫn mạng lưới truyền thông lẫn hệ thống giáo dục, tuyên truyền…trong nước theo hướng có lợi cho chế độ, kể cả bóp méo, làm sai lệch sự thật, tạo ra những luồng thông tin dối trá và dối trá.

Nhà nước cộng sản Trung Quốc hay VN cũng không là ngoại lệ.

Với nhà cầm quyền VN, khả năng kiểm soát thông tin đó đã giúp họ tồn tại cho đến nay là hơn 6 thập kỷ, qua những giai đoạn khó khăn nhất. Ngay cả trong những ngày miền Bắc vật vã trong đói nghèo, chiến tranh và những sai lầm liên tiếp của công cuộc cải cách ruộng đất hay chiến dịch đánh phá phong trào Nhân văn giai phẩm; những ngày cuộc chiến tranh với Mỹ và miền Nam đang căng thẳng nhất; hoặc khi cả nước sắp đứng trước bờ vực của sự chết đói sau hơn 10 năm tiến hành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được áp dụng theo miền Bắc…

Khi còn kiểm soát được thông tin, kiểm soát được từ tư tưởng, tình cảm, cho đến hành động nhỏ nhất của người dân, bên cạnh việc nắm giữ lực lượng an ninh, công an, quân đội…thì chế độ cộng sản vẫn còn an toàn.

Sự an toàn tuyệt đối đó đã bị phá vỡ kể từ khi có internet ra đời. Từng ngày từng ngày bức tường sắt ngăn chặn thông tin của nhà cầm quyền bị xuyên thủng, rò rỉ cho những luồng thông tin từ bên ngoài tràn vào. Sự độc quyền thông tin không còn, đồng thời tất cả sự hạn chế, méo mó, sai lệch của cái hệ thống thông tin đặt dưới sự kiểm duyệt, lèo lái của nhà nước ấy dần dần bị phơi bày trước mắt người dân.

Nhu cầu khao khát thông tin, khao khát sự thật dẫn dắt người dân đến với những nguồn thông tin bên ngoài. Và khi nguồn thông tin này bao gồm báo chí quốc tế, báo chí của người Việt ở nước ngoài, các diễn đàn độc lập, mạng lưới trang blog cá nhân mọc lên như nấm sau mưa… càng lúc càng mạnh, phong phú, cập nhật nhanh, đa chiều hơn hẳn, thì người dân cũng dần dần không buồn đọc/nghe/xem nguồn thông tin chính thức trong nước hoặc đọc/nghe/xem với con mắt biết hoài nghi, đối chiếu, so sánh trong-ngoài…

Nhà cầm quyền, do vậy, không còn thi hành được chính sách ngu dân tuyệt đối như trước nữa.

Nhưng họ vẫn tìm mọi cách để không công khai minh bạch mọi thông tin mà người dân cần biết và có quyền được biết từ phía nhà cầm quyền.

Từ nhân thân, tính nết, năng lực thật sự, tài sản…của các quan chức lớn nhỏ, đặc biệt là các nhân vật lãnh đạo cho đến những chính sách, phương hướng, đường lối điều hành quản lý đất nước trong mọi lĩnh vực, đối nội và đối ngoại.

Từ thực chất mối quan hệ Việt-Trung trong bao nhiêu năm, nội dung của những bản hiệp ước, hiệp định về lãnh thổ lãnh hãi đã ký kết giữa hai bên cho đến những gì đang thực sự diễn ra trên biển Đông hiện nay và những kịch bản nào sẽ xảy ra cho đất nước trong tương lai…

Từ những sai lầm trong chính sách về kinh tế dẫn đến tình trạng suy yếu, bất ổn kéo dài của nền kinh tế vĩ mô, thực chất của vấn đề nợ công hay tình trạng làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước đang ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và làm thế nào để thay đổi….cho đến sự thật phía sau những vụ án lớn về kinh tế như vụ PMU18, vụ Vinashine, Vinalines…

Hay mới đây là vụ ông Nguyễn Đức Kiên, ông Lý Xuân Hải bị bắt. Tất nhiên, một vụ án khi đang trong quá trình điều tra có những điều không thể công bố nhưng người dân cũng thừa hiểu rằng, cho dù sau này khi vụ án đã được đưa ra xử lý, nhân dân cũng không bao giờ được biết thực sự các ông này bị tội gì, liên quan đến ai, tầm vóc của sự việc đến đâu v.v…và v.v…Báo chí được phép đăng cái gì, bao giờ đăng, đăng đến đâu…đều đã được chỉ đạo, theo dõi kỹ càng.

Hệ quả từ sự không công khai, minh bạch thông tin này đã quá rõ. Thứ nhất, kìm hãm chức năng thông tin, khám phá, bảo vệ sự thật của báo chí, báo chí quốc doanh bị biến thành công cụ, cái loa của nhà cầm quyền trong lúc báo chí bên ngoài ngày càng thu hút mạnh mẽ người đọc như đã nói ở trên. Thứ hai, tạo những khoảng trống thông tin trong xã hội cho những tin đồn, tin hành lang, những giả thuyết, phỏng đoán gây nhiễu…lan tràn, khiến người dân càng thêm mất lòng tin vào nhà nước, từ đó cứ việc mình mình làm, tự bảo vệ mình, suy xét mọi việc theo đám đông.

Như trong vụ bầu Kiên bị bắt vừa qua. Sự hoang mang, sợ hãi do không nắm được thông tin rõ ràng, không hiểu chuyện gì đang/sắp/sẽ xảy ra cộng với tâm lý bầy đàn, hiệu ứng đám đông nên các nhà đầu tư chứng khoán đua nhau báo tháo các cổ phiếu, thị trường chứng khoán bị một phen tụt dốc thê thảm, bên cạnh đó, người dân ùn ùn đi rút tiền tại các ngân hàng được cho là có liên hệ với bầu Kiên khiến nhà nước phải bơm hàng ngàn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản. Giá vàng cũng theo đó tăng vọt lên...

Nhà cầm quyền từ chỗ phải nhường bước, trở thành lép vế trên mặt trận truyền thông tiến tới không kiểm soát và khống chế được thông tin bên ngoài nữa.

Càng ngày, việc không công khai minh bạch hóa thông tin càng đưa đến tình trạng bất lợi cho chính nhà cầm quyền.

Về mặt kinh tế, VN từ lâu đã trở thành một mảnh đất mầu mỡ cho nạn tham nhũng tràn lan, sự lãng phí, tình trạng ăn cướp, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, tài sản của đất nước và nhân dân một cách trắng trợn bằng mọi thủ đoạn của những kẻ có chức có quyền cũng như sự tung hoành của mọi loại tội phạm kinh tế trong và ngoài nước…Về mặt xã hội, VN cũng là mảnh đất màu mỡ cho mọi loại tội phạm hình sự, do được điều hành bằng luật của đảng và luật rừng, tình trạng đạo đức xuống cấp, những bất công phi lý cứ ngang nhiên tồn tại khắp nơi…

Còn về mặt thông tin, ở VN đang tồn tại một nghịch lý rõ rệt: những loại thông tin vô bổ, thậm chí rác rưởi như việc đi sâu khai thác tỉ mỉ các vụ án hình sự cướp giết hiếp, thế giới showbiz và những trò lố lăng v.v…thì tràn ngập, trong khi đó, những thông tin cần thiết cho người dân trong mọi lĩnh vực đời sống quốc gia và đời sống cá nhân, được công khai từ phía nhà nước thì rất ít. Những thông tin đúng thì rất hiếm mà các loại tin đồn, tin chắp nối vỉa hè, các loại giả thuyết, phỏng đoán thì nhiều.

Gần đây các loại thông tin như vậy phần lớn được tung ra từ một trang mạng có tên là Quan Làm Báo, chưa biết rõ mục đích thật sự là gì, do ai/nhóm nào điều hành, nhưng rõ ràng kiểu đưa tin nửa úp nửa mở, pha trộn giữa tin đồn, và những thông tin có được bằng những con đường bí ẩn nào đó, với cách viết giật gân, thấp tầm, bất cần kiểm chứng, đã “lấp chỗ trống” phần nào cho người dân đang tò mò và thiếu thốn những loại thông tin chính thức từ phía sau hậu trường chính trị VN.

Nếu theo dõi các bài viết trên trang Quan Làm Báo, người ta có thể suy đoán, hoặc trang mạng này do tay chân của phe nhóm này lập ra để triệt hạ uy tín của phe kia, mà ở đây sự ủng hộ dành cho phe nào thì vẫn không dám khẳng định chắc chắn, nhưng phe bị chĩa mũi dùi thì rõ ràng là phe của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nếu quả đúng như vậy thì việc khui những bí mật động trời của nhau ra cũng chỉ nhằm mục đích chính là đánh nhau, chứ không phải vỉ thật sự muốn “mở mắt” cho người dân. Mặt khác, dựa vào sức mạnh của trang web không bị đánh sập bởi an ninh mạng VN, cộng với cách hành văn, lỗi chính tả….cho thấy có vẻ như không phải do một nhóm người Việt chủ trương. Và nếu vậy thì do ai, từ đâu?

Có người đã từng đặt ra vấn đề, rằng trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao…TQ là tay tổ chuyên nghề đánh phá VN từ xưa đến nay, bằng mọi thủ đoạn tinh vi nhất để kìm hãm không cho VN phát triển. Và thực tế đã cho thấy TQ làm điểu đó không có gì khó, với một nhà cầm quyền ngu muội, hèn nhát, có tầm nhìn ngắn, lại tham lam, cố bám giữ quyền lực đến cùng và luôn luôn đặt quyền lợi của phe nhóm, của chế độ lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc như nhà nước cộng sản VN. Do đó, trong lĩnh vực thông tin, nếu Bắc Kinh muốn phá, trình độ của họ, chẳng có gì mà họ không làm được. Như việc tạo ra một trang mạng kiểu như Quan Làm Báo, tung ra những thông tin hư hư thực thực, chẳng hạn.

Và trong cả hai trường hợp, về lâu về dài, thực sự chẳng có lợi gì cho VN và cho người dân VN.

Một ví dụ nhỏ, về góc độ kinh tế xã hội, những thông tin do trang này tung ra như hàng loạt tin đồn nhân vật này nhân vật kia trong giới kinh doanh, tài chính ngân hàng bị bắt hoặc bị quản thúc, khiến các nhân vật này phải lên tiếng cải chính hoặc xuất hiện công khai. Và người dân, những ai đọc được những thông tin loại này thì hoang mang thêm, rồi người này truyền tai người kia, rủ nhau đi rút tiền ở ngân hàng này ngân hàng khác, khiến hệ thống ngân hàng VN vốn đang bị khủng hoảng do nợ xấu đã đến mức báo động, cộng thêm tình trạng rối loạn do các nhóm lợi ích tìm mọi cách thao túng, lũng đoạn …nay càng thêm rối. Còn dưới góc độ thông tin, mặc dù nó có thể đáp ứng cho người dân phần nào những bí mật xấu xa mà nhà cầm quyền muốn che dấu, nhưng nó cũng làm nhiễu loạn thêm.

Cuối cùng thì nhà cầm quyền VN đã rơi vào thế “gậy ông đập lưng ông”. Vì muốn bưng bít thông tin, vì không chấp nhận sự công khai minh bạch như trong một xã hội tự do dân chủ nên họ mới bị rơi vào thế lúng túng, đối phó bị động tứ bề như hiện nay.

Để tang nước - Nguyễn Thị Từ Huy

Một lần nữa trở lại với hai chữ “đất nước”, và hai chữ này sẽ còn được nhiều người Việt Nam nói đến, nó sẽ còn là nỗi ám ảnh của người Việt đương đại, cho đến khi, hoặc họ sẽ để mất cái nội dung được chuyên chở bởi hai chữ đó, hoặc họ chấp nhận mỗi người mất đi một điều gì đó của chính họ để bảo tồn được nó (điều phải mất đi có thể là: tài sản, quyền lực, nỗi sợ hãi, sự hèn hạ, sự hèn nhát, sự mù quáng, lòng tham, sự thiếu trách nhiệm, sự vô cảm,…)

Trong từ ghép “đất nước” , yếu tố “nước” đứng sau “đất”, nhưng không phải nó kém quan trọng hơn “đất”. Bởi vì “đất” tách riêng ra thì không còn hàm nghĩa “đất nước”. Nhưng “nước” đứng riêng vẫn mang đầy đủ ý nghĩa là lãnh thổ quốc gia. Và trong các văn bản hành chính thì chỉ có từ “nước” được sử dụng: nước Việt Nam, nước Pháp, nước Mỹ,…

Vì thế, nước đối với người Việt hẳn phải có một giá trị hết sức đặc biệt mà việc diễn giải nó đòi hỏi công phu của các nhà văn hóa học, các nhà dân tộc học…

Quan sát phản ứng của đa số dân chúng Việt Nam hiện nay, ta có cảm giác rằng dường như nước không còn giữ được cái giá trị tinh thần đặc biệt mà nó từng có đối với người Việt trong lịch sử. Trong khi 23 ngàn con tàu của Trung Quốc giày xéo gương mặt bà mẹ Biển Đông (người Việt vẫn ví lòng mẹ bao la như biển, nhưng biển còn là ẩn dụ kép về cả người mẹ và người cha, vì biển là nơi cư trú của Lạc Long Quân và 50 người con) thì hầu như đa số người Việt biểu lộ ra ngoài một sự bình thản khó hiểu. Một số vô cùng ít ỏi trên toàn bộ tổng số gần 90 triệu người ôn hòa bày tỏ giông tố trong lòng họ lại gặp phải sự đàn áp và sự bôi nhọ không thể giải thích nổi từ phía chính quyền, và sự thờ ơ không thể nào hiểu nổi từ phía đồng bào của họ.

Hôm nay, tôi có một trải nghiệm trực tiếp với nước, và lại là nước biển, ở Hội An, một khu vực cách Hoàng Sa không xa. Tôi nằm thả lỏng, bồng bềnh trên mặt biển, không cử động, xung quanh là nước, mắt hướng lên cao nhìn thẳng vào bầu trời, xanh thẳm, sâu hút. Cứ như vậy rất lâu. Và một dự cảm đau đớn lan khắp cơ thể: rồi một ngày bầu trời này, mặt biển này không còn là của tôi nữa, không còn là của chúng tôi nữa. Nước đập vào hai bên tai, nhẹ nhàng như an ủi. Dẫu thế dường như không thể an ủi, mà còn tăng bội phần dự cảm mất mát, bởi đó là nước. Có cái gì nghịch lý trong việc làn nước này đang muốn an ủi tôi. Nước biển. Nước. Tang tóc ngấm vào từng tế bào da mang theo vị mặn của muối. Tang tóc được dự báo bởi những hoạt cảnh bắt bớ nồi da xáo thịt, những người lương thiện, những người yêu nước bị kết tội hàng ngày. Tang tóc được dự báo bởi những hỗn loạn khắp mọi lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, văn hóa, chính trị,... Trên khoảng trời mà mắt tôi bao quát được tôi nhìn thấy những cảnh đang náo hoạt cuộc sống của chúng tôi hiện nay. Thanh trừng nội bộ hay kịch bản của ngoại bang? Không thể nào biết được một cách chính xác. L’ignorance. Chúng tôi bị đẩy vào tình cảnh như thế: không biết những gì đang diễn ra trước mắt mình, cả khi mắt mở to hết cỡ, ngay cả khi nhìn thấy sự việc. Nhìn thấy mà vẫn không biết. Đó là một thứ tang tóc khác, là một mất mát khác, là một cái chết khác.

Tôi trở về với thực tại, ngạc nhiên thấy mình vẫn đang ở trên mặt nước và ở dưới bầu trời.

Mặt trời quàng qua trán tôi một giải khăn tang ánh sáng. Một nửa vành khăn phủ trán tôi, một nửa tan chảy trong nước biển.

Tôi mong đó chỉ là một giải khăn tang tưởng tượng của một kẻ ủy mị do dính dáng quá nhiều tới văn chương.

N.T.T.H

Hội An, 24/8/2012

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Bùi Tín: Lỗ hổng đã 67 năm

Bùi Tín

VOA – 28.08.2012

Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945

Cuộc Cách mạng tháng Tám mùa Thu 1945 đã được tròn 67 năm. Trên dưới một đời người. Bao nhiêu thơ ca ca ngợi cuộc chính biến, cách mạng, đổi đời, cướp chính quyền, tang bồng dâu biển sôi nổi ấy. Bao nhiêu bài xã luận, bình luận, chính luận về sự kiện hiếm có ấy trong cuộc sống của dân tộc.

Tưởng như mọi sự cần nói đã được nói đến hết cả rồi.

Ấy vậy mà năm nay, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 67 cuộc cướp chính quyền tháng 8-1945, tôi vẫn thấy rất cần nêu lên một ý kiến cực kỳ hệ trọng với bà con ta trong cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, đặc biệt là với các bạn trẻ hiện chiếm số đông trong gần 90 triệu người Việt.

Xin được trân trọng hỏi các bạn là trong 67 năm nay, cho đến ngày hôm nay, đất nước ta, nhân dân ta trong đời sống thực tế đang thiếu cái gì nhất?

Nghĩa là cái thiếu nhất trong cuộc sống hằng ngày, không kể đến những mỹ từ, những lạm từ, những hoang từ nhằm tuyên truyền, tưởng tượng ra những điều không hề có thật trên giải đất hẹp hình chữ S này.

Trước tháng Tám 1945, dân ta chưa có nền độc lập, mang thân phận dân thuộc địa của nước Pháp, sau đó dân ta đã có nền độc lập cao quý. Đến nay tuy nền độc lập vẫn còn bị đe dọa, nhưng nền độc lập vẫn vững bền trong ý chí kiên cường của toàn dân.

Trước kia dân ta cực kỳ nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu học; trận đói năm Ất Dậu 1945 dưới thời bị quân phát xít Nhật chiếm đóng đã gây nên cái chết thê thảm của 2 triệu người. Nay ta đã là nước xuất khẩu gạo hàng đầu ở châu Á.

Về thiếu học, dân ta đã xóa nạn mù chữ, xây dựng hệ thống học đường từ mẫu giáo, tiểu học, trung học đến đại học và sau đại học, tuy chất lượng giảng dạy còn xa mới đạt mức trung bình khá, chưa nói gì đến tiên tiến, nhưng dù sao thiếu học, dốt nát không còn là vấn đề trầm kha của cuộc sống dân tộc.

Một số nhà nghiên cứu chính trị và lý luận trong nước lập luận rằng 67 năm nay, dân ta đã có tự do, rằng trong bản Tuyên ngôn Độc lập đã dẫn ra những câu bất hủ về tự do của Cách mạng năm 1776 ở Hoa Kỳ và Cách mạng 1791 của nước Pháp, rằng câu châm ngôn «Không có gì quý hơn độc lập tự do» đã trở thành phương châm chính trị quý giá nhất được thực hiện rõ ràng trong 67 năm qua, và hiện nay có hàng triệu người, hàng chục triệu người Việt Nam vẫn tin là đó là những sự thật hiển nhiên khỏi phải bàn cãi.

Chỉ cần mỗi người Việt Nam ta có công tâm, có tư duy lành mạnh, chịu khó suy nghĩ bằng tư duy độc lập của cá nhân mình, không bị chi phối bởi tư duy giáo điều, theo đuôi người khác, quan sát chặt chẽ cuộc sống thực tế xung quanh, là có thể nhận ra sự thật đúng như nó có.

Sự thật cứng đầu, bướng bỉnh, hiển nhiên là cho đến nay tự do của người công dân ở Việt Nam vẫn còn là quả cấm, vẫn còn là mục tiêu đấu tranh ở phía trước, sự thật là 67 năm nay tự do công dân chỉ mới tồn tại thực sự trên tuyên ngôn, trên diễn văn, trên văn kiện, trên cửa miệng và trên giấy tờ, không hề tồn tại với đầy đủ ý nghĩa cao quý tự nhiên của nó trong cuộc sống.

Ngay ông Hồ Chí Minh người được coi là khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, người nêu cao các khẩu hiệu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, người nêu cao phương châm «không có gì quý hơn Độc lập Tự do», người còn nói «nếu đất nước đã được độc lập mà nhân dân không có tự do thì nền độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì», thì trên thực tế, mỉa mai thay, ông lại tỏ ra hết sức thờ ơ, hầu như vô cảm đối với mọi quyền tự do của công dân.

Có vô vàn dẫn chứng hùng hồn chứng minh cho điều đó.

Trong 24 năm làm chủ tịch nước, chủ tịch đảng CS, làm lãnh tụ tối cao đảng và nhà nước, ông vẫn chủ trương kiểm duyệt gắt gao xuất bản và báo chí, bóp ngẹt báo chí tư nhân. Khi phong trào Nhân văn Giai phẩm nổ ra, những Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần…chỉ yêu cầu được tự do sáng tác, đề nghị các nhà lãnh đạo tư tưởng, văn hóa, các chính ủy trong quân đội chớ can thiệp quá sâu vào sáng tác văn học nghệ thuật, rồi bị những Trường Chinh, Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng «đánh» cho tơi bời khói lửa, vậy mà ông không chút động lòng bênh vực những công dân ngay thật, còn vào hùa trừng phạt những người đòi tự do cho mình và cho toàn xã hội.

Anh Nguyễn Hữu Đang gửi bao nhiêu thư cho ông cầu cứu, ông không một lần trả lời, ngoảnh mặt quay đi với người từng là trưởng ban tổ chức lễ Độc lập, người lãnh đạo Hội Văn hóa Cứu quốc của Việt Minh, người từng đôn đốc dựng đài cao cho ông Hồ lên đọc bản Tuyên ngôn lịch sử.

Tệ hơn nữa là khi người Sỹ quan thân cận của chủ tịch nước – Officier d’ ordonnance du Président – Vũ Đình Huỳnh, cũng là thư ký riêng thân tín của ông hàng chục năm, năm 1964 bị chụp mũ là «xét lại, tay sai Moscow», cũng gửi thư và vợ ông là bà Tề đến cầu cứu ông, ông Hồ vẫn thản nhiên, không một lời an ủi hay bênh vực.

Còn bao nhiêu sự kiện khác. Ông Hồ biết cả. Nhưng ông bất động. Mà ông còn có thể sợ ai nữa. Lúc ấy ông Lê Duẩn, ông Lê Đức Thọ chưa dám hỗn láo hạn chế quyền lực của ông với cái lý do «hãy để ông Cụ nghỉ, đừng làm phiền lòng ổng». Ông chỉ cần phê một chữ, lắc đầu một cái, là có thể cứu người công dân ưu tú khỏi oan trái. Nhưng không. Ông bất động, vì vô cảm. Vì ông vô cảm với bất công, với oan trái, với tự do công dân bị xâm phạm.

Anh Hà Minh Tuân, nhà văn quân đội có tài, chỉ sơ hở một vài câu trong cuốn tiểu thuyết «Vào đời» bị đại tướng Nguyễn Chí Thanh phang một đòn «văn tư sản đồi trụy», từ đó sạt nghiệp văn chương, cũng như nhà thơ tài hoa Quang Dũng, cũng bị ông tướng võ biền Nguyễn Chí Thanh phang một đòn chí tử về tứ thơ từ Tây Bắc «nhớ về Hà Nội bóng Kiều thơm» là «sa đọa tư sản», tất cả bị đưa lên phê phán trên báo, ông Hồ biết rõ cả, nhưng ông không tỏ thái độ, có nghĩa là ông bênh các quan đàn áp lương dân, ông không mảy may rung động khi «nước có độc lập mà dân không được tự do».

Rồi vụ bà Nguyễn Thị Năm ở Đồng Bẩm – Thái Nguyên bị tử hình theo ý kiến cố vấn Tàu, ông Hồ được ông Hoàng Quốc Việt chạy đến cầu cứu vì bà Năm từng nuôi cán bộ cộng sản, có 2 con đi bộ đội, ông Hồ chỉ «thế a!» rồi im thin thít. Đó quan niệm của người khai sinh ra nước Việt Nam độc lập và tự do là nghèo nàn ấm ớ như thế đó.

Nhiều nhà dân chủ bây giờ đã thấy rõ nếu so sánh lập trường dân chủ tự do của ông Hồ với nhà chí sỹ Phan Chu Trinh thì thấy rất rõ là ông Tây Hồ đã vượt ông Hồ cả một cái đầu. Tôi đã để thì giờ đọc Hồ Chí Minh toàn tập và những trước tác của Phan Chu Trinh để so sánh. Ông Hồ viết sách, viết báo, diễn thuyết khá nhiều, nhưng ông chỉ tập trung lên án mạnh và khá sâu bọn thực dân Tây Phương, bọn thực dân Pháp cầm quyền bóc lột áp bức dân thuộc địa, nhưng ông hầu như bỏ qua mọi hình thức bóc lột đàn áp, bất công tinh vi của người Việt đối với người Việt mình. Các bạn trẻ xin hãy đọc hàng ngàn câu thơ trong tập Tỉnh Quốc Hồn Ca của Phan Tây Hồ, sẽ thấy rõ các chủ trương của ông : nâng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh là cần thiết, cấp bách, quý báu và hiện đại biết bao.

Phan Tây Hồ tuyên chiến mạnh mẽ, sâu sắc với mọi nét văn hóa lạc hậu, cổ hủ của xã hội Việt Nam, tệ nạn trọng nam khinh nữ, thói tham quan ô lại, tệ cường hào quan liêu, thói học vẹt theo thi cử, giảng giải kỹ quyền công dân, tinh thần thượng tôn luật pháp, quyền liên kết lập hội, cổ vũ lối nghiên cứu khoa học theo tư duy độc lập tự chủ kiểu thực nghiệm và thực chứng…Có thể nói tuy Phan Chu Trinh là Phó bảng Hán học nhưng trên thực tế là nhà văn hóa hiện đại nhất, hấp thu tinh túy của văn hóa Tây phương nhuần nhuyễn nhất, có hệ thống và rất thực tiễn. Có cơ sở để kết luận rằng ông Phan Chu Trinh là chiến sỹ Dân Chủ và Nhân Quyền đầu tiên và sâu sắc nhất trong lịch sử nước ta, và tư duy duy tân của ông hiện vẫn là chuyện thời sự cần thiết nóng hổi nhất.

Ông Phan và ông Hồ đều sống ở Pháp khá lâu nhưng ai tiếp thu thật sự nền văn hóa – chính trị mới mẻ tiến bộ của Pháp, có thể khẳng định là ông Phan vượt trội một cách nổi bật, như người dẫn đầu cuộc đua và kẻ mang đèn đỏ. Vì khi cầm quyền ông Hồ và những kẻ kế thừa ông đã quay lưng lại với tự do của người công dân và chà đạp nhân quyền không thương tiếc.

Đó là vì ông sống ở Pháp rồi còn sang Moscow một thời gian dài, ăn lương hàng tháng của Quốc tế CS, khi tư duy chính trị đang chín và đang định hình, bị trực tiếp Stalin và đồng chí của ông ta nhào nặn vào khuôn phép, được đào tạo ở Học viện Đông phương cộng sản, hết họp Đại hội V của Quốc tế CS (tháng 6/1924), lại họp Đại hội Quốc tế Công hội Đỏ, rồi Quốc tế CS Nông dân, rồi cả Quốc tế Phụ nữ và Quốc tế Thanh niên cũng như Quốc tế Cứu tế Đỏ. Rồi một thời gian dài ở Trung Quốc dưới trướng của Mao, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, sau đó với hàng trăm cố vấn của «bác Mao» quanh mình, ông chỉ có một ý nghĩ chính trị mãnh liệt là nhuộm đỏ cả Bắc cả Nam nước ta, nhuộm đỏ cả Lào và Miên, cho đến nhuộm đỏ cả Đông Nam Á và thế giới, sứ mệnh được các lãnh tụ quốc tế của ông là ông Xít và ông Mao giao cho ông.

Cho nên tháng Tám năm nay, nhắc đến bản Tuyên ngôn Độc lập, điều mỉa mai cay đắng khổng lồ là những chữ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền trên đó sau 67 năm vẫn còn là những chữ rỗng ruột, những mỹ từ trên giấy, những lời hứa hão huyền, những quả lừa khổng lồ dai dẳng, những món nợ trầm luân của ông Hồ, của đảng Cộng sản đối với dân ta.

24 năm ông Hồ trực tiếp cầm quyền, công dân Việt Nam chỉ được làm những điều gì đảng cho phép, mọi người ngoài đảng chỉ là công dân dự bị, loại hai, bị phân biệt đối xử theo lý lịch, không một công dân nào có hộ chiếu để xuất ngoại, người nông dân tự do, người buôn bán tự do…là chuyện viển vông không tồn tại.

Đến nay, trong đổi mới, gia tài ông Hồ để lại tuy có điều chỉnh chút ít, nhưng đường lối cơ bản theo chủ nghĩa Mác-Lenin vẫn là một xã hội tật bệnh hiểm nghèo, trong đó lỗ hổng cực kỳ bi đát là thiếu dân chủ tự do, thiếu nhân quyền vẫn cứ toang hoác thêm. Vẫn là một không gian xã hội không có dưỡng khí, ngột ngạt đến ngẹt thở. Đây là bất hạnh dai dẳng lớn nhất của dân ta khi so sánh với nhân dân Thái Lan, Philippine, Indonesia, Malaysia gần ta, chưa nói đến dân Ấn Độ, Nhật Bản…

Trên đây là món nợ lớn nhất mà toàn dân ta đang trên đà thức tỉnh để đòi lại cho nhân dân ta và muôn đời con cháu, món nợ lưu cữu 67 năm, lãnh đạo đảng CS không thể trì hoãn và cố tình bỏ quên mãi được.

*****

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/

"Nước càng đục, cò càng béo"!

Quả thật nhìn danh sách nợ của các “Ngài” mà nghĩ ví dầu có bầy con chúng làm ăn như vậy thì thôi mình leo lên Parking trực thăng đỉnh tòa nhà Bitexco Financial Tower (gần 70 tầng Q1 TP/HCM) nhắm mắt sải tay làm trực thăng bay xuống một phát cho rảnh nợ đời. Tôi than thở với người em rể: đầu niên học nhìn bản liệt kê các khoản tiền cho hai đứa nhỏ đủ chuẩn vào lớp muốn quay mòng mòng, ngược lại chú ấy cũng chắt lưỡi cười buồn: Em thì cứ mỗi lần thấy đoàn “xe thùng” kho bạc nhà nước vào sân bay xếp hàng ngoài parking taxi way (chú ấy làm an ninh sân bay) thì hình như lương tháng vợ chồng em teo bớt lại, giấc mơ căn nhà cấp bốn ra riêng cứ xa dần... đoàn xe chiếc nào chiếc nấy to đùng không biết mỗi lần như vậy là bao nhiêu “tấn” tiền Polymer mới in chuyển về, cứ sợ hôm nào sáng ra đổ 2 lít xăng đưa tờ trăm ngàn họ bảo còn thiếu thì chắc chết? Đã vậy tối qua vợ em mò mẫm trong laptop chỉ cho thấy cái bảng “phong thần” liệt kê số nợ của các công ty đại gia nhà nước nhìn mà hết hồn, gián tiếp làm mình cũng vạ lây, cô ấy “chỉ thị” ngày mai mua bao ok thôi, bắt đầu “cơ cấu” lại để “hoạt động” cho an toàn không có “hoàng tử hay công chúa” gì cả trong lúc này!
Quả thật nhìn danh sách nợ của các “Ngài” mà nghĩ ví dầu có bầy con chúng làm ăn như vậy thì thôi mình leo lên Parking trực thăng đỉnh tòa nhà Bitexco Financial Tower (gần 70 tầng Q1 TP/HCM) nhắm mắt sải tay làm trực thăng bay xuống một phát cho rảnh nợ đời.
Các doanh nghiệp nhà nước nợ hơn 1.000.000 tỷ đồng
(Theo: TTXVN)
Và như “cuốn theo chiều gió” từ cái sảy nó nảy cái ung, tới lượt hệ thống ngân hàng các “xanh khoản” buộc lòng phải phơi bày để bàn dân thiên hạ nhìn vào cũng “xanh” máu mặt luôn.
Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho biết tính đến ngày 30/4/2012, nợ xấu của toàn hệ thống tổ chức tín dụng khoảng 108,6 nghìn tỷ đồng, tăng 28,18 nghìn tỷ đồng (35%) với tốc độ tăng trung bình 8,6%/tháng, cao hơn so với mức tăng bình quân cùng kỳ năm trước. Chính phủ có kế hoạch bán nợ xấu, mua lại các bất động sản “ế” để cứu doanh nghiệp-ngân hàng.
Ông Nguyễn Văn Bình cho biết thêm ngân hàng Nhà nước đã bàn thảo về việc xây dựng đề án lập công ty mua bán nợ xấu ngân hàng, sẽ xin ý kiến chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ. Công ty này dự kiến sẽ có đủ nguồn lực để làm sạch khoảng 100.000 tỷ đồng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên câu hỏi lớn nhất lúc này là: Nguồn tiền “chữa cháy” trước mắt 100.000 tỷ đồng nợ xấu ấy sẽ do ai chi trả? Và quan trọng hơn hết, tại sao lại đề xuất một khoản tiền lớn đến như vậy để cứu các ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp lớn nhỏ trong nước cũng đang đứng trước những khó khăn nan giải, song những biện pháp hỗ trợ vẫn còn hạn chế nhỏ giọt?
Nguồn tài chính nghĩ đến trước tiên có lẽ là phát hành trái phiếu và huy động nội lực từ tư nhân nhưng giải pháp trên liệu có khả thi khi thực tế nguồn ngân sách nhà nước đã phải chi rất nhiều để duy trì, điều tiết nền kinh tế đang rất căng thẳng với lạm phát cũng như phục vụ cho đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển quốc gia. Hơn nữa, có ai dám mua trái phiếu của một công ty xử lý nợ trong tình hình hiện nay nếu không có sự bảo lãnh của Nhà nước.
Thế nhưng điều nghịch lý là hơn một thập niên gần đây toàn bộ hệ thống ngân hàng đều kinh doanh có lãi, năm sau lãi nhiều hơn năm trước, giá trị cổ phần, phiếu luôn tăng cao ngất ngưỡng nhưng lãi suất cho vay hiếm khi thấy “ân huệ” tự nguyện với các đối tác công ty xí nghiệp đã từng sống còn với mình, để hôm nay gặp “bão” trái gió trở trời “sổ mũi nhức đầu” lại được nhà nước tận tình “bốc thuốc”. Trong khi các công ty xí nghiệp phải chạy vạy xoay trở tự lực cánh sinh? Qui luật kinh doanh, chuyện thành công hay thất bại là thường tình, tư bản thế giới từ ngữ “phá sản” nó xuất hiện bình thường như “khai trương”.
Tại sao cứ phải tái cấu trúc các ngân hàng yếu kém?
Mới đây liên quan chuyện thời sự nóng hổi này: Trích bài phỏng vấn của báo Thanh Niên:
Phóng viên: Tại sao lại có chủ trương này (tái cấu trúc Ngân hàng yếu kém) và bao giờ thì các NH phải chấp nhận phá sản nếu hoạt động yếu kém, thưa ông?
Thống đốc Nguyễn Văn Bình: Do dân trí, tập quán ở VN chưa cao như ở một số nước. Rất nhiều người dân hiện nay đi gửi tiền nhưng cũng không để ý đó là NH tốt hay xấu. Có khi chỉ vì NH này ở ngay đầu ngõ nhà mình nên mang tiền đến gửi cho thuận tiện. Nên cách làm của chúng tôi là tái cấu trúc từ bên trong để NH lành mạnh lên. Nhưng đến một giai đoạn nào đó, khi nền kinh tế phát triển, mặt bằng pháp luật hoàn thiện hơn, dân trí cao hơn, tiềm lực của hệ thống tài chính mạnh hơn thì cũng phải sẵn sàng cho phá sản những NH yếu kém. (hết trích).
Ô! hô! Làng nước ơi! Nghe người quản lý tay hòm chìa khóa tài chính quốc gia nhân dân phát biểu cực kỳ “trí tuệ”. Cái nhiệm vụ chuyên nghiệp của ngài là “bác sĩ đa khoa tài chính” nhân dân giao phó, có trách nhiệm phải thường trực “bắt mạch, chẩn đoán, điều trị” các con bệnh ngân hàng, bảo đảm luôn luôn sức khỏe đầy đủ thì giờ chúng “nóng lạnh - ung thư” ngài lại đổ vạ cho dân “… Do dân trí, tập quán ở VN chưa cao như ở một số nước. Rất nhiều người dân hiện nay đi gửi tiền nhưng cũng không để ý đó là NH tốt hay xấu. Có khi chỉ vì NH này ở ngay đầu ngõ nhà mình nên mang tiền đến gửi cho thuận tiện...”. Cách nói như thế, ngay cả ngài còn chưa đoan chắc ngân hàng nào tốt xấu thì ngài bảo người dân phân biệt là phân biệt cái gì? Không có trách nhiệm quyền hạn mà nói nó “xấu” nó kiện ra tòa là vu cáo, phá hoại có mà bồi thường thiệt hại vô hình lẫn đi tù mọt gông! Té ra “… Do dân trí, tập quán ở VN chưa cao như ở một số nước...” nên ngài mới mạnh miệng dạy khôn cho đồng bào, những người trả lương hàng tháng thuê ngài ngồi đó “nghiên kíu” Cấu trúc giải cứu các ngân hàng sắp phá sản.
Dù trắng đen chưa ngã ngũ nhưng buộc lòng đồng bào nhân dân phải “nghiệm suy” những thông tin mà chính ngài Thống Đốc cũng chưa thấy lên tiếng phản biện hay đính chính, đại loại như sau …
Kết quả đợt tái cấu trúc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thống đốc Nguyễn Văn Bình
NH Phương Nam mất 20.000 tỷ và NH Bắc Á mất 5.000 tỷ. Song cả hai không những KHÔNG hề bị thanh tra mà lại được thống đốc Bình rót trực tiếp từ NHNN và thông qua Agribank cùng rót xuống…
Hai ngân hàng thối nát nhất, không những không mất thanh khoản mỗi ngân hàng 10.000 tỷ đồng. mà NH Phương Nam lại thâu tóm xong Samcobank trị giá 7 tỷ USD và NH Bắc Á thì tiếp tục rút tiền từ nhà nước để đầu tư cho dự án bò sữa của bà Thái Hương và xây dựng nhà thờ “Tổ cha Chủ Tịch Quốc Hội” Nguyễn Sinh Hùng!. Rõ ràng con bài “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” hiện nay chỉ để phục vụ nhóm lợi ích với những toan tính của chính cá nhân của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thống đốc Nguyễn văn Bình. (QuanLamBao).
“… thu xếp cho cô con gái rượu Nguyễn Thanh Phượng 10.000 tỷ để thâu tóm Ngân hàng Gia Định, Samcobank, Xi măng Châu Thới và Bia Sài gòn... và cũng chính là người chuyển 1.500 tỷ đồng cho thống đốc Nguyễn văn Bình để rót tiếp 5.000 tỷ cho NH Phương Nam qua BVID và nhanh tay ra quyết định cấp tăng trưởng tín dụng 15% cho NH Phương Nam...”
Tại sao lại là NH Phương Nam? - Sau khi “bầu Kiên” lâm nạn, phía sau góc khuất của “tái cấu trúc ngân hàng yếu kém” lộ nhiều “thâm cung bí sử” để chúng ta thấy, bằng quyền lực người ta có thể biến cái không thể thành có thể mà không khó lắm, với những quân bài dấu mặt...
Giới ngân hàng sừng sỏ ai cũng biết ngân hàng TMCP Phương Nam (SouthermBank) chỉ là một ngân hàng nhỏ xếp cuối trong hệ thống ngân hàng hiện nay có vốn điều lệ khiêm tốn 3.200 tỷ đồng, tổng tài sản khoản 70.000 tỷ, nhưng trong kinh doanh đã mất 20.000 tỷ, thanh khoản rất xấu, báo động cấp 4 có thể phá sản bất cứ lúc nào, tồi tệ tới mức NHNN đã phải bơm tiền “giải cứu” và đưa vào tình trạng giám sát đặc biệt, lại có thể thành công trong “chiến dịch” thôn tính một ngân hàng lớn hơn mình nhiều lần có trị giá tài sản hàng mấy tỷ USD nằm trong nhóm một “ngân hàng khỏe mạnh” niêm yết tại Sàn CKCP/TP. HCM!?.
Việc giải cứu, có thể, của nhà nước để tránh đổ vỡ tín dụng là điều cần thiết, trong quang minh chính trực, nhưng đằng sau nó là quyền lực ngầm cố tình lợi dụng “nước đang đục” để vỗ béo cho một hai thân cò “cật ruột” nhà mình.
Cuối năm 201, Southerm Bank (NH Phương Nam) đang ngất ngư thoi thóp thì được NHNN dưới danh nghĩa “tái cấu trúc” ưu ái rót 5.000 tỷ như liều thuốc hồi sinh giúp cho ngân hàng này sống lại thanh toán đúng hạn với khách hàng (số vay này có trong báo cáo tài chính 2011 của Southerm Bank).
Đầu năm 2012, NHNN lại tiếp tục rót cho Southern Bank 5.000 tỷ để trả nợ chính NHNN (khoản vay trong năm 2011) nhưng lại từ ngân hàng BIVD coi như việc giao dịch này là kinh doanh thông thường của hai ngân hàng Southerm Bank và BIVD tất nhiên trong sổ sách của Southern Bank không còn hiển thị số nợ NHNN mà chỉ nợ BIVD. Điều đó có nghĩa NHNN có thể rút toàn bộ giám sát ra và ung dung đẩy Southern Bank nhảy vọt từ nhóm 4 (nhóm đèn đỏ) lên nhóm 2 đủ chuẩn để được cấp tăng trưởng tín dụng thêm 15% được vay liên ngân hàng. Việc “giải cứu” Southern Bank một cách hoàn hảo như vậy là nhằm biến một con ốc sên thành loài bạch tuột vươn ra những chiếc xúc tu mạnh mẽ nuốt gọn Samcobank, một ngân hàng có tài sản 160.000 tỉ đồng, 10.000 nhân viên, 400 chi nhánh trong nước, Campuchia và Lào, 1 triệu khách hàng và có tới 80% bất động sản cơ sở là thuộc sở hữu riêng.
Rõ ràng vũng lầy đục ngầu “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” hiện nay giúp cho những “con cò nào” vỗ béo với hàng ngàn tỷ cướp đoạt, lại công khai tắm rửa nó một cách sạch sẽ hoàn hảo như thông tin nói trên từ (QuanLamBao) không thể không làm cho chúng ta phải xót xa suy ngẫm.
Còn năm ngoái khi mà trong chính phủ Hàn Quốc Ông ngoại trưởng Yu Myung-hwan quyết định từ chức, công khai gửi lời xin lỗi với nhân dân vì đã có chút ưu tiên tuyển dụng con gái ông cho một vị trí trong Bộ Ngoại giao Hàn Quốc, thì việc Nguyễn Thanh Phượng con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có những lời cáo buộc như trên không biết ông Thủ tướng nghĩ sao??
Hoàng Thanh Trúc

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Vài tấm hình lưu niệm về tài phịa của tintuchangngay.org và ttxva.org

TTHN nhét chữ vào miệng Trầm Bê:
Nguyên văn câu trên ở Vietstock:
"Tôi khẳng định là tôi chưa hề bị công an mời, bị hỏi thăm hay gì cả. Tất cả đều là tin thất thiệt."
Kami bịa đặt thông tin quan hệ VN - Campuchia, làm cái loa nối dài cho tên diệt chủng:
TTHN: Điều hành Quanlambao là ca sĩ Lưu Đức Hoa
Mr. Quách Đại Hung (Guo Da Xiong) người điều hành QLB
.....
Thông tấn xà Vàng Anh xạo sự sản xuất Thông bố Chánh phủ:
http://tranhung09.blogspot.com/2012/06/thong-tan-xa-vang-anh-xao-su-san-xuat.html TTXVA: Sau khi tôi lên thăm chùa phát hiện ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đây là vị la hán thứ 19 http://www.ttxva.org/ho-chi-minh-vi-la-han-thu-19-cua-chua-tay-phuong/
Đố bạn tìm thấy tấm hình này ở chùa Tây Phương?. ..... ________________
Đăng bỡi: Tranhung09:

Con chó chờ miếng ăn thừa!

Thành phồ về chiều ửng lên một chút nắng vàng đầu thu như dãi lụa vàng mềm mại trải lên những con đường còn sũng nước một ngày mưa! Góc phố nhỏ buồn hiu ở"trọ" một quán cà phê cùng một ông lão trông xe già nua thường trực ngày nắng hay mưa, ngồi im lặng nhẫn nại dưới tán dù. Thành thông lệ, cứ tầm sau bốn giờ chiều nhạt nắng, một xe cháo bình dân xuất hiện đúng như tiếng chuông nhà thờ điểm, chầm chậm đến đây đãi lòng những thực khách lao động nghèo với tô cháo vài miếng phèo nhạt, ít huyết heo, vài cọng giá, miếng hành xanh xanh hòa quyện chút ớt băm trong cái thứ nước cháo lòng lõng bõng ngập một nỗi buồn tha phương cùng với thân phận muôn kiếp đầy sợ hãi tin tức nội tạng thối thi thoảng rêu rao trên mặt báo, nay nằm phỉnh phờ trong bát cháo lòng? Bất chấp mọi thứ, người nghèo cần quái gì cái thứ thông tin quí tộc ấy? Cái chính là làm ấm lòng một chiều mưa cơ hàn sau ngày lao động mệt nhoài trong công xưởng, nắng gió và bụi công trường! Ngay cạnh chổ công ty có một ả chó đốm rất hiền. Ngày công ty dọn về đó, ả chỉ là một cô cún nhỏ nhắn, thân thiện với hàng xóm. Cô ả thuộc sở hữu của những người làm cửa sắt thuê kế bên văn phòng công ty. Nay cô ả vừa mới đẻ một đám nheo nhóc. Cái ăn của ả có lẽ cũng vất vả theo. Ngày trước khi thì con gái, trông nó béo tròn. Từ khi làm mẹ trông cô ả ốm đi thấy rõ. Thường thấy ả cứ lang thang khắp phố để cải thiện thêm chút dinh dưỡng về nuôi lũ con háo đói tròn trùng trục, chờ mẹ về thi nhau hùng hục húc vào bầu ngực teo tóp. Chiều nay xe cháo đến, như mọi khi con chó cứ theo bước chân người bán cháo. Hễ ông ấy mang tô cháu đến đâu là cô nàng theo đến đó, kiên nhẫn đợi thực khách xơi xong và để cái tô xuống vỉa hè. Ngay lập tức nó làm sạch những gì còn đọng lại. Cứ thế nó liên tục làm cái việc ít ỏi ấy trong im lặng và không cạnh tranh với bất cứ con chó nào trong cái xóm Cầu Kinh giàu có này, mấy khi ra đường lang thang kiếm sống như phận nó!? Hình ảnh con chó nằm phục kiên nhẫn chờ đợi đến phiên mình mà nao lòng cho phận nó trong cái xã hội đồn mạt đến đớn hèn của phận người. Con chó trong cái bản năng sinh tồn bất biến của nó, kiên nhẫn tìm kiếm xục xạo từng mảnh vụn thức ăn thừa để nuôi đàn con. Nếu may mắn có đủ thức ăn, thức ăn đó biến thành dòng sữa. Còn không, từng chút thịt còm, ít máu mũ,...của người mẹ sẽ biến thành dòng sữa bòn rút đi từng lúc, từng lúc tấm thân gầy! Con chó cái chờ đợi nhưng chẳng hề sợ hãi sau một ngày nhọc nhằn. Con người chúng ta cũng chờ đợi, chờ đợi từng ngày trôi qua trong sợ hãi và ngục tù. Chúng ta chờ đợi cuộc đời mình vào cõi chết mà vẫn chịu kiếp xiềng xích và nô lệ tư tưởng. Chúng ta cứ thế mãi chờ đợi kẻ thống trị trong một ngày đẹp trời nào đó rũ lòng từ bi ban cho chút ơn huệ của tự do, ơn huệ tự quyết đời mình. Tất cả lũ chúng ta cùng nhau chờ đợi ngoài cánh cửa thiên đường, nơi có những gã tai to mặt lớn phì nộn và nung nút thịt của đôi má phính, chờ đợi những đôi mắt ti hí lim dim sau làn kính lão. Mọi động thái của nghị quyết, nghị định nhấn nhá từng câu chữ, sửa đổi vài ba điều của thứ luật lệ nhà tù, tuồng như một ít cháo lòng rơi ra từ tô cháo chó ven đường và khi ấy lũ chúng ta hả hê, cười cợt thi nhau ngợi khen sự sáng suốt, lòng vị tha. Hạnh phúc lớn dần theo năm tháng của đợi chờ ấy là khi một gã nào đó ngấy tô cháo, vội đặt nó ở vỉa hè-ngạch cửa thiên đường. Cái lưỡi dài đói khác liếm sâu sau vạch cửa khiến ta mụ mị rằng đang trong tầm với của mỹ từ. Niềm "vui sống"nhỏ nhoi và ích kỷ ấy là khi con chó cái chưa làm mẹ. Sự cam tâm chờ đợi u hoài trong tuyệt vọng của chúng ta, để rồi ta nghe tiếng thở dài của người tù chờ đợi sau song sắt hàng năm trời vì nói lên tiếng lòng của tự do, xóa bỏ thù hận, sự ích kỷ tham lam như căn bệnh trầm kha thâm căn cố đế ngự chiếm trong những cái đầu tham vọng làm kẻ vĩ cuồng, vị cứu tinh, kẻ dẫn dắt, người truyền đạt bí tích bằng tư tưởng bởi cái kinh nghiệm chết chóc? Con chó người trong chúng ta chờ đợi gì trong xã hội lộng giả thành chân khốn kiếp ngập tràn mỹ từ ngu ngơ ấy? Chúng ta phải chăng chờ đợi lũ con cái lớn lên trong dối trá và tù ngục hằng thế hệ nối tiếp như một truyền thống sợ hãi tổ tông? Chúng ta chờ đợi để chấm dứt sợ hãi hay hành động chấm dứt sợ hãi? Còn tiếp tục chờ đợi trong sợ hãi là còn thấy: -Ai đó chờ đợi ơn mưa móc vì cam tâm làm kẻ trung thành bảo vệ chế độ và những tên chủ soái đốn mạt. -Ai đó chờ đợi vì vui được kiếm ăn và làm giàu bẩn thỉu trên xương máu đồng loại. -Các quan chức chờ đợi để thỏa mãn sự làm giàu và tận hưởng thú vui vật chất nhờ sự san sẻ quyền lực thống trị. -Lũ chúng ta-con chó cái và đàn con nheo nhóc chờ liếm tô cháo của lũ người cặn bã với tấm lòng vị tha của sa tăng! -Một chiều mưa sụt sùi tất cả cùng gác mõm chờ đợi điều tuyệt vọng của chút nắng vàng như con chó cái chờ chiều nay bên xe cháo lòng!

Chờ nhìn quê hương sáng chói

Người lính nào cũng khổ (*)

Thích Nhất Hạnh Nguyễn Ngọc Già chuyển ngữ
Lời nói đầu:

Từ ý kiến rất xúc động và thực tế của độc giả Bùi Văn Nịt:

Trong chiến tranh thì nhân dân hai miền dù thua, dù thắng đều có những người thoát chết ở chiến trường, nhưng đau thương trong hoà bình. Vậy mà những người lành lặn, khỏe mạnh vẫn chưa nguôi mối hiếm khích trong quá khứ, tuy rằng cứ hô hào hòa hợp. Người khỏe không làm được hòa hợp thì người què, người cụt, người đui què mẻ sứt sẽ tiên phong trong sự hòa hợp. Chúng tôi đề nghị nhà nước hay Mặt trận TQ hay một đoàn thể nào đó, hay chính nhân dân tổ chức cho những người lính hai phe trước đây một cuộc họp mặt thân mặt, không còn goị nhau là Việt cộng hay Ngụy mà là những thương phế binh Việt Nam với nhau. Sau này cứ đến dịp Tết nguyên đán thì lại tổ chức gặp nhau họp mặt một lần, rồi tổ chức đi thăm viếng nghiã trang của những người lính hai chiến tuyến trước kia, thăm đền chùa, để các vị sư cầu phúc cho tất cả, rồi đến các nhà thờ thăm hỏi, chuyện trò với các linh mục...

đã tạo cảm hứng cho tôi tiếp tục chuyển ngữ một phần tác phẩm "Anger" của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Phần dịch dưới đây, ngoài việc chuyển đến độc giả Bùi Văn Nịt như lời sẻ chia của cá nhân tôi, còn là lời cảm thông với những người lính Việt Nam, đặc biệt những Người Lính đã mất một phần thân thể, bất kể từ chiến tuyến nào.

Bài dịch cũng là lời đòi hỏi giới cầm quyền Việt Nam đã đến lúc phải thực hiện hòa giải hòa hợp dân tộc, bởi chưa bao giờ lòng người ly tán nghiêm trọng như bây giờ, trong đó rất nhiều người hả hê trước hiện tượng thất thế và có thể có những hậu quả cho ông Nguyễn Tấn Dũng trước "biến cố" từ vụ án bầu Kiên. Tôi không dám trách tâm trạng đó, bởi đó là tâm trạng có thể cảm thông trước sai phạm, tội ác ngày một nhiều và rõ hơn, của người CS nói chung và phe cánh Nguyễn Tấn Dũng nói riêng. Tuy thế, chính sự việc bầu Kiên, có phải đẩy Việt Nam đứng trước tình trạng chia rẽ mãnh liệt, trong khi đó người dân Việt Nam lại trở thành nạn nhân đầu tiên và gánh hậu quả nặng nề nhất?

Thỏa ước hòa bình

Chúng ta hãy nói với người mà chúng ta yêu thương: "Em (anh) yêu, trong quá khứ, chúng ta đã gây ra cho nhau quá nhiều đau khổ, bởi lẽ không ai trong chúng ta có khả năng xử lý nỗi giận dữ. Giờ đây, chúng ta phải cùng nhau tạo ra một nghệ thuật để xử lý nỗi giận dữ của chúng ta.

Thiện Tâm có thể loại bỏ sức nóng của nỗi giận dữ và cơn sốt của sự đau khổ. Sự mẫn tiệp có thể mang vui sướng và hòa bình ngay lúc này và ngay ở đây. Kế hoạch dành cho hòa bình và hòa giải của chúng ta cần dựa vào điều này.

Bất cứ khi nào năng lượng giận dữ xuất hiện, chúng ta thường muốn giải tỏa nó bằng cách trừng phạt người mà chúng ta cho rằng họ là cội nguồn mang lại đau khổ cho ta. Điều này được gọi là năng lượng theo thói quen trong ta. Khi chúng ta đau khổ, chúng ta luôn trách cứ người gây ra khổ đau cho chúng ta. Trước hết, chúng ta không nhận rõ, nỗi giận dữ là điều bình thường trong mỗi chúng ta. Chúng ta cần chịu trách nhiệm trước tiên, nhưng chúng ta lại rất thiệt thà để tin chắc khi đôi co hay trừng phạt người đó, chúng ta sẽ bớt đau khổ. Nên nhổ bỏ niềm tin kiểu này, nếu chúng ta không muốn nó mọc rễ trong tâm hồn mình. Bởi bất cứ điều gì chúng ta làm hay nói trong trạng thái giận dữ chỉ gây tổn thương thêm cho mối quan hệ. Vì vậy, chúng ta không nên cố gắng nói hay làm bất cứ việc gì khi mình đang nổi giận.

Khi bạn nói điều gì đó không tốt hoặc hành động như là sự trả đũa, lúc đó cơn giận của bạn tăng lên. Bạn làm người khác đau khổ thì người đó sẽ cố hết sức đáp trả y như vậy để tâm trạng họ cũng nhẹ nhàng như bạn muốn. Thế là mâu thuẫn tiếp tục leo thang càng cao. Vấn đề này đã xảy ra rất nhiều lần trong quá khứ. Cả bạn và người kia vốn quen thuộc với nổi giận dữ leo thang, nỗi đau khổ leo thang và các bạn không rút ra được bất cứ điều gì từ cái cách đó. Cố trừng phạt người khác nhất định làm tình trạng càng trở nên tồi tệ hơn.

Trừng phạt người khác nghĩa là trừng phạt chính mình. Điều này đúng trong mọi trường hợp. Quân đội Mỹ trừng phạt Iraq, không chỉ làm Iraq đau khổ mà còn làm cho Mỹ cũng đau khổ. Ngược lại, Iraq cố trừng phạt Mỹ, Mỹ đau khổ và Iraq cũng khổ đau không kém. Điều tương tự như thế xảy ra mọi nơi; giữa người Israel và người Palestin, giữa người Hồi giáo và người Hindu, giữa bạn và người khác. Nó luôn luôn như thế. Vì vậy chúng ta nên thức tỉnh; chúng ta nên nhận thức rõ, trừng phạt người khác không phải là sách lược sáng suốt. Cả bạn và người kia đều là người thông minh. Các bạn có thể sử dụng sự sáng suốt của mình. Các bạn nên cùng nhau thỏa thuận một sách lược giải quyết nỗi giận. Cả hai bạn đều biết rằng cố trừng phạt lẫn nhau thì chẳng khôn ngoan. Do đó hãy hứa với nhau rằng mỗi khi bạn giận dữ bạn sẽ không nói, không hành xử để giải tỏa nó.

Khi các bạn vui vẻ hãy ký một hợp đồng, thỏa ước hòa bình của các bạn, một thỏa ước của tình yêu chân thật, đó là bạn biết nắm bắt lợi thế những khoảng thời gian đó. Chỉ nên dựa vào nền tảng tình yêu chân thực để viết và ký kết thỏa ước hòa bình, không giống như thỏa ước hòa bình mà các đảng phái chính trị ký với nhau. Họ dựa trên tư lợi quốc gia để ký thỏa ước. Họ vẫn tràn đầy hồ nghi và giận dữ. Thỏa ước của các bạn hoàn toàn dựa trên tình yêu thuần khiết.

Vỗ về nỗi giận dữ

Đức Phật không bao giờ khuyên chúng ta che giấu nỗi giận dữ. Ngài khuyên chúng ta quay về với chính mình để xoa dịu nó. Khi một cái gì đó trục trặc xảy ra trong thể xác chúng ta, như ruột, dạ dày, gan, chúng ta phải dừng mọi việc và quan tâm sâu sắc đến vấn để đó. Chúng ta xoa bóp, dùng chai nước nóng lăn lên bụng, chúng ta làm mọi cách có thể để chăm sóc những bộ phận cơ thể này.

Giống như các bộ phận cơ thể chúng ta, nỗi giận dữ là một phần của mình. Khi chúng ta giận, chúng ta nên quay về với chính mình và chăm sóc cẩn thận nó. Chúng ta không thể nói: "Cút đi nỗi giận dữ, mày phải cút ngay. Tao không muốn thấy mày." Khi bạn đau bao tử, bạn không nói, "Tôi không thích bạn - bao tử ạ, xéo đi." Không, bạn chắc chắn chăm sóc nó. Cũng như vậy, chúng ta phải vỗ về và chăm sóc nổi giận dữ của mình. Chúng ta nhận ra nó hiện hữu, vỗ về nó và mỉm cười với nó. Năng lượng mà giúp chúng ta làm những điều này được gọi là sự sáng suốt, sự sáng suốt của di thiền (walking meditation), sự sáng suốt của việc hít thở.

Hạnh phúc không phải là chuyện cá nhân

Điều này có nghĩa là bạn không nên giấu nỗi giận dữ của mình. Bạn phải để cho người khác biết rằng bạn đang giận và đang đau khổ. Điều này rất quan trọng. Khi bạn nổi giận với ai đó, xin đừng giả vờ là bạn không giận dữ gì cả. Đừng giả vờ bạn chẳng đau khổ gì cả. Nếu đó là người yêu mến đối với bạn, thì bạn phải thú thật rằng bạn đang giận dữ và đau khổ. Nói với người đó theo cách bình tĩnh.

Trong tình yêu chân thật, không có chỗ cho kiêu hãnh. Bạn không thể giả vờ rằng bạn chẳng đau khổ cũng như chẳng có gì có thể làm bạn giận dữ cả. Đó là cách tránh né dựa trên sự kiêu hãnh. "Giận dữ ư? Tôi à? Tại sao tôi lại phải giận dữ? Tôi bình thường thôi." Thực tế, bạn không bình thường. Bạn mang tâm trạng như đang ở địa ngục. Nỗi giận dữ đang thiêu đốt bạn và bạn phải nói với vợ, con trai, con gái. Xu hướng chúng ta hay nói: "Tôi không cần em (anh, con, bạn v.v...) mới có hạnh phúc. Tôi có thể tự xoay xở lấy." Đó là sự phản bội với lời thề ước bạn đầu - hứa chia sẻ mọi điều.

Hồi ban đầu, các bạn đã nói với nhau: "Tôi không thể sống thiếu em (anh). Hạnh phúc của em (anh) phụ thuộc vào anh (em)." Bạn đã nói rõ ràng như thế. Tuy nhiên, khi bạn giận, bạn nói ngược lại "Tôi không cần anh (em)! Đừng đến gần tôi! Đừng động chạm vào tôi!" Bạn thích đi vào phòng riêng và khóa cửa lại. Bạn cố hết sức để chứng minh rằng, bạn chẳng cần người khác. Đây là điều rất con người, là xu hướng thông thường. Tuy thế đó không là cách sáng suốt. Hạnh phúc không phải là chuyện cá nhân. Nếu một trong hai bạn không hạnh phúc, người còn lại cũng không hạnh phúc.

Lời bình: Nguyễn Đức Kiên có hạnh phúc không? Nguyễn Tấn Dũng có hạnh phúc không? Phía đối nghịch với Nguyễn Tấn Dũng có hạnh phúc không? Người Việt Nam có hạnh phúc không?

Nguyễn Ngọc Già _________________

(*) Tựa đề cho người chuyển ngữ đặt.

Công an mật vụ theo dõi lễ cầu nguyện cho công lý và hoà bình đông cách bất thường

GieraT - VRNs (28.08.2012) – Sài Gòn – Trước khi thánh lễ bắt đầu, chúng tôi dạo một vòng quanh nhà thờ thì hơi ngạc nhiên vì lực lượng an ninh hôm nay nhiều hơn những tháng trước. Họ hiện diện cả ngoài sân lẫn trong nhà thờ và dường như là họ không còn e dè như trước đây, mà công khai hơn mạnh dạn hơn trong công việc của họ là chụp hình, quay phim, ghi âm công khai.
Lực lượng ấy ngồi trong nhà thờ ở những hàng ghế rất gần với cung thánh đặt biệt là đối diện với tòa giảng để tiện theo dõi chụp hình, quay phim mọi diễn tiến của buổi lễ lúc 20:00 pm, ngày Chúa nhật 26.08.2012 vừa qua tại DCCT Sài Gòn.
Suốt Thánh lễ những công an, an ninh, mật vụ giả giáo dân ấy có cả nữ, họ luôn xem tin nhắn, hoặc nghe điện thoại, sau mỗi lần như vậy là họ thay đổi tư thế hoặc nhìn quanh như tìm ai đó rồi họ chụp hình. Theo tin riêng, VRNs được biết, công an và mật vụ không chỉ theo dõi các Cha DCCT nói gì mà thôi, nhưng còn theo dõi những người đang trực tiếp dấn thân cho sự thật, cho Công lý & Hòa Bình, cùng với những than nhân của họ.
Một giáo dân, một nhà quay phim ngoại giáo đến nhà thờ không bao giờ vừa quay phim, vừa nói chuyện điện thoại trong lúc lễ. Chỉ có công an, mật vụ, những người cố tình phá tôn giáo làm như vậy. Với hành động này, công mật vụ đã công khai xâm phạm tôn giáo – Ảnh VRNs
Quý vị có thể chỉ ra ai là mật vụ trà trộn trong giáo dân?
Sau lễ, mật vụ tiếp tục ra sau nhà thờ canh.
Nhưng họ không sợ hãi, mặc dù biết rõ an ninh đã đe doạ, họ mặc những chiếc áo thun đen với lời kêu gọi “Tự do cho người yêu nước” và “Chúng ta tìm tự do cho Điếu Cày, Tạ Phong Tần, AnhbaSaigon”. Họ tham dự thánh lễ cầu nguyện cho Công Lý & Hòa Bình, cầu nguyện cho sự an nguy của Tổ quốc, cầu nguyện cho nhân quyền tại Việt Nam hôm nay.
Trong bài chia sẻ, cha Giuse Nguyễn Thể Hiện nói: “Chúng ta cần sự chữa lành. Đã mấy chục năm nay chúng ta chỉ là công dân hạng hai. Nếu không phải là đảng viên cộng sản chúng ta đừng mong tham gia vào những vị trí có quyền quyết định trong xã hội, còn những người công giáo là những công dân hạng ba…” (Nghe toàn bài giảng ở đây).
Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện nói thẳng những gì cần phải nói để xây dựng đức tin và con người kitô giáo.
Mọi người, già trẻ, nam nữ, Lương Giáo cùng thắp nến cầu nguyện cho quê hương Việt Nam. Bất chấp mật vụ tỏ vẻ và ra điều đe doạ.
Cộng đoàn cùng đoàn đồng tế dâng Hy tế Tạ ơn của Chúa Yêsu lên Thiên Chúa.
Sau thánh lễ chúng tôi gặp bạn Lê Thu Nguyệt, 25 tuổi, bạn này cho biết: “Em rất thích tham dự thánh lễ cầu nguyện cho Công Lý & Hòa Bình, vì khi tham dự như vậy em hiểu nhiều hơn biết nhiều hơn về thực trạng xã hội và đất nước của chúng ta, cũng như những người hy sinh và đấu tranh cho sự thật, cho Công Lý”.
Anh Nguyễn Trần Anh Tuấn ở quận 4 chia sẻ: “Tôi thật sự khâm phục và ngưỡng mộ DCCT cũng như các anh chị em đã và đang dấn thân cho công lý, cho sự thật và trong đó có nhiều bạn trẻ mà lẽ ra các bạn ấy tìm cách vui chơi, hay an phận trong cuộc sống, nhưng các bạn ấy đã bất chấp những nguy hiểm như bị theo dõi, bị khủng bố hoặc bị bắt tù. Tôi rất ngưỡng mộ những người đó, còn tôi thì không đủ can đảm tham gia vào công việc ấy mặc dù tôi rất muốn, tôi chỉ biết cầu nguyện thôi”.
Bà Đỗ Thị Thanh Ngoan, 72 tuổi ở quận 3 thì chia sẻ: “Bài giảng của cha hôm nay tôi rất thích vì nó rất thực tế trong cuộc sống của mỗi người nhất là những người trẻ, như con cháu của tôi nó đâu có biết là cộng sản nó tàn ác thế nào đâu, nó không nhận thấy, vì nó sinh ra và lớn lên trong chế độ cộng sản, còn tôi tôi biết hết nhưng không dám nói vì sợ tụi nó làm liều lắm có gì mà nó không làm đâu. Tôi sống qua hai chế độ nên biết rõ. Tôi thường đi lễ này mỗi tháng, tôi thấy các cha cũng như những người đang đấu tranh nói lên bất công và tàn ác của cộng sản, tại sao họ dám làm được những việc ấy ? Tôi nghĩ chắc họ có Chúa soi sáng dẫn dắt họ nên họ can đảm”.
Để có Sự thật, Công lý & Hòa Bình chúng ta không chỉ biết nhìn, nhận xét mà phải cầu nguyện, phải lên tiếng cùng nắm tay nhau dấn thân đi trên con đường mà mình đã chọn và đang đi. Bất kể bạn là ai, tôn giáo nào đi nữa, khi đã dấn thân cho Sự Thật, cho Công Lý & Hòa Bình thì chúng ta là bạn và anh em của nhau.
GieraT, VRNs

Mỹ đang thiết lập một NATO phiên bản châu Á

SGTT.VN - Mỹ lên kế hoạch mở rộng hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á. Khi hệ thống này hoàn tất, Mỹ sẽ thiết lập được một vòng cung án ngữ toàn bộ phía Đông và Đông Nam Trung Quốc và có thể giám sát chính xác bất kỳ một tên lửa đạn đạo nào được bắn từ Trung Quốc ra Thái Bình Dương.

Hệ thống radar X-Band1 của Mỹ được lắp đặt tại khu vực Okinawa của Nhật Bản. Ảnh: TL

Mỹ mới đây tuyên bố đang lên kế hoạch mở rộng quy mô lớn hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á. Theo đó, Mỹ sẽ bố trí một radar mới ở Nhật Bản và có thể một ở Đông Nam Á liên kết với các tàu phòng thủ tên lửa và hệ thống đánh chặn trên đất liền. Hiện Mỹ dự tính điều động radar phòng thủ tên lửa X-Band đến một hòn đảo chưa rõ tên ở miền Nam nước Nhật. Giới chức quốc phòng Mỹ cho biết radar này có thể được lắp đặt chỉ trong vòng vài tháng sau khi Nhật Bản chính thức đồng ý. Trước đó năm 2006, Mỹ đã lắp hệ thống X-Band tương tự ở tỉnh Aomori, miền Bắc Nhật Bản. Cũng theo báo này, Mỹ đang tìm kiếm một địa điểm ở Đông Nam Á cho radar X-Band thứ ba để tạo vòng cung theo dõi tên lửa đạn đạo phóng đi từ Bắc Triều Tiên cũng như từ Trung Quốc.

Đây là một phần trong hệ thống phòng thủ, bao phủ một vùng rộng lớn ở châu Á, với việc đặt thêm trạm radar ở phía Nam Nhật Bản và có thể ở Đông Nam Á, giúp phát hiện và bắn chặn kịp thời tên lửa của đối phương được phóng đi từ đất liền hoặc từ tàu chiến. Kế hoạch này nằm trong chiến lược phòng thủ mới do chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama đề ra theo đó tập trung chú ý tới châu Á - Thái Bình Dương, khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế Mỹ. Một khi công tác bố trí hoàn tất, Mỹ sẽ thiết lập được một vòng cung án ngữ toàn bộ phía Đông và Đông Nam Trung Quốc và có thể giám sát chính xác bất kỳ một quả tên lửa đạn đạo nào được bắn từ Trung Quốc ra Thái Bình Dương. Như vậy, Trung Quốc cũng sẽ không còn điểm đột phá nào để có thể đưa ra sự đe dọa đối với Mỹ.

Hồi tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho biết nước này đang có kế hoạch điều chuyển phần lớn các chiến hạm của mình tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2020. Theo ông Panetta, tới năm 2020, khoảng 60% số tàu chiến của Mỹ sẽ được triển khai ở đây.

Nhằm vào ai?

Việc mở rộng hệ thống phòng thủ diễn ra trong bối cảnh Mỹ cùng các đồng minh trong khu vực lo ngại về nguy cơ Bắc Triều Tiên phóng tên lửa tầm xa mang đầu đạn hạt nhân cũng như thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc trong các tranh chấp về chủ quyền biển đảo, như tại Biển Đông.

Mặc dù chính phủ Mỹ nói rằng việc bố trí tại châu Á hệ thống phòng thủ tên lửa là nhằm đối phó với nguy cơ tên lửa của Bắc Triều Tiên, song rõ ràng cách nói này chỉ là sự bao biện nhằm che đậy mục đích chính. Nếu so sánh quân lực giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên, Mỹ sử dụng hệ thống phòng thủ tên lửa để đối phó Bình Nhưỡng chẳng khác gì “lấy đại bác để đánh ruồi muỗi”, cơ bản là không cần thiết. Cũng giống như việc Mỹ bố trí tại châu Âu hệ thống phòng thủ tên lửa, bề ngoài Mỹ nói là nhằm đối phó với nguy cơ tên lửa của Iran, song trên thực tế là để đối phó với Nga, hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ tại châu Á cũng là nhằm vào một đối tượng chính, đó là Trung Quốc.

Shielders, chuyên gia nghiên cứu về phòng thủ tên lửa của Quốc hội Mỹ cũng công khai nói rằng, trọng điểm trong ngôn từ Mỹ đưa ra là nhằm vào Bắc Triều Tiên, song thực tế là xuất phát từ “con voi lớn” mà Mỹ cần phải đề phòng về lâu dài, “con voi lớn” này rõ ràng là chỉ Trung Quốc.

Hệ thống phòng thủ tên lửa không giống như các loại vũ khí thông thường, một khi được bố trí hoàn tất tại các nước khác nhau, nó sẽ liên kết các nước này lại, hình thành một khối đồng minh quân sự hữu cơ. Trước đây, Mỹ bao vây Trung Quốc chủ yếu là thông qua việc kết đồng minh với từng nước xung quanh Trung Quốc, song giữa các đồng minh này không hề có sự liên hệ về quân sự, Trung Quốc do đó có rất nhiều điểm đột phá có thể lợi dụng. Nay Mỹ bố trí tại châu Á hệ thống phòng thủ tên lửa, mục đích chính là nhằm liên kết Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước Đông Nam Á lại với nhau, từ đó hình thành một mạng lưới quân sự gắn kết, khiến cho Trung Quốc không còn lối nào để đi.

Các biện pháp khác

Ngoài việc bố trí tại châu Á hệ thống phòng thủ tên lửa, Mỹ còn áp dụng một số biện pháp khác với các nước đồng minh của mình nhằm thúc đẩy nhất thể hóa quân sự. Mới đây, Nhật Bản đã cùng Mỹ đạt được thỏa thuận, theo đó từ năm tới Nhật Bản sẽ cử quan chức của lực lượng phòng vệ nước này tới thường trú tại Bộ Quốc phòng Mỹ, đây sẽ là quan chức quân sự đầu tiên của Nhật Bản được cử đi thường trú tại cơ quan quốc phòng của Mỹ. Điều này có ý nghĩa rằng quân sự Mỹ-Nhật đã được nhất thể hóa, vào những khi cần thiết, Mỹ có thể điều động quân đội của Nhật Bản, đồng thời làm cho nội hàm đồng minh quân sự Mỹ-Nhật được nâng lên tầm cao mới.

Ngoài ra, theo phía quân đội Mỹ tiết lộ, một vị Thiếu tướng của Australia sẽ trở thành Phó Tư lênh Lục quân Thái Bình Dương của Mỹ. Việc một người Australia đảm nhận một chức vụ cao như vậy trong quân đội Mỹ, nhìn bề ngoài dường như có cái gì đó không bình thường, song nếu suy xét vấn đề một cách sâu xa, có thể thấy rằng đây là việc làm tiêu chí cho sự nâng cấp của đồng minh quân sự Mỹ-Australia.

Theo báo chí Trung Quốc ý đồ bao vây Trung Quốc của Mỹ đã bộc lộ rõ, mục tiêu của nó là muốn thành lập một NATO phiên bản châu Á. Thông qua hàng loạt biện pháp như bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Á, cái gọi là khối NATO phiên bản châu Á này đã hình thành trên thực tế, chẳng qua chỉ là “hữu thực vô danh”. Một khi thai nghén chín muồi, quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn, Mỹ-Nhật, Mỹ-Australia cùng các nước Đông Nam Á sẽ được hợp lại với nhau dưới sự lãnh đạo của Mỹ, hình thành một tổ chức quân sự mới chuyên nhằm đối phó Trung Quốc. Đến lúc đó, việc tổ chức này được gọi là gì không còn là điều quan trọng.

Chính sách châu Á của Mỹ có nhiều thay đổi

Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales cho rằng chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã có nhiều thay đổi kể từ khi Tổng thống Barack Obama lên nắm quyền năm 2009, bằng chứng là Mỹ đã thắt chặt quan hệ với nhiều nước Đông Nam Á, đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao, tăng cường hiện diện cả về quân sự lẫn kinh tế tại khu vực này...

Theo Giáo sư Carl Thayer, Tổng thống Obama đã dùng cách tiếp cận đa phương để lật lại thế cờ với Trung Quốc ở khu vực này. Trong khi chính sách của cựu Tổng thống George W. Bush đối với châu Á-Thái Bình Dương là coi trọng các mối quan hệ song phương, giảm tầm quan trọng của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các định chế đa phương, thì từ khi bắt đầu nhiệm kỳ, Tổng thống Obama đã xem xét mọi điểm yếu của chính sách đó để lật ngược chúng.

Gần đây, để đối phó với thái độ hung hăng hơn của Trung Quốc, Tổng thống Obama đã áp dụng cách tiếp cận đa phương. Đó là lý do khiến Mỹ đến dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, bổ nhiệm đại sứ tại ASEAN, đích thân Tổng thống Obama, Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến dự các hội nghị thượng đỉnh của ASEAN. Những động thái đó cho thấy Mỹ quyết tâm chứng tỏ các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến lược của Mỹ nằm tại khu vực này, và Washington quyết tâm hậu thuẫn các chính sách của mình bằng hành động. Đây chính là chính sách chuyển trọng tâm sang châu Á của chính quyền Tổng thống Obama.

Tuy nhiên, có một câu hỏi được đặt ra là liệu chính sách này có thay đổi nếu cử tri Mỹ dồn phiếu cho liên danh Romney-Ryan của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới hay không? Theo nhận định của Giáo sư Thayer, nếu ứng cử viên Mitt Romney của đảng Cộng hòa đắc cử tổng thống, chính sách của Mỹ đối với châu Á sẽ thay đổi theo chiều hướng tiêu cực vì ông Romney có vẻ không chú trọng tới châu Á như ông Obama. Giáo sư Thayer cho rằng khi đó, Mỹ sẽ vắng mặt nhiều hơn trong các sự kiện ở châu Á-Thái Bình Dương, và đây sẽ là một bước thụt lùi trong những thành quả mà Mỹ đã đạt được dưới thời Tổng thống Obama.

Giáo sư Thayer cho biết từ khi đắc cử Tổng thống Mỹ năm 2009, và ngay cả trước khi làm lễ tuyên thệ nhậm chức, ông Obama đã liên lạc với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Hai nhà lãnh đạo đã nhanh chóng gặp gỡ và đạt được một số thỏa thuận. Giáo sư Thayer hy vọng nếu ông Romney trúng cử tổng thống vào tháng 11 tới, cố vấn của ông sẽ khuyên ông chọn cách hành xử tích cực trước để xem xét tình hình, thay vì chọn thái độ thù nghịch với Trung Quốc ngay từ đầu.

theo toquoc.vn