Thứ Năm, 10 tháng 9, 2009

Khoái thông tấn xã vỉa hè



Cách đây mấy năm nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Kim Đáng tự dưng khoe với tôi: “mình có chữ kí của Azit Nêxin”. Miệng nói tay lục túi, ông phập phồng mở cuốn sổ cho tôi nhìn ghé chừng mươi giây rồi từ từ gập lại như sợ tôi sờ vào thì cuốn sổ sẽ mòn đi í! Sau đấy ông nhìn xéo tôi : “Vất vả lắm tớ mới có được chữ kí của Nêxin vì phải dựa vào cái máy ảnh để tiếp cận. Phóng viên mà”.
   .
  Tôi chưa kịp ganh tị với nhà nhiếp ảnh về vận may được diện kiến Nêxin thì bất chợt Nêxin xuất hiện ngay trước mặt tôi như thần đèn, thật hơn cả chữ kí của ông í ở cuốn sổ. Nêxin xoa xoa bộ ria xén gọn mỉm cười với tôi: “ Cậu em ạ, ông Đáng nói thế cho ra vẻ quan trọng thôi chứ thực ra tôi luôn ở cạnh các bạn. Lúc nào chẳng ở cạnh các bạn như những câu chuyện xung quanh các bạn ấy. Nói rồi ông kéo tay tôi đi, bỏ lại nhà nhiếp ảnh ngơ ngác với cuốn sổ có chữ kí trang trọng của ông.

   Vì chuyện chữ kí tặng phóng viên, nên câu chuyện đầu tiên của Nêxin với tôi là câu chuyện về báo chí ở Việt Nam. Khởi đầu ông đề cập đến cái khoái nhất là loại báo xuất bản bằng mồm, âm thanh in vào không gian truyền đi bằng gió. Đó chính là Hãng thông tấn vỉa hè. Thế giới này không có quốc gia nào lại có hãng thông tấn nhanh nhậy bậy hay tuyệt vời đến như vậy. Hãng thông tấn vỉa hè trụ sở chính là quán nước. Mỗi quán là một trụ sở.Thông tấn xã vỉa hè  bàn từ chuyện chính trị nhảy sang kinh tế, xỉa vào văn hóa, đá vào y tế, nói đế vào giao thông chổng mông vào giáo dục...chẳng chừa ai từ cao xuống thấp, từ người đến vật, từ chuyện ma quỉ đến thần tiên, từ chém giết đến lừa đảo. Chuyện càng hot, càng xuất bản nhiều và các hãng ở bên cạnh sẵn sàng sao in lại ngay. Các chuyện chính trường ai lên ai xuống, vị nào giàu có, có bao nhiêu tiền bao nhiêu đất, bao nhiêu con, du học nước nào bằng tiền của ai. Rồi chuyện ai dốt ai khôn từ trời Âu đến đất Việt đều có tuốt, biết tuốt. Nói chung tin tức của họ nhiều như những tấm bằng cử nhân tiến sĩ giả. Thông tấn xã vỉa hè không có tổng biên tập, Phóng viên không cần nghiệp vụ, không cần học hành bằng cấp, có cũng được và không cũng chẳng sao. Có thể là bà chủ quán, một bác xích lô, một gái ăn sương, một ông đầu hói trịnh trọng, Là ai cũng đều có thể. Ngôn ngữ thì từ nghiêm cẩn đến ba láp, không cần chính xác và không bao giờ biên tập vì cũng không cần biên tập. Không phóng viên nào có lương vì không có nơi phát lương, mà họ cũng không cần lương. Họ  làm việc vô tư miễn phí như các tổ chức từ thiện không biên giới nhưng tin không mấy khi từ thiện vì tin rất ...tức. Họ không cần đài phát với các phương tiện tối tân, nên không sợ mất điện. Càng mất điện càng phát hăng vì đài phát chính là ...mồm các vị, phạm vi phát sóng chỉ trong hai ba mét. Nhuận bút cao nhất chỉ là những tràng cười tán thưởng. Không phải Taas nhưng luôn được phép tuyên bố, không phải BBC nhưng cái gì cũng biết. Mỗi phóng viên vỉa hè  đều có thể là một công dân vô trách nhiệm vô hạn. Nếu các tổ chức nhân quyền và tổ chức phóng viên không biên giới sang Việt Nam, chỉ vào trụ sở thông tấn vỉa hè, nghĩa là quán nước ấy, một lần thôi thì các thông báo thường niên nói xấu chính quyền Việt Nam chắc chắn phải viết lại ba trăm sáu mươi độ yahoo! Vâng, chắc chắn là như thế. Còn tự do thông tin của hãng này  chắc chắn là mẫu mực cho tất cả các nước trên thế giới kể cả nước Mĩ tự do nhất cũng phải học theo thôi.
  Ông kết luận một lần nữa: Khoái thông tấn xã vỉa hè!

Chuyện liên quan đến Nexin

Chuyện thứ 5:
Nêxin phát hiện
Chia tay Nexin tại khách sạn trước khi ông ấy ra sân bay, tôi vừa vui vừa buồn
Vui là vì tôi có dịp diện kiến ông, con người nổi tiếng đã dành cả cuộc đời tâm huyết cho các câu chuyện châm biếm xã hội. Tên tuổi ông lừng danh thế giới, vậy mà ngồi nhâm nhi cà phê với tôi ông thật hiền hậu như ông anh trong nhà.
Buồn là ông đã cố gắng lần mò từ Istambun xa xôi sang đây với kì vọng tìm việc làm đã không thành dù tôi đã giúp đỡ ông với mức cao nhất. Tuổi cao sức yếu, thời củi quế gạo châu biết ông sẽ sống thế nào.
Đang lúc bâng khuâng thì nghe có tiếng gõ cửa mạnh. Tôi bật khỏi ghế, tự hỏi: ai lại đến vào giờ này nhỉ.
Tôi mở cửa. Thật quá bất ngờ: Azit Nexin!
Azít Nexin tay xách catap đang đứng sững. Thấy tôi, một tay ông khoát nhẹ, bàn tay xòe ra như muốn nói: “ thế đấy anh bạn, tôi lại có mặt!”.
Giây phút bất ngờ qua, tôi mời Nexin vào phòng khách
Thói quen của người Việt chúng ta mỗi khi có khách thường là tay với phích nước sôi, tay kia vơ vội cái xuyến pha trà. Tôi cũng vậy, loay hoay với bộ ấm chén, rồi chuyệch choạc những câu chẳng ra đâu vào đâu vì chưa nghĩ ra được gì để bắt đầu.
Thì ông bắt đầu trước
-Đây, vì cái này mà tôi bỏ chuyến bay, dù đang rất muốn nhanh nhanh về nhà.
Ông mở catap, lặng lẽ đặt tệp giấy lên bàn, nói luôn:
-Tôi lui lại vì bất ngờ có được hai bản thảo này. Đây là hai truyện biếm cực hay. Tôi cho rằng tất cả các tác phẩm hay tạo nên tên tuổi tôi đều bị mờ nhạt trước nó.
Thật tình tôi chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra. Liếc nhìn tập giấy được gói ghém cẩn thận, tôi định xin phép ông được mở ra xem là cái gì, thì ông đã miệng nói tay chỉ: “Cầm lấy xem đi, tôi đang cần hỏi anh đây mà”. Vừa mở bung tập giấy tôi sững người “Ôi cha mẹ ơi, truyện triếc gì, đó là hai văn bản hành chính”. Tôi chưa kịp nói thì cũng là lúc ông nhổm khỏi ghế hỏi gấp: “truyện gì thế hả, sao lại mở đầu bằng : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa...
Hình như bức bối trong người quá lớn, ông xả ra một tràng tiếng Thổ chẳng biết là nói gì. Nhưng tôi biết ngay là ông đang có sự nhầm lẫn. Lại cũng chẳng để tôi mở miệng, mặt ông tiếp tục lộ vẻ kinh ngạc: “ Nước anh thực là có những tài năng xuất chúng nên đã có những tác giả viết hài lỗi lạc đến như thế này. Nói thật, siêu hài đấy. Trước đây tôi cứ đinh ninh mình là số một! Cứ tưởng là số một. Nào ngờ khi gặp hai bản thảo này thì thấy cả đời dốc sức bay bổng với trí tưởng tượng phong phú của mình tôi vẫn chưa cất cánh khỏi mặt đất.
Đến đây thì tôi thật sự ngỡ ngàng, chẳng biết ông đang kể chuyện châm biếm hay là ông tin hai văn bản kia là hai truyện châm biếm thật.
Cũng không biết ông moi được ở đâu ra. Đó chính là văn bản của Bộ y tế về chuẩn ngực... chị em để cấp bằng lái xe máy và Bộ chuẩn cho trẻ 5 tuổi được đề nghị ghi vào hồ sơ theo dõi của Bộ giáo dục nước mình!.
Ôi! Đúng là không thể tin được!
nguồn:http://dongngandoduc.multiply.com

Người Vô Sự


"Trong Lâm Tế Lục, Tổ có nói rằng mục đích của Tổ là đánh phá, trị bệnh và cởi trói. Như vậy thì mục đích của Tổ không phải là đưa ra những tư tưởng uyên áo để chúng ta học hỏi, đàm luận và mắc kẹt vào đấy. Vì vậy nếu ta học Lâm Tế Lục với mục đích tìm cầu những tư tưởng uyên áo để đàm luận và để mắc kẹt vào chúng là ta đã đi ngược với ý của Tổ. Những giáo lý và những phương tiện thi thiết của người xưa (người xưa ở đây là Bụt và Tổ) sẽ trở thành những cái bẫy sập giam hãm ta, vì vậy ta hãy cẩn thận, hãy nhớ tất cả những thi thiết ấy, dù là tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng hay Tịnh Độ..., trước hết đều là những giả danh (Tổ gọi là danh từ suông, văn cú, chữ nghĩa). Nếu ta mắc kẹt vào những thi thiết ấy, cho chúng là những thực tại khách quan có mặt ngoài ta, là ta đã bị sa vào bẫy sập.

Ta không nên đi tìm cầu Bụt, Tổ, Bồ Tát, tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng, lầu các của Di Lặc ngoài ta. Ta phải chấm dứt mọi tìm cầu. Phải ngưng sự tìm cầu ngay và hãy trở về bản thân trong giây phút hiện tại. Bản thân trong giây phút hiện tại chứa đựng tất cả những gì ta muốn tìm cầu: pháp thân, bát nhã, giải thoát, Bụt, Tổ và các cõi nước trang nghiêm. Bản thân ở đây không hẳn là năm uẩn, vì năm uẩn vô thường có đó không đó. Nhưng bản thân cũng không phải là một cái gì có thể nhận thức ngoài năm uẩn, bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta. Con người thật ấy là chân tâm sáng chói có diệu dụng nhận diện và tiếp xúc với mọi mầu nhiệm của sự sống: Tổ gọi đó là cái tinh minh sáng rỡ biểu hiện thành sáu đạo thần quang: khả năng thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy. Năm uẩn là vô thường nhưng bản tâm biểu hiện nhờ năm uẩn là con người thật của ta thì không sinh, không diệt, không có, không không, vượt thoát mọi khái niệm. Đó là con người thật không có vị trí (nghĩa là không thể được đồng nhất với một uẩn trong năm uẩn hoặc cả năm uẩn). Con người thật đó là Bụt. Bụt không phải là một thực thể có ngoài con người thật đó. Bụt và chúng sinh không phải là hai thực thể riêng biệt (Phật sinh vô nhị). Nếu không thấy được điều này, nếu không có đức tin vững chãi nơi sự thật này, thì không bao giờ chấm dứt được sự tìm cầu, phóng thể, vẫn không dừng lại được để làm một con người vô sự, vẫn còn có khuynh hướng chán phàm yêu thánh, vẫn chưa có được hạnh phúc và an vui thật sự.

Người nào có khả năng vận dụng được cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang kia thì có thể ngay tại đây trong giờ phút này tiếp xúc được với thế giới hoa tạng, với tam thân, với hằng sa Bụt và Bồ tát, có thể ứng thân hiện vật, độ đời, giúp người, và thấy rằng tất cả những cảnh giới này cũng đều là những hình ảnh phản chiếu (quang ảnh) của cái tâm sáng chói và mầu nhiệm kia.
Mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt nguyên thỉ là vị La hán, mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt đại thừa là vị Bồ tát, còn mẫu người lý tưởng trong thiền Lâm Tế là con người vô sự. Con người vô sự là con người không chạy theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Bụt, là Tổ, là Niết bàn, là tam thân, là Tịnh Độ. Con người vô sự là con người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh, cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Bụt và các Phật độ.

Bụt không phải là đối tượng tìm cầu của ta, đừng lấy Bụt làm mục tiêu lý tưởng của mình, đừng cho Bụt là một thực thể tồn tại ngoài ta. Hình ảnh của ta xây dựng trong đầu về Bụt không phải là Bụt. Bụt ấy có sinh, có trú, có hoại, có diệt, Bụt ấy không đáng là hình ảnh lý tưởng mà ta chạy theo. Bụt ấy là một bóng Ma, gọi là Ma Bụt, có thể hớp hồn ta, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền, gặp Ma Tổ cũng vậy, ta cũng phải chém đầu. Ta phải chém đầu tất cả các loài Ma, bởi vì tất cả những tạo dựng của trí óc, tất cả những thi thiết của cổ nhân chỉ có giá trị của thuốc hay trị bệnh, nếu ta xem những cái đó là những thực tại có thật biệt lập ngoài ta, không phải là những phương tiện chữa trị các căn bệnh si mê, tham ái, sân hận và tìm cầu của ta thì chúng trở thành chướng ngại, trở thành bẫy sập, vì vậy ta phải chặt đầu chúng mỗi khi chúng xuất hiện.

Con người thật, con người vô sự không bao giờ bị cảnh vật lôi kéo, vì vậy luôn luôn giữ được tự do. Cảnh giới Ma không lôi kéo ta được đã đành, cảnh giới Bụt cũng không lôi kéo ta được. Tại vì ta đã thấy rằng Ma và Bụt tương tức, Ma và Bụt bất nhị, đó là bệnh và thuốc có mặt một lần để trị nhau, để nương nhau. Con người vô sự vì thế thấy Ma cũng mỉm cười và thấy Bụt cũng mỉm cười. Con người vô sự có thể đánh dẹp được cả Ma và cả Bụt.

Tổ khuyên mọi người đừng ỷ lại vào kẻ khác, dù họ tự gọi là Bụt, là Tổ, là đại thiền sư, là thánh tăng, đừng đi tìm kiến giải nơi từ chương, nơi kinh điển, nơi văn cú, đừng kẹt vào các danh từ, đừng hy vọng tìm giải thoát và trí tuệ nơi sự học hỏi và nghiên tầm kinh điển. Tìm giải thoát và giác ngộ nơi sự nghiên tầm kinh điển cũng như hy vọng tìm được những giọt nước mát trong một bộ xương khô. Giáo điển chỉ là những bộ xương khô. Phải trở về giây phút hiện tại, vận dụng cái tâm sáng chói đang có mặt ngay tại đây thì mới có thể tiếp xúc được với giải thoát và giác ngộ, tiếp xúc được với Bụt và Tổ đang là những thực thể sống động nơi giây phút này.

Người tu đạo không cần phải dụng công mệt nhọc. Đừng đày đọa thân thể và tâm trí bằng cách chạy đi tìm cầu. Trong tinh thần vô đắc ta phải thấy rằng ta đã là cái ta đang tìm cầu rồi, cũng như đợt sóng tự biết mình là nước, có thể ngưng ngay lại sự bôn ba đi tìm nước. Phương pháp thực tập là dừng lại, bởi vì giây phút hiện tại nào cũng là giây phút trở về ngôi nhà đích thực của chính ta, từ bước chân, hơi thở cho đến hành động ăn cơm, mặc áo, uống nước, đi cầu. Không cần đi đâu hết, không cần làm gì nữa. Cái mà ta đi tìm đã có sẵn ngay ở đây. Vì vậy ta có thể thực sự là một người vô sự. Nếu ta tiếp tục đày đọa thân tâm vì sự thực tập, vì sự tìm cầu, vì sự nghiên cứu, vì sự dụng công khổ nhọc của ta thì ta đi ngược với con người của Tổ và của Bụt, và ta cách xa với Tổ và Bụt như trời xa cách đất.

Con người vô sự là con người tự do, ở đâu cũng làm chủ được mình. Nếu ta có được cái thấy chân thật (kiến giải chân chính) thì ta không còn bị kẹt vào những tướng sinh, trú, dị, diệt của vạn pháp, kể cả những tướng sinh, trú, dị, diệt của Bụt Thích Ca, và vì vậy ta cũng không bị kẹt vào hóa thân Bụt. Dù sự vật quanh ta và chính bản thân năm uẩn của ta có đang đi ngang qua những tướng sinh, trú, dị, diệt ấy thì ta cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn vui hay thương ghét. Ta không bị cảnh đoạt. Ta luôn luôn đứng vào vị trí chủ động, đứng vững trong chánh kiến của mình và không trở nên nạn nhân của hoàn cảnh, của kẻ khác, không than phiền rằng hoàn cảnh như thế đó, người ta như thế đó cho nên tôi đã phải như thế này. Ta chuyển được hoàn cảnh mà hoàn cảnh không thể chuyển được ta. Ta luôn luôn là con người thật của mình trong bốn động tác đi, đứng, nằm, ngồi. Ta không cần phải đóng kịch, dù là đóng vai giải thoát, đóng vai giác ngộ, đóng vai đại thiền sư. Cái này gọi là ‘tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân’. Con người thật có nghĩa như thế.

Vì ta có khả năng sống với con người thật của ta cho nên ta không cần phải làm dáng làm điệu. Ta đâu có cần phải chứng tỏ mình là giải thoát, là giác ngộ. Ta có thể sống một cuộc sống bình thường, ta chỉ cần làm một con người bình thường. Con người bình thường này là con người vô sự, có giá trị cao hơn cả những vị Bồ tát tự xưng là đang đi trên con đường viên đốn, đang đi ngang qua mười địa, đang đi vào Tịnh Độ, tại vì các vị này vẫn còn mang theo tâm niệm yêu thánh, ghét phàm, vẫn còn cái nhìn nhị nguyên, vẫn còn đi tìm cầu, chưa dừng lại được. Con người vô sự mới đích thực là con người đáng được chư thiên ca tụng, được địa thần nâng gót, được chư Bụt muôn phương xưng tán. Tại vì con người vô sự là con người hoàn toàn".

Theo nguoivosu.com

Thư Gửi anh Giuđa

LỜI TÂM SỰ


Anh Giuđa kính mến !
Vì anh đã dính líu vào vụ án Đức Kitô, một vụ án nhân loại không thể phủ nhận được mà người ta chỉ cố tình quên đi thôi. Vì thế, cho đến hôm nay, câu chuyện của anh vẫn là những đề tài sôi động được nêu lên để nhắc nhở con người. Vậy xin anh cứ bình tĩnh để lắng nghe con người, họ luôn ì xèo về anh.
* Người ta hay gọi anh Giuđa là “thằng Giuđa” hoặc là “hắn” hoặc là “Giuđa, tên phản bội”... Vì người ta thương Chúa chịu đớn đau xỉ nhục quá sức lẽ mình nên người ta xỉ vả anh không tiếc lời, và ra như vì anh bán Chúa mà Chúa phải chịu tử hình cùng với những tên trộm cướp gian tà. Rồi đa số người ta đã hiểu lầm câu : “Khốn cho người nào nộp Con Người : thà người đó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24) của Đức Giêsu như một lời nguyền rủa, lên án, kết tội anh. Ở đây hình như nhấn mạnh sự đối kháng giữa hai chữ người : đằng sau anh là con người ta nói chung. Chữ khốn diễn tả thực trạng khốn cùng của anh, đồng thời cũng nói lên niềm đau đớn của Chúa Giêsu ; Người không nguyền rủa cũng không lên án anh. Cho nên câu thà người đó đừng sinh ra thì hơn cũng không thể hiểu như một lời quả quyết về số phận cuối cùng, sự trầm luân đời đời của anh ; đây chỉ là một cách lên án tội của anh, mức độ nghiêm trọng, ghê tởm của hành động phản bội ; nộp Con Người là một hành động hèn mạt đến nỗi kẻ phản bội không sinh ra thì hơn !
* Người ta nói vì anh Giuđa ham tiền “Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp : y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung” (Ga 12,6) nên anh đã bán đứng Thầy cho dân ngoại để họ giết Người. Một đoạn sách viết về anh : Hôm nay Giuđa đi đến quyết định nộp Thầy mình, để đổi lấy ba mươi đồng bạc, một món tiền không mấy lớn lao, vì như ta sẽ thấy, chỉ đủ mua một thửa ruộng bé nhỏ... Lúc sống với Chúa Giêsu, Giuđa không phải con người xấu xa. Có lẽ hắn giỏi che dấu lòng dạ và hắn đi dần đến tội một cách bí mật đến nỗi lúc Chúa Giêsu báo một kẻ sắp nộp Ngài, chẳng tông đồ nào ở bàn ăn đoán được là ai... có lẽ sa ngã vì dính vào tiền, mà tiền là phương thế nối dài cánh tay ta, giúp ta có uy quyền, có thế lực, từ đó ta không còn cậy dựa vào Thiên Chúa” (tr 278). Anh đã hợp đồng với giá là 30 quan tiền là giá một người nô lệ như Luật cũ đã định (Xh 21,32). Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa bị người ta bán rẻ...
* Có người nói anh hoạt động chính trị, anh muốn dồn Thầy mình vào chân tường để Thầy nổi dậy, lên ngôi, chiến đấu dành độc lập và thành một dân nước bá chủ thiên hạ. Anh đã chứng kiến nhìn tận mắt Thầy mình “ngon” lắm, bao nhiêu phép lạ, bao nhiêu chuyện thần kỳ... dễ như trở bàn tay, và coi những hạng Biệt phái, Luật sĩ như pha (nơ pa) ; khi họ muốn xô Thầy xuống vực thẳm, Thầy đã hiên ngang đi vào giữa họ thoát ra hoặc họ liền lượm đá để ném Thầy, nhưng Thầy lánh đi và ra khỏi Đền Thờ cái một.... Khi anh cố tình dồn Thầy để lòng Thầy sôi lên sùng sục mà vùng dậy và nếu có vào ngõ bí thì Thầy cũng chỉ cần giơ ngón tay trỏ ra là mọi chuyện sẽ đâu vào đó. Nhưng thật xui xẻo cho anh, nào ai học được chữ ngờ, bởi vì “Giờ của Thầy đã đến”... Thế là anh hối hận tuyệt vọng và treo cổ tự tử.
* Trên các bàn tiệc rượu các đám cưới ma chay, mấy ông ưa lý luận triết lý cùn hay bàn tán tranh luận về anh lên thiên đàng hay xuống địa ngục ? Nhóm "luật sư" bênh vực biện hộ cho anh vì anh đã có công, đã dẫn mối để cho quân dữ đến bắt Đức Giêsu và "chúng nó" đã giết Người, máu Người đã đổ ra để tẩy rửa tội lỗi nhân loại, con người được cứu chuộc và được lên thiên đàng nên chắc chắn thưởng anh lên... thiên đàng. Bên cánh tả thì ra sức phồng mang trợn mắt đả kích Giuđa, kẻ lừa thầy phản bạn, kẻ gian dối vì "nó" đã dùng cái hôn chỉ dành cho tình yêu để chỉ điểm Quân Dữ tóm cổ thầy và giết thầy. Nó phạm trọng tội đáng phạt xuống... hỏa ngục.
Thế đấy, anh Giuđa à, con người chúng ta thì hay háu táu đoán già đoán non, lại cứ muốn xía vào việc của Thiên Chúa. Và họ còn có ý bàn tán dậy bảo răn đe để giúp nhau sống tốt hơn, yêu mến Chúa hơn, chân thành hơn, yêu thương nhau hơn... Biết đâu đó nhờ chuyện "quàng xiên" của anh mà có người hoán cải. Thôi chào anh, tạm biệt, "bai".
Nhìn người lại gẫm đến ta...
* Tôi có phản bội không ? Không có Giuđa này thì sẽ có Giuđa khác. Chả lẽ trong suốt cuộc đời của tôi không có lần nào phản bội Ngài chăng ? Trong tình yêu thì tội phản bội làm tổn thương nhất, đau đớn vô cùng. Và tình yêu càng lớn lao bao nhiêu thì khi bị phản bội càng đau đớn bấy nhiêu. Sự phản bội chống đối ra mặt còn đỡ hơn thói sống dửng dưng teo khô chai lì thờ ơ lạnh nhạt... ra như cách sống bất cần của tôi càng không nên sinh ra thì hơn.
* Tôi vẫn bán rẻ Thiên Chúa của tôi, khi tôi coi trọng trần thế hơn Người. Thật đúng thế, trần gian sao mà vẫn cứ hấp dẫn hơn, nó cung cấp cho tôi đủ mọi tiện nghi, nó giải sầu cho tôi dù chỉ chốc lát tôi cũng cảm thấy vơi bớt được phần nào, nó màu mè tươi thắm mát mẻ dù chỉ bên ngoài cũng xoa dịu được phần nào nỗi niềm đam mê của tôi... Trong cuộc đời đã có những lần tôi bán rẻ Chúa, bán rẻ những người chung quanh tôi để tất cả được lợi cho tôi, cho cá nhân ích kỷ của tôi. Đúng là khốn cho người nào bán rẻ (nộp) Con Người.
* Tôi kết án anh Giuđa còn tôi chẳng thích kết án mình, bởi vì tôi có nhìn ra mình đâu mà kết án. Nếu có nhìn ra mình thì thấy cái gì cũng đẹp, cung hay, cũng ngon, cũng nhất... "Sao anh thấy các rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới ?" (Lc 641). Và như thế, chẳng bao giờ tôi dám hỏi : "Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?" (Mt 26,22).
- Lậy Chúa, qua cuộc khổ nạn của Chúa, con chẳng có quyền gì trách cứ và lên án ai, nhưng con nhận ra cách thức yêu thương vỗ về của Chúa trong cuộc đời lữ hành của con. Cách thức yêu thương của Ngài tức là Ngài khổ đau hơn con, Ngài tủi nhục hơn con vì thế cái đau của con chẳng thấm thía gì với cái đau của Ngài để rồi con được chìm lặng trong cái đau của con. Như vậy con có cần phải đề nghị cho Chúa một cách thức yêu thương nào hơn thế không ?
- Lậy Chúa, Ngài sinh ra trong máng lừa hoàn toàn tay trắng... ba năm đi rao giảng Ngài làm những phép la, chữa các bệnh tật xua trừ ma quỷ và làm cho người chết sống lại bao nhiêu người đã đặt kỳ vọng vào Ngài. Nhưng khi họ chứng giám cái chết của Ngài, bấy giờ họ mới vỡ lẽ ra... lại hoàn toàn trắng tay. Bài học khiêm nhường Ngài dạy con suốt đời mà con không thuộc. Con vẫn thích bon chen hơn, con vẫn thích thu vén lợi lộc hơn, con vẫn thích quyền cao chức trọng tác oai tác quái hơn... Và như thế con cần phải chiêm ngắm cuộc khổ nạn của Chúa mãi, suốt đời con.
Con trông cậy vào lòng xót thương của Chúa :
"Lậy Cha, xin tha cho họ (con) vì họ không biết việc họ (con) làm” (Lc 23,34)

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2009

Quãng Nam hay cãi,


                              Nói thiệt là, METRO của nhà thơ Thanh Thảo là 1 tác phẩm có giá trị. Xét trên nhiều phương diện. Những lời tâm huyết và thẳng thắn của nhà thơ về vấn đề thời sự văn học nghệ thuật, càng có giá trị hơn. Đánh đổ 1 cái tên thì dễ, nhưng đánh đổ 1 nhân cách là không thể. Tôi tin ở tấm lòng Thanh Thảo.
           Sao chưa thấy nhà thơ tuổi 30 nào nhận lời thách đấu của nhà thơ Thanh Thảo nhỉ? Những cây bút trẻ mà ông Inrasara và ông Nguyễn Trọng Tạo suốt ngày khen sùi bọt mép, đâu hết rồi?
            Tôi đã đọc trường ca Metro của ông Thanh Thảo, chẳng ra cái quái gì, nó vẫn như thơ Thanh Thảo xưa nay thôi. Đây là tác giả tên to hơn tài thực. Một loạt trường ca của Thanh Thảo chỉ được lác đác vài câu hay thôi, chứ chẳng có tác phẩm nào toàn bích. Ông Thảo nổi tiếng là nhờ sự đề cao của Chế Lan Viên trong chùm thơ hơn chục bài viết ở đường Chín năm 1974 in trong tạp chí Tác Phẩm Mới. Nhưng nhìn lại đời thơ Thanh Thảo thấy mỏng teo. Bây giờ ông lại thách đấu bằng một trường ca, mà thực sự là một mớ hổ lốn. Cái tác phẩm gọi là Trường ca này không hay, nhưng bảo nó thua Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái thì cũng không ổn. Thơ ông Thảo hay hơn thơ ông Thiều, còn ông Thái thì đã biết làm thơ đâu. Văn đàn mình bây giờ chán thật, thi sĩ ế ẩm đành phải lên đài gạ đấu võ. Bẽ bàng quá xá. Mà có thách đấu thế cũng chẳng ai thèm đếm xỉa. Đấy mới là điều buồn chán nhất của văn chương Việt. Chú Nhơn cố gắng đăng ý kiến tôi nhé. Tôi là bạn Chế Lan Viên, từng có thơ in từ năm 1956 và đã có thời bị nghi là nhân văn giai phẩm. Thời nào cũng có cái buồn. Chán thật.
             Trên đây là một số ý kiến trong blog của tác giả Lê Thiếu Nhơn (http://lethieunhon.com/read.php/3859.htm#entrymore)
           Nhân đọc:  Nhà thơ 63 tuổi thách đấu nhà thơ 36 tuổi viết được như Metro, và những tranh cải xung quanh sự việc nầy, bất giác nhớ lại câu thành ngử dân gian, (câu vè):
                                 Quảng Nam hay cãi,
                                 Quảng Ngãi hay co
                                  Bình Định hay lo
                                 Thừa Thiên ních (lấy) hết!
               Vì có một số thân hửu người Bình Định, nên tôi cố tìm hiểu kỹ hơn và bất ngờ tìm được câu chuyện nầy:
Ngày xuân nghĩ về quê hương

                Cách đây ít lâu, một chị bạn kể chuyện cô con gái của chị về thăm Việt Nam. Cháu qua Mỹ hồi còn bé, lớn lên, học hành, trưởng thành trong khung cảnh mới nơi xứ người, kỷ niệm về quê hương chỉ là những mảng nhớ mơ hồ. Cháu về thăm quê hương một tháng, trở về Mỹ ngẩn ngơ như người mất hồn suốt hai ba tháng. Cháu cứ hỏi tại sao đồng bào mình sống khổ đến như thế, và ngẩn ngơ tuyệt vọng vì biết chắc còn lâu, lâu lắm, những người thân ở Việt Nam mới thoát được căn bệnh khổ nghèo triền miên kéo dài hằng thế kỷ qua.

                 Tuy chưa có nhiều kinh nghiệm đời, cháu cũng nhận ra được thực tế căn bản của đời sống nơi quê nhà: những trù phú sang trọng giả tạo và bấp bênh ở thành thị, những thiếu thốn cơ cực không lối thoát ở nông thôn, sự bất công lộ liễu trong xã hội, chênh lệch khủng khiếp giữa người giàu và người nghèo, ...

              Thu hẹp thực trạng quê hương vào một vùng nhỏ, như Qui Nhơn-Bình Ðịnh, càng có nhiều chuyện đáng buồn hơn. Qui Nhơn như một thành phố chết. Hàng quán ế ẩm. Phố xá buồn hiu. Những người trẻ bỏ thành phố tìm đất sống nơi khác, lên cao nguyên hay là xuôi nam, bỏ thành phố thân yêu lại cho người già và những viên chức chính quyền. Người dân vẫn sống vất vả bằng hoa lợi trên đám ruộng đám vườn của mình như bao nhiêu thế hệ đã qua, ngoài những thiên tai hằng năm còn phải chịu đựng thêm cái nạn "giặc ban ngày".

               Tôi buồn ray rứt khi nghe những chuyện không vui về quê hương mình. Rồi tự hỏi: Vì sao lịch sử thăng trầm biến đổi không biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu chế độ, mà quê hương tôi cứ như một đứa con ngoại hôn của đất nước, hết đời này đến đời khác tiếp tục ở thế yếu về chính trị, đến nỗi câu ca dao "Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Ðịnh hay lo, Thừa Thiên ních hết" trở thành một điều hiển nhiên không có gì phải bàn cãi nữa? Tại sao nhân dáng, phong cách của người Bình Ðịnh luôn luôn có những nét hao hao giống nhau, không giống với người Quảng phía bắc và người Khánh Hòa phía nam?

               Tôi không tin những giải thích theo lối phong thủy, căn cứ vào thế sông thế núi để quyết đoán quê hương mình là nơi đắc địa, rồng ẩn hổ ngồi, không trước thì sau thế nào cũng xuất hiện "nhân kiệt". Những lập luận như vậy thoả mãn tự ái của địa phương, trong những lần họp hành chỉ có đồng hương với nhau thì nói để hả hê lòng dạ nhau, chứ đem ra ngoài ranh giới địa phương, không thuyết phục được ai. Người ở địa phương nào cũng giành phần "địa linh" về quê hương mình. Giành xong "địa linh", người địa phương nào cũng lục lọi hết sử sách để tìm cho ra những tai to mặt lớn từng sinh ra, lớn lên, hoặc do công vụ ghé qua chốn địa linh ấy, hào phóng thu nhận hết vào danh sách "nhân kiệt". Kết quả nơi nào cũng là địa linh. Nơi nào cũng đầy nhân kiệt mà ít ai đặt ngược câu hỏi: "Sao nhân kiệt địa linh nhiều quá mà nước vẫn nghèo, dân vẫn khổ?"

               Tôi không tin một đấng thiêng liêng tối cao nào đó định sẵn chỗ này là đất lành, chỗ kia là đất dữ, người vùng này gặp may, người vùng kia phải gánh hoạn nạn. Trên đất nước Việt Nam chúng ta, tính cách địa phương (như hình dáng, khuôn mặt, tiếng nói, tính tình...) từ vùng này sang vùng khác hiện ra rất rõ. Rõ đến nỗi có thể vạch bản đồ cá tính con người như là vạch bản đồ địa lý. 
              Chẳng hạn cái tính hiếu động, thích tranh luận của người Quảng (Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co) là nguyên nhân phát sinh đa số những nhà hoạt động chính trị văn hóa nổi tiếng gốc Quảng, từ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cho đến Phan Khôi, Nhất Linh, Hoàng Ðạo. Người Quảng ưa lý luận, dùng lý luận tranh cãi để thủ thắng. Người thành công trở thành những danh nhân chính trị. Người thất bại, thì thành nhà thơ. Những nhà thơ gốc Quảng, trong bản chất, là những người toan làm chính trị mà thất bại. Cho nên nhà thơ Quảng nào cũng có dáng dấp của Ðặng Dung. Bài thơ nào cũng phảng phất hình ảnh tráng sĩ mài kiếm chờ thời.

                 Người Quảng Nam, Quảng Ngãi có thể hãnh diện địa phương mình có nhiều nhân kiệt, và có bị người vùng khác ghen tị chất vấn, họ cũng trả lời dễ dàng. Họ không có mặc cảm gì khi bị gán cho những động từ như "cãi", "co", vì cả hai động từ ấy đều là biểu hiện của một sức sống chủ động, tự tín, lướt tới chiếm lĩnh hay ít ra cũng mạnh mẽ phản ứng để giữ đất của mình.

                Người Bình Ðịnh không có cái ưu thế nổi bật như bạn láng giềng xứ Quảng. Ca dao chê "Bình Ðịnh hay lo". Có nhiều cách giải thích về chữ "lo" này. Cách thứ nhất giải nghĩa "lo" là "lo âu", "lo lắng", "lo sợ", nói chung là trạng thái phấp phỏng trước một tương lai bất trắc, lành ít dữ nhiều, trong lúc khả năng tự vệ trước những hiểm nguy tai ương có thể bất ngờ ập đến thì không được bao nhiêu. Cách thứ hai căn cứ vào vế cuối "Thừa Thiên ních hết" của câu ca dao giải thích "lo" là "lo lót", dùng của hối lộ các quan (phần lớn là người kinh đô Huế được bổ nhậm vào) để được sống yên thân. Bằng cách giải thích nào chăng nữa, thân phận, hoàn cảnh của người Bình Ðịnh trong câu ca dao cũng không có gì sáng sủa. Trong khi người Quảng mạnh dạn tranh cãi, đôi co để giành phần thắng, người Bình Ðịnh chỉ biết thụ động ngồi chờ số phận hẩm hiu của mình, hoặc phải bỏ tiền của ra biếu xén hối lộ quan trên để được yên thân. Ðịa phương tính của Bình Ðịnh, nếu có một thứ địa phương tính, là sự nhẫn nhục chịu đựng của kẻ thất thế, là thói quen thu mình co cụm lại để thường xuyên phòng vệ, trước các thế lực lớn mạnh hơn mình.

        Người Bình Ðịnh "hay lo" từ lúc nào vậy?


                Dĩ nhiên không thể từ thời miền đất này còn mang tên phủ Tuy Viễn với dân số không đầy hai trăm ngàn người gồm một phần không nhỏ dân Chàm, người Thượng và người Việt (mà tổ tiên vốn là dân Nghệ An Thanh Hoá bị lưu đày vào miền đất heo hút này). Lúc đó, dân Tuy Viễn ngửng đầu lên mà đi, thách thức với thú dữ, rừng thiêng nước độc, thách thức với cường quyền. Nhờ thế mới có Tây Sơn. Nhờ thế mới có anh hùng Nguyễn Huệ cho cả nước chiêm ngưỡng cho đến ngày nay. Dân Tây Sơn, dân Tuy Viễn không lo lót cho ai để yên thân, và cũng không chịu ngồi bó tay để hồi hộp đón lấy tai họa.

                Phải chờ cho tới lúc Tuy Viễn đổi thành Bình Ðịnh, nghĩa là triều Tây Sơn đã đổ và nhà Nguyễn Gia Miêu lấy lại được giang sơn, bấy giờ dân Bình Ðịnh mới trở thành "ngụy dân", gia đình nào cũng có bà con thân thuộc dính dáng tới "ngụy triều", và bắt đầu hình thành một thứ nhân cách thụ động như ca dao đã nói. Là ngụy dân, tức là không được hưởng cái quyền làm dân bình thường. Muốn sống bình thường, phải che chắn để khỏi có lý lịch xấu theo tiêu chuẩn của tân triều. Phải thu mình lại, không dám khoe tài khoe của, tránh sự chú ý giòm ngó của quan trên, tránh gây óc đố kỵ ganh ghét của hàng xóm láng giềng. 
           Thái độ sống ấy là sự khôn ngoan của người nín thở qua sông. Khổ nỗi triều Nguyễn từ Vua Gia Long trở đi ngày càng trở thành thế lực cai trị chính thống, dân Tuy Viễn không có hy vọng gì lật ngược thế cờ, nên cách ứng xử khôn ngoan tưởng là nhất thời, cuối cùng trở thành một thói quen, rồi thành truyền thống, đời nọ chuyển cho đời kia. Khi những cuốn gia phả còn phải bỏ trống nhiều chi nhánh dính tới "ngụy Tây", hay con cháu nhiều đời sau còn thì thào sợ hãi khi nhắc tới tên một người lớp trước loại "bạn nghịch", thì dân Bình Ðịnh khó lòng dám mạnh miệng "co cãi" như dân Quảng. Họ luôn luôn ở thế thủ. 
             Như ngôn ngữ Bình Ðịnh, họ đều "thàng". "Thàng" không phải là hiền. "Thàng" là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc. Cho nên các quan lại đến cai trị dân Bình Ðịnh, nếu khôn ngoan, cũng phải luôn luôn ở thế phòng thủ. Vì dân Bình Ðịnh "hay lo" nhưng lại không thể quên cái thời bà con mình ngửng cao đầu mà đi, cái thời xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên. 
 Do đó, "lo" xong lại hay kiện tụng, khiến các sử quan nhà Nguyễn khi viết về tính khí dân Bình Ðịnh phải bực bội hạ bút viết những lời ác cảm.

           Mang bản lý lịch "ngụy dân" hàng thế kỷ, người Bình Ðịnh đã mất cơ hội thăng tiến trong chính trường đã đành, mà cả trong giáo dục, kinh tế. Cuộc sống không thể cất đầu lên khỏi cái "thường thường bậc trung", và cách ứng xử không ra ngoài chữ "thàng". Trong cuộc cạnh tranh để sinh tồn, cách ứng xử ấy gây ra nhiều bất lợi, cho nên thời nào, dưới chế độ nào, dân Bình Ðịnh cũng ở thế yếu về chính trị. Thời Pháp thuộc, miền Trung trực thuộc Nam triều, dân "ngụy" yếu đã đành. Chín năm kháng chiến thuộc liên khu V, vẫn yếu trước dân Quảng mạnh dạn không ngán co cãi. Thời Việt Nam Cộng hoà, dân Bình Ðịnh trở lại bị lý lịch xấu do chín năm kháng chiến, phải "lo" trước các cấp điều khiển từ Bắc di cư vào, từ Huế gửi vô.
             Sau 1975, Bình Ðịnh sát nhập với Quảng Ngãi để thành tỉnh Nghĩa Bình, để một lần nữa Bình bị Ngãi ăn hiếp. Bây giờ Nghĩa Bình tách đôi, Ngãi về Ngãi, Bình về Bình, tài nguyên giàu có thì Bình giữ được, nhưng cái thế chính trị thì Ngãi mang đi. Quảng Ngãi mạnh thế đến nỗi buộc các nhà đầu tư ngoại quốc phải bỏ tiền lập nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, một bãi cát trắng trơ trọi dưới nắng lửa, trong khi Qui Nhơn có bến tàu, có đường 19 mang hàng lên cao nguyên, có quốc lộ 1 thông thương nam bắc mà phải trở thành "phố cũ đìu hiu".

           Ðã dến lúc dân Bình Ðịnh cần phải cầm gương nhìn cho rõ mình, rõ cá tính địa phương của mình, xem chỗ nào tốt cần phát huy, chỗ nào xấu cần sửa chữa. Nhắc hoài đến "địa linh, nhân kiệt" không phải là thứ thuốc an thần hữu hiệu. Mà quê hương chúng ta cũng không cần những thuốc an thần, dù hữu hiệu hay giả mạo.



Nguyễn Mộng Giác
Bài sưu tầm.

HỌC BẠ CỦA GIÊSU

Cậu Giêsu, học sinh trường Nazaret, đem học bạ về nhà. Thật tình mà nói, kết quả không mấy tốt. Mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại. Nhưng điều gay do nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho ông Giu-se.
Người gửi: Trường Simêôn tại Nazaret
Ngưòi nhận: Ông Bà Giuse và Maria David
Nội dung: Học bạ của Giêsu
Toán học: Hầu như chẳng làm được bài toán nào, ngoại trừ nhân bánh và cá lên nhiều lần. Không biết làm toán cộng: cậu khẳng định rằng mình cộng với Cha thành một.
Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút viết đến lớp, đành phải viết trên cát.
Địa Lý: Không có khái niệm về phương hướng. Cậu khẳng định rằng chỉ có mỗi một con đường để về nhà Cha thôi.
Hóa Học: Không chịu làm các bài tập thí nghiệm gì cả, nhưng có lần Cậu đã làm cho nước hóa ra rượu nho khiến người ta cự nự nhau trong đám cưới.
Thể Dục: Thay vì học bơi như mọi người, lại ngang nhiên biểu diễn đi trên nước.
Văn Học: Khó có thể nói năng rõ ràng, nói gì cũng bằng dụ ngôn.
Vấn Đáp: Mới 12 tuổi mà Cậu đã đối đáp với các luật sĩ và kinh sư trong đền thờ khiến họ hết sức ngạc nhiên.
Kỷ Luật: Đã đánh mất mọi thứ đồ đạc, rồi tuyên bố xoành xoạch rằng mình chẳng có được một viên đá gối đầu!
Hạnh Kiểm: Có khuynh hướng thích giao du trò chuyện với kẻ lạ, bọn nghèo, hạ cấp và cánh phụ nữ trắc nết.
Vệ Sinh: Nhổ xuống đất hòa thành bùn rồi bôi lên mắt người ta tức thì họ được sáng mắt.
Sinh Vật: Dám quả quyết người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.
Thiên Văn: Là người duy nhất đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống.
Kinh Doanh: Những người được mướn từ sáng sớm cậu trả cho họ một quan tiền, và những người cậu mướn vào xế chiều cậu cũng trả một quan tiền. Chưa hết, bà góa bỏ một xu vào nhà thờ, cậu nói bà ta bỏ nhiều nhất.
Tâm Lý: Cậu nói đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.
Lịch Sử: Cậu sẽ xây Hội Thánh của Cậu, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi vì Cậu đã thắng thế gian.
Đọc xong học bạ, ông Giu-se tự nhủ rằng tình trạng này không được kéo dài thêm, mà cần phải có biện pháp cứng rắn: “Này, Giêsu, đã như vậy thì kỳ Phục Sinh này con đành phải vác thánh giá thôi!”

*************************************
Vậy Ngài đã bảo gì với Cha mình ?
Ối trời, Cha Giuse ơi, ngày xưa, con học hành khá hơn nhiều đó chứ! Thế mà giờ lũ trẻ cứ phiên phiến ra như thế! Con chỉ còn một viên đá gối đầu thật, nhưng đâu phải là con vứt đi các vật dụng, mà là con cho nhà hàng xóm đó chứ.
Khi Mẹ Maria may cho con áo mới mặc vào mùa xuân. Con thích lắm, nhưng sáng nay, con đi dạo chơi quanh làng, thấy cậu bé ở cuối xóm, mặc bộ quần áo rách bươm, con nghĩ đồ đạc của con còn nhiều, tốt hơn của bạn ấy, thế nên, về nhà, con gói ghém và tặng bạn ấy. Lần trước, đôi dép mới Cha cho con cũng thế. Cha thường dạy, chia sẻ như thế là rất tốt phải không Cha?
Con không bao giờ phân biệt kẻ nghèo, người giàu. Con thích giao tiếp với những người bị khinh bỉ, bỏ rơi.
Nhiều người nghĩ con là người điên, nhưng cha biết con rất tỉnh táo, phải không cha? Và cha vui vì điều đó. Cha luôn dạy con phải biết yêu thương mà.
Bây giờ con buồn ngủ rồi, chúc Cha ngủ ngon. Ngày mai, con sẽ nói tiếp cho các bạn ấy hiểu, con đã học hành như thế nào, cha nhỉ!

Mong rằng học bạ của mỗi người chúng ta, có những phần như vậy.

Sưu tầm

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

Những phẩm chất của nhà lãnh đạo



- Khả năng gây ảnh hưởng đến người khác.
- Khả năng khơi dậy sự tự tin.


- Tính kiên định
- Tính đáng tin cậy.
- Lòng chính trực.
- Một quá trình phấn đấu và thành công.
- Công bằng.
- Biết lắng nghe.
- Nhất quán.
- Quan tâm chân thành đến người khác.
- Bộc lộ sự tin tưởng vào tập thể.
- Đánh giá công trạng đúng người.
- Sát cánh bên tập thể.
- Cung cấp thông tin kịp thời cho tập thể.
Hầu hết những phẩm chất trên đều có thể học được hay rèn luyện được, ngoại trừ tính kiên định và quan tâm đến người xung quanh một cách chân thành.
Hai phẩm chất này là điều kiện tiên quyết của một nhà lãnh đạo.
Bạn ắt sẽ ngạc nhiên khi biết rằng một số phẩm chất khác như tính đáng tin cậy và tính chính trực có thể học được. Có lẽ bạn sẽ không tin điều này. Hơn nữa là ít có trường lớp nào dạy chúng ta "tính công bằng" và "tính nhất quán". Những phẩm chất này được xem như là tính cách của mỗi người, chẳng hạn như bạn được xem là người đáng tin cậy hoặc không đáng tin cậy.
Tuy nhiên chúng ta cần xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác. Thông thường, chỉ đến lúc ở vào một tình huống nào đó thì những phẩm chất trên mới bộc lộ ra. Rất nhiều người vẫn tỏ ra không tin rằng những "phẩm chất cá nhân" này có thể học được, hoặc rèn luyện được.
Học như thế nào?
A - Sự tin cậy Người đáng tin cậy là người mà người khác có thể tin tưởng được.
Họ là người mà lời nói và việc làm lúc nào cũng đi đôi với nhau. Một người lãnh đạo đáng tin cậy sẽ giữ đúng lời khi hứa khen thưởng cho tập thể, luôn ở cạnh nhân viên khi nhân viên cần.
Một người trở nên đáng tin cậy khi họ biết người khác kỳ vọng điều đó ở họ.
B - Chính trực: là sự trung thực và ngay thẳng, đó còn là sự tôn trọng những quy tắc đạo đức. Một người lãnh đạo chính trực là người không gian lận và luôn đi theo lý tưởng của họ. Nếu phải chọn ra một phẩm chất của người lãnh đạo mà mọi người quý trọng thì đó chính là tính chính trực.
Để được tập thể quý trọng, bạn cần phải trung thực với họ và cho họ thấy rằng bạn luôn quan tâm đến lý tưởng nào đó.
C - Công bằng: Để cư xử công bằng, bạn cần phải công tâm và không thiên vị trong cách cư xử với người khác.
Sự bất công luôn là nguyên nhân dẫn đến sự bất bình trong nội bộ. Khó mà có thể công vằng trong việc cư xử với tất cả mọi người.
Ít ai trong chúng ta lúc nào cũng công bằng. Điều mà người khác có thể mong đợi là bạn sẽ cố gắng để cư xử một cách công bằng nhất.
D - Tính nhất quán: Ở một khía cạnh nào đó, tính nhất quán rất gần với tính chính trực. Điều này có nghĩa là không dao động, không thay đổi, giữ vững lập trường của bạn trước mọi hoàn cảnh.
Ở góc độ quản lý, tính nhất quán liên quan chặt chẽ với việc ra quyết định. Một người có khuynh hướng hay dao động trước những quan điểm và ý kiến khác nhau thì khó có thể học cách trở nên nhất quán được.
Ra quyết định là quá trình:
1. Xác định vấn đề.
2. Thu thập thông tin.
3. Đưa ra các giải pháp.
4. Chọn giải pháp tối ưu.
5. Thực thi quyết định
6. Đánh giá kết quả.
Những người không nhất quán thường tỏ ra lúng túng ở bước 4 và 5. Thông thường là do họ đã không dành đủ thời gian và nỗ lực cho bước 1 và 2.
Để có thể nhất quán khi ra quyết định, bạn cần phải nắm thật rõ vấn đề, thu thập thông tin và ý kiến trước khi ra quyết định.
Nói tóm lại, chúng ta đã xác định được một số phẩm chất của một người lãnh đạo, và chỉ ra được rằng chúng ta có thể học hoặc rèn luyện được tất cả hay gần như tất cả những phẩm chất này.
(Dựa theo Business Edge)

TÂM HUYẾT VÀ DŨNG KHÍ


Chẳng vui gì khi nói lời tâm huyết mà phải đủ dũng khí – nói điều vì lẽ phải mà phải đắn đo, đó là một thứ tư duy nghèo nàn! Và, nghe lời vì lẽ phải ấy lại nóng đầu, lại nghĩ rằng mình bị xỏ xiên... đó là một thứ thói thường rất... tầm thươ ng! Nói lời tâm huyết không cần bản lĩnh, miễn thấy sao, nghĩ sao nói vậy một cách trung thực, còn nghe lời tâm huyết thì cần bản lĩnh. Và cái bản lĩnh đầu tiên: không độc đoán, không tự cho mình là cách mạng mà chẳng chia sẻ cho người khác lòng yêu chế độ, yêu nước, không đồng hóa chân lý với cương vị mà mình đang giữ.Mong tài nguyên quốc gia không bị phí phạm...
 Trích câu nói của : quên mât rôi

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2009

PHÓ THỦ TƯỚNG LỠ MIỆNG


          Là lỡ miệng nói… dối, chứ không phải lỡ miệng nói thật như ông Trần Đình Đàn  (Bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội).

          Thật tình, tôi không dám tin những lời nói đó là của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Hai ngày qua, tôi đã cố ngóng chờ một lời cải chính từ báo chí rằng đó là do các tòa báo dẫn sai lời ông. Hoặc một câu “nói lại” từ chính Phó Thủ tướng rằng đó chỉ là do cách diễn đạt của ông nó luẩn quẩn, rối rắm khiến người nghe hiểu sai, hay chỉ bởi ông lỡ miệng nói sai mà thôi.
          Và rồi tôi thất vọng. Thất vọng khi hiểu ra báo chí dẫn đúng lời ông, không sai một dấu phẩy.
          Hãy nghe lại lời Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng: “Cho đến lúc này, dư luận trong nước cũng như trên thế giới, kể cả những người khó tính, còn ai nói đến vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên nữa. Điều đó cho thấy, khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”. (theo VietNamnet)
          Có thể, Phó Thủ tướng không nghe thấy ai nói thật. Hoặc có nghe nhưng ông lỡ miệng… nói dối!
          Tôi không tin Phó Thủ tướng lại nói dối, nhưng tôi cũng không tin ông lại không biết, không nghe được những ý kiến phản đối chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, sự phản đối đã trở nên như một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử. Sự phản đối đồng loạt, rầm rộ, cuốn hút, quyết liệt, căng thẳng đến mức buộc Quốc hội và Bộ Chính trị phải có ý kiến “lắng nghe, tiếp thu”…
          Chỉ riêng trang mạng Bauxite Việt Nam, đã có 2.751 chữ ký phản đối của trí thức trong và ngoài nước (tính đến 11 giờ trưa ngày 7-9-2009). Chẳng lẽ Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng không biết, không nghe thấy những tiếng nói phản đối của hàng nghìn trí thức kia? Và hàng nghìn ý kiến khác từ các nhà khoa học, văn hóa, các bậc công thần và tướng lĩnh cao cấp. Chẳng lẽ Phó Thủ tướng cũng không biết và không nghe thấy ý kiến phản đối của đại tướng Võ Nguyên Giáp qua 3 bức thư can gián gửi Ban Chấp hành Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ?
          Tôi không ký vào bản kiến nghị của Bauxite Việt Nam, nhưng không phải là tôi đồng tình với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên. Có thể người ta không nói, nhưng không phải không nói tức là họ đồng tình với anh. Có khi là do người ta nản chí, không còn tin vào anh nữa nên mới không thèm nói!
          Vì thế, bảo việc khai thác bauxite Tây Nguyên đến nay không còn ai nói nữa, đang gặp thuận lợi, tức là anh đang nói dối, là phủ nhận, là không thèm lắng nghe và hắt gáo nước lạnh vào 3 bức tâm thư của ông Võ đại tướng cùng hàng nghìn trí thức đang còn nhiệt huyết góp ý cho Chính phủ.
          Tôi rất ngạc nhiên, ngạc nhiên đến sững sờ trước phát biểu của ông Trọng. Chẳng lẽ đó lại là phát biểu của một… Phó Thủ tướng?
          Một chính phủ mà chỉ thấy được thuận lợi, không nhìn ra khó khăn trước những chủ trương, quyết sách của mình, thì đó là một chính phủ… ngủ gật! Và tất nhiên khi đó cái chủ trương, quyết sách kia khó có thể thành công!
http://truongduynhat.wordpress.com

PHẠM LƯU VŨ - Thu Nguyệt và triết lý...



Tập thơ bìa cứng, trang nhã một màu vàng nâu, mới nhìn tưởng như một mảnh... ván ép. Trong ruột tuyền một loại giấy dày, trình bày giản dị, thậm chí cố làm như cẩu thả, sơ sài. Tên tập thơ, hai chữ: “Theo mùa” chân phương, viết tay như thể bằng bút chì, ngay dưới bức tranh thiếu nhi thu nhỏ như cũng được nguệch ngoạc bằng bút chì.

Bức tranh của một cô bé tám tuổi cực kì ấn tượng. Tất nhiên không thể thiếu mấy chữ: “thơ thu nguyệt”(không viết hoa) nhỏ li ti nhìn tinh mới thấy, lại chia thành từng chữ cái mà trình bày theo hàng dọc, nom như bóng của một... cây tăm.


Thế mà bên trong lại chẳng “tăm” tí nào. Tôi phải lấy ngay câu hay nhất, trong một bài thơ vào loại tuyệt bút của tập thơ làm “tít” cho bài viết này. Câu: “Cả đời làm một cuộc rơi không thành”. Bài thơ có tên: lá giả. Nguyên văn như sau:


Sống dai hơn lá ngoài trời
Cả đời làm một cuộc rơi không thành


Gió đùa không biết rung rinh
Nắng mưa không thấm, trơ mình mà xanh
Giọt sương cũng giả long lanh
Hình như chỉ bụi đeo quanh thiệt lòng!!!


Bạn đã thấy hồn vía của lục bát chưa? Nhuyễn đến mức làm người ta quên rằng mình đang đọc một bài... lục bát. Nhưng trên hết là cái tư tưởng xuất thần của tứ thơ. Té ra con người làm ra những chiếc lá giả (bằng ni lon, bằng vải...) chẳng qua là một cách mô phỏng chính... cái kiếp người. Phật dạy kiếp trần tục chỉ là tạm bợ, là giả. Thì có khác gì chiếc lá bằng nilon, bằng vải... ấy. Tất cả đều là giả hết. Giả từ màu xanh cho đến sự long lanh... Nhưng mà cái thứ bám vào là bụi, bụi đời kia thì... có thật. Bài thơ ngắn, nhẹ nhàng mà thấm thía. Câu: “Cả đời làm một cuộc rơi không thành” có thể ám ảnh bất cứ người nào (chẳng may) đọc phải.


Cần phải nói rằng trong “phong trào” mới mẻ, cách tân, phá phách... thi ca, chữ nghĩa, văn chương sôi sục, lục bục như một nồi cháo khê vĩ đại hiện nay, Thu Nguyệtlà một nhà thơ trẻ vẫn bình tĩnh giữ cho mình một giọng điệu truyền thống. Có vẻ như nữ sĩ này cho rằng hình thức, giọng điệu không quan trọng. Quan trọng là có cái gì ở trong “thơ” hay không. Không chọn trước giọng điệu, tôi biết có nhiều người làm thơ như thế. Cứ mặc cho cảm xúc nó “hạ” ta xuống “con đường” nào, ừ thì đi theo “con đường” đó. Mọi “con đường” đều dẫn tới... thi ca! Một tập thơ gồm bốn mươi tám bài, có đến ba phần tư (ba mươi sáu bài) viết dưới thể lục bát. Vậy mà đọc vẫn không nhàm. Bài theo mùa mở đầu tập thơ, chính là nói đến cái “tâm” ấy của nhà thơ. Một thứ “tuyên ngôn” giản dị của một tâm hồn nữ sĩ:


Lòng người chẳng hạ chẳng đông
Lòng ta hạt nhớ đem trồng đất quên


Cây đời ta mọc mình ên
Ngả nghiêng rồi cũng làm nên bóng tròn
Lẽ thường nắng tắt mưa tuôn
Ta không có bóng vẫn còn có ta
Không cần trái, chẳng cần hoa
Xanh xanh vài chiếc lá là có cây


Lộc non chăm chút tháng ngày
Vậy rồi...
ta thả lá bay theo mùa.


Bạn cứ đọc tiếp tập thơ đi, rồi bạn sẽ tin rằng Thu Nguyệt đạt tới cái “nhẽ” của một nỗi lòng tâm thế. Những bài thơ, những câu thơ không còn mang “giới tính” của người đã sáng tạo ra nó. Đây là điều khác biệt hẳn đối với đa số các nữ thi sĩ ở xứ ta hiện nay. Thơ của các “nàng” đọc một bài, thậm chí một câu cũng biết ngay đó là của một nhà thơ nữ. Nếu không xưng “em”, thì cũng có gì đó điệu đàng như được phớt qua son phấn, thậm chí có “nàng” còn không ngần ngại lôi cả “của quý” của mình vào thơ. Thơ Thu Nguyệt hoàn toàn không giống như thế. Cả tập thơ chỉ hai ba bài có chữ “em” thì hình như lại để ở ngôi... thứ hai. Ngôi thứ nhất trong mấy bài ấy vẫn là chữ: “Ta”. Cứ như thơ của một chàng trai tặng cho người tình của mình vậy. Ví dụ bài gió tan:


Luôn vòng tránh nẻo bình yên
Tình yêu, ngọn gió luôn quên bầu trời
Biết lòng gió chỉ vậy thôi
Mênh mông em vẫn bầu trời đa đoan


Vẫn thừa một ánh trăng sang
Vẫn dư một mặt trời khan ngắm mình
Rối ren ngàn ánh sao xinh
Lung tung hàng triệu thứ tình không đâu


Ta tìm hoài gió trong nhau
Gió tan lại miệt mài đau suốt đời
Ta quên có một bầu trời
Bên ngoài ngọn gió có rồi lại tan...


Kể ra bài này vẫn có chút gì lý sự, làm dáng chữ nghĩa, phảng phất một giọng thơ học trò. Cái gì mà “ánh trăng sang”? rồi lại “ánh sao xinh”?... Nhưng đến mấy câu trong bài ngoái sau đây thì các bậc mày râu thi tửu xưa nay chắc cũng viết đến thế là cùng:
...


Kẻ ngông bày ra rượu
Người trí bày ra trà
Ta không ngông không trí
Trà rượu đều chán ta.
...


Đã tâm thế thì không thể không triết lý. Con người trôi theo dòng chảy cuồn cuộn của cuộc đời thật khó mà nhận ra một cái gì đó của riêng mình. Thu Nguyệt viết về cái triết lý ấy rất giản dị mà rõ ràng. Bài thơ có tên: miền không bay:


Ta là cái kiếp thiên di
Nương theo lực hút mà đi theo đàn
Thuận theo thời tiết mùa màng
Một chiều trở chứng rẽ ngang thình lình


Xứ xa đứng hót một mình
Thấy hoàng hôn giống bình minh lạ lùng


Quay về lực hút đàn chung
Phận non thì phải bay cùng thế thôi
Lâu lâu làm chuyện ngược đời
Tách đàn ra đứng khơi khơi...
lại vào!


Lạc đàn ta chẳng muốn đâu
Mà sao thỉnh thoảng cứ nhào ra riêng


Gió lùa theo hướng chữ DUYÊN
Ta bay chung để đến miền không bay.


Tôi có thói quen đọc thơ khác với đọc tiểu thuyết. Tiểu thuyết thì phải đọc lần lượt từ trang đầu đến trang cuối, hết tập nọ rồi mới đến tập kia. Thơ thì không cần phải như thế, thậm chí không nên như thế. Một tập thơ có thể đọc bắt đầu bằng bất cứ trang nào, bất cứ bài nào, thậm chí câu nào. Mở ra rồi gấp lại. Gấp lại lại mở ra... Cái kiểu đọc ấy rất thú, nó không làm ta nhàm chán đã đành, lại rất dễ “tóm” được những câu thơ hay. Chẳng hạn:


Biển ngàn năm vẫn mênh mông
Ta vài năm đã nghe lòng cạn khô. - Bài cạn trang 18


Hoặc:

Núi rừng cứ đẹp trơ trơ
Làm cho ta bỗng nghi ngờ chính ta... - Bài mỏi mòn trang 27


Hay là:


Gió nương mái cũ đi nhờ
Hiên nhà dấu nước vẫn chờ giọt mưa. - Bài vẫn y trang 25


Đến những câu như thế này thì thật thích:


Hình như núi sững sựng buồn
Mây bay trần tục như luồng khói xe. - Bài mốt trang 13
...


Tập thơ còn có hai bài lục bát, hiện đại bởi dùng ngay những thuật ngữ vi tính, biến ngôn ngữ trên bàn phím, trên màn hình máy vi tính thành ngôn ngữ thơ rất khéo, rất tài hoa. Bài keyboard thơ:


Ta cầm tinh tuổi con mèo
Vừa đì lít (delete) đã vội seo (save) nỗi buồn


Việc đời nửa nắm nửa buông
En tơ (enter) vừa mất, cuống cuồng ân đu (undo)
Cắt dán (cut paste) dữ liệu lu bu
Phai (file) tình, phai nghĩa... không lưu cũng đầy!
Muốn được an (alt) cũng bó tay
Đời như kiếp chuột (mouse) cứ xoay vòng vòng...”


Bài không cần password:

“Ta mong mở cổng niềm vui
Mà không biết password đời đặt ra...”
Tôi cũng đã từng đọc tạp văn của nữ thi sĩ này. Một giọng Nam Bộ rất chi là tự nhiên, máu thịt. Thơ của chị cũng thế. Có những câu thơ tỏ ra hơi dễ dãi, nhưng vì âm hưởng vùng quê của nó mà vẫn không nỡ trách:


Cái trò tát nước đầu đình
Bỏ quên áo xống linh tinh mắc cười... - Bài chỉ một chữ HƯ


Đến cái tên bài thơ đôi khi cũng giản dị như một câu nói miệt vườn. Bài vậy cũng ngon rồi:


Cám ơn chiếc dép người kê
Cho ta ngồi giữa bốn bề cỏ hoa
Bàn chân nhấm dấu đường xa
Dép mòn sát đất có mà như không!

Dẫu sao còn một chút lòng
Cho nhau tựa giữa mênh mông cuộc đời.
Đâu cần dép phải đủ đôi
Chỉ cần một chiếc kê ngồi cũng ngon!
Chỗ ngồi này hẳn là ngồi thiền, không thì cũng ngồi bên cạnh chùa. Thiền thì không thể có đôi. Ngồi bên chùa thì chớ ngại lẻ loi. Tập thơ còn có mấy bài viết về thiền, về chùa song chưa có ấn tượng mấy. Chắc tại hồn vía thơ của những vị đại sư kiêm thi sĩ như Mãn Giác thiền sư, Trần Nhân Tông... vẫn còn văng vẳng đâu đây chăng? PHẠM LƯU VŨ